Phong trào vượt biên
Tôi không biết trước giờ giải phóng, từ Bến Hải trở vào, trong số trên 20 triệu dân có bao nhiêu người vội vã di cư để trốn cộng sản… Người nào cũng có tâm trạng não nề: bỏ quê cha đất tổ, bỏ thân thích bạn bè, bỏ cả sản nghiệp… để qua nước người ăn nhờ ở đậu, làm thứ công dân “da màu”, một thứ công dân hạng hai, và bắt đầu xây dựng lại từ đầu; như vậy ai mà vui cho được? Những người đi đó hoặc là quân nhân, công chức trong các chính phủ trước, hoặc đã có thời sống với cộng sản ở Bắc, sợ chế độ ngoài đó, đã di cư một lần nay lại di cư lần thứ hai. Những người ở lại, xét chung, đều sẵn sàng chấp nhận chế độ mới, dù chưa biết rõ nó ra sao; một số đông còn hăng hái tiếp tay với chính quyền mới để xây dựng một xã hội tốt đẹp cho tương lai nữa.
Nhưng chẳng bao lâu nhiều người thất vọng, qua năm 1976, đã có lác đác một số thanh niên vượt biên… Từ năm 1977 người ta dùng đường biển, phong trào vượt biên phát triển rất mạnh tới mức một bà già nông dân miền Tây phải nói: “ Cây cột đèn nếu đi được thì cũng đi”. Dù phải gian lao cực khổ tới mức nào, hễ ra khỏi được nước là sướng rồi, làm mồi cho cá mập vẫn còn hơn ờ lại trong nước mà chết dần chết mòn, người ta nghĩ vậy…
Có ba cách vượt biên. Cách chính thức, sướng nhất là có người thân, cha mẹ, vợ chồng hay con cái ở ngoại quốc xin cho được đoàn tụ gia đình…. Cách bán chính thức, theo nguyên tắc, cho người Việt gốc Hoa, nhưng người gốc Việt mà muốn thành gốc Hoa thì cũng không khó. Có tiền là được hết… Cách thứ ba lá đi chui, nghĩa là đi lậu. Một người đứng ra tổ chức… đút lót cho công an, chính quyền ở làng có bãi biển, đút lút cả cho công an vài nơi chung quanh để người vượt biên khỏi bị xét hỏi, thuyền yên ổn được rời bến ban đêm. Công an những nơi có bãi biển đó nhờ vậy làm giàu rất mau, có kẻ chỉ một hai năm được vài chục lượng vàng và ôm vàng vượt biên. Do đó mà trong dân gian xuất hiện một truyện tiếu lâm dưới đây.
“Môt hôm nọ, người canh Lăng Bác Hồ bỗng thấy xác ướp của bác biến đâu mất, hoảng hốt đi tìm khắp nơi, tìm ở nhà sàn của Bác không thấy, vế quê hương Bác ở Nghệ An cũng không thấy, nghi rằng bác vào chơi thành phố của Bác, liền vào Sài Gòn kiếm, sau cùng một đêm, thấy bác ngồi một mình, rầu rĩ ở bến Sáu Kho, Thành phố Hồ Chí Minh, hỏi bác, sao lại ra ngồi đấy, Bác đáp: “Bác không muốn ở nước này nữa, muốn qua phương Tây đây, mà tụi công an đòi Bác sáu cây, Bác có cây đâu mà nộp cho chúng”.
Thường là thoát được, ít khi gặp tàu tuần; nhưng nhiều khi gặp bão, thuyền chìm, làm mồi cho cá mập’ hoặc gặp bọn cướp biển Thái Lan… Mặc dầu nguy hiểm như vậy, người ta vẫn không sợ, thua keo này bày keo khác. Có người lần thứ tư mới thoát, lại có người lần thứ 10 vẫn chưa thoát, mà sản nghiệp tiêu tán hết, không biết sống bằng gì…
Từ cuối 1979 thêm một cách vượt biên nữa bằng đường bộ, ngã Cao Miên… Cũng nguy hiểm như vượt biển.
Những người bất kể gian lao rời nước, những Việt kiều mà trước đó bị chửi là phản nước và sau đó lại được tung bê là “khúc ruột ngàn dặm”, đã giúp dân miền Nam can qua đời sống khó khăn lúc đó như thế nào:
Người nào vượt biên được một nước nào tiếp thu rồi, được trợ cấp hay kiếm được việc làm rồi, cũng gởi ngay về cho thân nhân một gói thực phẩm, thuốc uống, quần áo… bán được một hai ngàn đồng. Họ làm lụng cực khổ, (rửa chén trong quán ăn…) nhịn hút thuốc để giúp gia đình vì biết rằng người ở lại thiếu thốn gấp mười họ. Chính nhờ họ mà nhiều gia đình miền Nam mới sống nổi, nhờ họ một phần mà dân miền Nam có thuốc tây để uống, có vải may quần áo, không đến nỗi rách rưới quá. Trong hoạn nạn tình cha mẹ, con cái, vợ ơhồng lúc này lại đằm thắm hơn xưa. Cái rủi thành cái may.
Về vật chất họ được đầy đủ, nhưng về tinh thần họ rất đau khổ. Nhờ bà con họ hàng, nhớ quê hương xứ sở, nhớ day dứt, gia diết. Họ khóc thương thân phận anh hay em ở trong các trại cải tạo mỗi bữa chỉ được nắm bo bo; thân phận cha mẹ chú bác phải đẩy chiếc xe bán củi, bán chuối dưới mưa, dưới nắng, đau ốm không có thuốc uống; thân phận con cháu quanh năm không được một li sữa, một cục đường… Có những thiếu phụ thay đổi hẳn tính tình: ở nước nhà thì thích trang điểm, dạo phố, họp bạn; qua nước người thì suốt ngày ở trong phòng lau chùi, quét tước, nấu ăn cho chồng con, không chịu ra đường, chồng con lôi kéo cũng không đi; một ngày kia họ sẽ loạn tinh thần mất. Khổ nhất là những bà 50-60 tuổi, không biết ngoại ngữ, không sao thích ứng được với đời sống Tây phương, mới xa quê được một năm đã đòi về, ngày nào cũng ngóng tin nhà, và được thư thì đọc đi đọc lại tới thuộc lòng. Ngày đêm họ quay băng “Sài Gòn ơi, li biệt” của Thanh Thuý, băng “Ta chẳng lẽ suốt đời lưu vong” của Phạm Duy mà khóc mướt. Giọng ảo não không kém bài hát dân tộc Do thái khi bị đày ở Babylon hồi xưa…
Thân phận của những người miền Nam ở lại:
Trong số những người ở lại, đáng thương nhất là những cặp vợ chồng già không có con cái, bị chính phủ chặn lương hưu trí, ráng sống lây lất vài năm bán hết đồ đạc để ăn rồi tự tử.
Rồi tới những người sản nghiệp tiêu tan vì đi kinh tế mới hoặc vì vượt biên mấy lần mà thất bại, sống cầu bơ cầu bất ở vỉa hè các thành phố lớn nhỏ như bọn ăn mày.
Rồi những cô giáo, cô kí chồng đi cải tạo 5 năm đằng đẵng, ở nhà xoay xở đủ cách, làm việc đêm ngày, nhịn ăn nhịn mặc để nuôi bốn năm đứa con, vài tháng lại tiếp tế cho chồng một lần. Họ vì hoàn cảnh mà hoá đảm đang, tư cách lại cao lên, không chịu nhận sự giúp đỡ của họ hàng, bạn bè.
Rồi những thiếu nữ học hết đại học Sư phạm hay Luật mà không muốn làm công nhân viên vì lương thấp quá, kiếm một cái sạp nhỏ nửa thước vuông bán thuốc rời hay quần áo cũ, thuốc tây ở lề đường, vất vả nhưng kiếm được 10-15 đồng mỗi ngày, đủ cơm cháo cho cha mẹ và em. Họ lễ phép, chăm chỉ, dễ thương.
Tất cả những người đó và còn nhiều hạng người khác nữa đáng tự hào là nguỵ. Nguỵ mà như vậy còn đáng quí gấp trăm bọn tự xưng là “cách mạng” mà tư cách đê tiện.
Cái chữ “nguỵ” ngày nay đã ít dùng rồi. Những người chính thức là nguỵ thì đã hoà đồng với đời sống mới, không còn mang tiếng nữa. Chữ “nguỵ” bây giờ được thay thế bằng chữ “phản động”, được áp dụng cho tất cả những ai có tư tưởng, hành động không có lợi cho nhà nước cộng sản Việt Nam. Còn tư cách đê tiện của “bọn tự xưng là cách mạng” thì ngày nay vẫn còn, mà lại tệ hại hơn trước nhiều; nó được thể hiện qua những vụ tham nhũng, cướp bóc của dân, và mua bán chức quyền với nhau. Chính bọn này, với tư cách đê tiện cố hữu của chúng, không nhiều thì ít, là cha đẻ của bọn “tư bản đỏ” và bọn “thẻ-đỏ-tim-đen” bây giờ.
Ông kết thúc đoạn này bằng một câu rất cảm khái:
Có ai chép Ba đào kí cho thời đại này không nhỉ? Trong tập kí đó dày ít gì cũng vài ngàn trang, truyện buồn rất nhiều mà truyện vui cũng không thiếu, truyện nào cũng cảm động, đánh dấu một thời và làm bài học cho đời sau được.
Người ta đã nhận định sai
Tôi xin ghi lại đây gần như trọn vẹn đoạn này của ông:
Vậy dù có lạc quan tới mấy cũng phải nhận rằng công việc xã hội hoá miền Nam này tới nay đã thất bại. Chỉ mới dựng được cái sườn thôi mà đã có nhiều dấu hiệu tỏ rằng sườn đó đã nghiêng ngả: rất nhiều cán bộ đã hủ hoá, hùng hục làm giàu bằng mọi cách, thành một bọn tư sản rồi, tinh thần quân đội đã sa sút, hợp tác xã nông nghiệp đã thất bại, chính sách kinh tế mới phải bãi bỏ; một vài địa phương đã rụt rè lập lại chế độ tư bản…
Ngành nào cũng kẹt, kẹt cứng, chính quyền không biết xoay xở ra sao, vá chỗ này thì toạc chỗ khác, càng dùng những biện pháp nhất thời thì càng lúng túng. Ngay các các bộ trung kiên cũng phải nhận rằng tình hình mấy năm sắp tới còn nguy kịch hơn… Thật bi đát.
Chỉ tại người ta đã tính lầm. Thắng được Mĩ rồi, người ta tin rằng sẽ làm bá chủ bán đảo Đông dương, không nhận định được đúng tình hình thế giới.
Người ta nhận định sai tài năng, đạo đức, tinh thần hi sinh của cán bộ, tưởng rằng cao lắm và có thể dễ dành kiến thiết miền Nam thành một xã hội xã hội chủ nghĩa, không ngờ cán bộ tuy rất đông mà rất kém cỏi về mọi mặt, mà tối đại đa số không ưa xã hội chủ nghĩa, thích đời sống miền Nam hơn.
Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hoá; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc…; cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm [Một thím làm tổ phó lo về đời sống, được công an phường gọi đi học tập. Mới hết buổi đầu, thấy công an chỉ dạy cách dò xét, tố cáo đồng bào (ăn uống ra sao, chỉ trích chính phủ không, khách khứa là hạng người nào…), thím ta xin thôi liền, về nói với bạn: “Tôi không làm công việc thất đức đó được”. Lớp học đó bỏ luôn] chứ đừng nói người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là nguỵ hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là nguỵ với nhau mà!
Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai; lớp dạy chính trị cho dân chúng mỗi ngày một vắng, hiện nay cả năm không họp một lần.
Một thất bại nặng nề của cách giáo hoá đó là báo Nhân dân không ai đọc, người ta mua về để bán “ve chai”, ngay cả bộ Lénine toàn tập cũng vậy.
Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là vói nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?
Chương XXXII – Ta phải biết sống theo ta
Một cuộc đàm thoại – Bài học của cổ nhân
Phần này ông kể lại một cuộc nói chuyện với một bác sĩ trong nhóm cán bộ trẻ miền Nam (trong đó có nhiều người nằm vùng trước năm 1975), hỏi ông các tư tưởng của những triết gia Trung Hoa có thể còn được áp dụng vào thực trạng Việt Nam không. Ông đáp: “Vẫn còn nhiều điều dùng được”, rồi ông đưa ra những thí dụ sau, mục đích là để “ôn cố nhi tri tân”:
Khổng Tử trong thiên “Tiên tiến”, bài 24 (Luận ngữ) đã cảnh cáo chúng ta rồi. Tử Lộ, học trò của ông, làm gia thần họ Quí, tiến cử Tể Cao làm quan tể đất Phí. Khổng Tử trách: “Như vậy là làm hại con người ta” (vì Tử Cao chưa được học bao nhiêu). Tử Lộ đáp: “Làm chức tể thì có nhân dân để trị, có thần xã tắc (đất đai, mùa màng) để thờ (thế là học), hà tất phải học sách rồi mới gọi là có học?” Khổng Tử mắng: “Vì thế mà ta ghét những lời lợi khẩu” (cưỡng lí để tự biện hộ).
Ý của ông là:
… mấy năm nay đại đa số các thí thức Bắc, Nam, già trẻ mà tôi được gặp thường phàn nàn về chính sách “hồng hơn chuyên” của chính phủ. Đảng coi trọng những cán bộ có tư tưởng cách mạng, có công lao với cách mạng hơn những chuyên viên, dù những cán bộ đó không có học thì cũng chỉ huy những chuyên viên hiểu biết về ngành gấp mười họ. Ta thấy nhiều trường hợp ông chánh chỉ có tiểu học ra lệnh cho ông phó có bằng phó tiến sĩ, xen vào công việc chuyên môn của ông phó, nhất là lại có thái độ kì thị ông phó, vì biết rằng ông phó giỏi hơn mình, rồi do tự ti mặc cảm mà sinh ra hống hách, ngăn cản công việc của ông phó. Chính sách đó có hại cho việc kiến thiết; chính vì nó mà hầu hết các chuyên viên ở Nam rất có khả năng, rất có nhiệt tâm phục vụ mà không được chính quyền dùng; một số ít được dùng thì lại bị chèn ép…
Một bài học tương tự trong Kinh Dịch:
Kinh Dịch, quẻ Sư, hào 6 cũng đã khuyên ta khi chiến thắng rồi, luận công mà khen thưởng thì kẻ ít học, dân thường tuy có tài chiến đấu, lập được công, cũng chỉ nên thưởng tiền bạc thôi, không nên phong đất cho để cai trị, vì công việc kiến thiết quốc gia phải là người có tài, có đức mới gánh nổi… Ở nước ta ngày nay, chính quyền có cương quyết thay hết các ông hồng mà không chuyên đi thì lấy người đâu để làm việc, và cái phe hồng mà không chuyên đó, bị mất quyền lợi, tất cấu kết nhau, đâu để yên cho chính quyền. Cái hại đó, tôi e rằng một thế hệ nữa chưa hết được.
À, cái quẻ này thật là “phản động”. Nếu cứ nghe theo đó thì quyền lợi của đảng viên và tương lai đảng công sản sẽ tiêu ma đi mất làm sao? Đâu còn là cá mè một lứa, cùng chia nhau hưởng quyền, hưởng lợi nữa? Đúng là tự sát! Dĩ nhiên là cộng sản vô thần đời nào tin vào cái quẻ vớ vẩn như vậy. Đã thế, sau khi thống nhất Nam, Bắc, đảng còn tương thêm Điều 4 vào Hiến pháp Việt Nam, áp đặt chế độ độc quyền cai trị trên toàn nước. Cho vững.
Một thí dụ nữa cũng trong Kinh Dịch:
Chính vì không phân biệt chính sách thời bình và thời chiến mà sau khi hoà bình trở lại - ở Bắc năm 1954, ở Nam năm 1975 - Đảng cho địa phương tự trị như trong thời chiến, và lại dùng những người thời chiến để cai trị trong thời bình; do đó gây nhiều cái tệ mà tệ lớn nhất là cán nặng hơn gáo: mỗi tỉnh là một tiểu quốc, bất chấp cả trung ương… Như vậy là tiểu nhân tha hồ hoành hành, muốn tịch thu gì của hành khách cũng được, không ai răn đe họ khi họ mới mắc tội nhỏ, không ai chế ngự họ khi họ mới ló mòi, lâu rồi thành loạn. Tệ đó, quẻ Phệ hạp và quẻ Cấu trong Kinh Dịch đều đã cảnh cáo nhà cầm quyền từ ba ngàn năm trước rồi.
Bài học trách nhiệm trong việc trị dân:
Trong việc trị dân, người nào có quyền vị thì phải có trách nhiệm. Qui tắc đó rất sơ đẳng, bọn Pháp gia – như Thương Ưởng, Hàn Phi - đều nhắc tới nhiều lần. Mà đạo Nho thời nào cũng chủ trương rằng dân mắc tội là lỗi ở tại người trên; người trên mắc tội thì chỉ người trên chịu, dân không liên can gì tới. Trách nhiệm của người cai trị thật minh bạch; muốn vậy quyền của người trên cũng phải rõ rệt, chỉ người nào có trách nhiệm mới có quyền quyết đoán, mưu việc. Thiên “Thái Bá”, bài 14 (Luận ngữ) Khổng Tử bảo: “Không ở chức vị nào thì đừng mưu tính việc của chức vị đó”, như vậy để định rõ quyền hạn, trách nhiệm của mỗi người.
Chúng ta ngày nay theo chính sách “cai trị tập thể”, mỗi khi quyết định một việc gì, bất kì lớn nhỏ, cũng tập họp cả mấy chục đồng chí của nhiều cơ quan để thảo luận ở hội trường của tỉnh, huyện, hội trường nào cũng đồ sộ, xây cất rất tốn kém. Mỗi cơ quan lại có một hội trường riêng, nhỏ, họp hằng tuần về những vấn đề nội bộ. Quyết định tập thể có điểm tốt là biết được ý kiến nhiều người, tránh nạn độc đoán, nhưng hộp họp nhiều quá, tới nỗi mỗi tuần, nhân viên phải đi họp ba bốn buổi tối, lần nào cũng kéo dài hai ba giờ mà chẳng giải quyết được gì – vì càng nhiều ý kiến thì càng khó quyết định – thì mất thì giờ vô ích, ai cũng ngán. Tai hại nhất là công việc bê trễ, không ai dám lãnh trách nhiệm, trút trách nhiện cả cho tập đoàn, mà tập đoàn làm chủ tức là không ai làm chủ hết.
Một thí dụ về thắng bất tự cao:
Chương 30-31 Đạo đức kinh, Lão Tử khuyên kẻ dùng binh khi đạt được mục đích thi thôi, đừng ỷ mạnh, tự phụ, khoe công; thắng cũng không cho là hay, nếu cho là hay thì tức là thích giết người. Tổ tiên ta đã theo đúng lời đó. Lê Lợi sai khi thắng quân Minh, Quang Trung sau khi thắng quân Thanh, đều khiêm nhu, mềm dẻo với Trung Hoa.
Mustapha Kémal sau khi thắng quân Hi Lạp ở Dumulu Punar, bắt được hai tướng Hi Lạp là Tricopis và Dionys, tiếp đãi họ rất nhã nhặn trong lều của ông, mời họ giải khát rồi cùng nhau phê bình chiến lược của hai bên, làm cho họ phải khâm phục. Chính phủ mình có lẽ không ai nhớ bài học của Lê Lợi và Quang Trung, và tướng Trần Văn Trà chắc chắn không được đọc tiểu sử của Mustapha Kémal. Giá tướng Trà khi vào Dinh Độc Lập cũng nhã nhặn với tướng Dương Văn Minh như Kémal…
Và cái nhân đức trong việc cai trị dân:
Kinh Dịch, quẻ Giải khuyên khi loạn đã giải được rồi, chiến tranh đã hết, dân chỉ mong an cư lạc nghiệp, người trị dân nên có chính sách khoan đại, giản dị; tuy phải trừ những cái tệ cũ, nhưng chỉ nên sửa cho sự bình trị được lâu dài mà thôi, không nên xáo trộn nhiều quá, nhất là nên làm cho mau, đừng đa sự.
Giá chính phủ biết khoan dung lại biết giản dị, không cải cách gấp mà tiến hàng từ từ thì có thể 90% miền Nam đoàn kết với chính quyền mà sự cải cách tiến được đều đều, vững, không phải sửa sai, thụt lùi mấy lần, mà cũng không có sự tan rã, hỗn loạn trong xã hội như hiện nay.
Quẻ Cách lại khuyên thay cũ đổi mới là một việc khó, ngược với thói thủ cựu của con người, cho nên muốn có kết quả thì sự cải cách phải hợp thời, phải sáng suốt, soi xét rạch ròi, thận trọng, tính toán kĩ, làm sao thoả thuận được với lòng người, đừng nóng nẩy; và cải cách tới một mức nào đó thì nên ngừng lại, đừng cầu được hoàn toàn thì mói khỏi thất bại.
Mấy ngày đầu tháng 5-1975, người Nam nào cũng phục tinh thần kỉ luật của quân đội giải phóng và chính sách khoan hồng của chính phủ. Tuyệt nhiên không có cuộc “tắm máu” hồi tết Mậu Thân ở Huế như nhiều người lo ngại, mà cũng không có vụ trả thù cá nhân nào. Nhưng chẳng bao lâu, thái độ khinh bỉ, căm thù lần lần xuất hiện. Người ta coi đồng bào trong này đều là nguỵ hết, người ta mưu mô tước đoạt tài sản của nguỵ, bắt nguỵ đi kinh tế mới để cướp nhà của nguỵ. Tại giữa chợ Trương Minh Giảng, một chị cán bộ ở Hà Nội vô, nói với bạn cũng cán bộ ở Bắc vô sau: “Chị đừng lo, tụi nó sẽ bị đuổi đi kinh tế mới hết, lúc đó chúng ta sẽ có nhà rộng để ở”. Tinh thần chia rẽ, thù oán từ đó phát sinh và mỗi ngày hố giữa Nam Bắc mỗi sâu thêm.
Bài học về cải tạo:
Rồi chính sách bắt nguỵ quân, nguỵ quyền đi cải tạo nữa. Mới đầu người ta bảo mỗi người mang theo quần áo, thức ăn, tiền nong đủ cho 15 ngày, nên ai cũng tưởng chỉ độ 15 ngày là về, trong 15 ngày đó chíng quyền sẽ chỉ bảo, dẫn dắt cho hiểu đường lối của chính phủ, lối sống mới và diệt những thói quen tật cũ đi; như vậy là điều rất tốt, vá ai cũng hăng hái xách khăn gói lên đường cải tạo. Hết nửa tháng rồi hai ba tháng, rồi nửa năm vẫn chưa được về, lúc đó người ta mới hiểu rằng phải cải tạo cho tới khi nào thấy cải tạo hoàn toàn thì mới được về. Và khi nào xong thì không biết. Tới nay (1981), đã 6 năm, vẫn còn nhiều người chưa được về. Có thể bị cải tạo 10 năm như ở Nga chăng? Người ta quên bài học của tổ tiên: vua Trần Nhân Tôn sau khi thắng được quân Nguyên, bắt được tráp thư từ vãng lai với giặc của mấy ngàn người, không thèm coi, đốt đi hết, nhờ vậy mà đoàn kết được toàn dân.
Đọc cuốn J’ai choisi la liberté (đã dẫn), nhất là bộ L’archipel du Goulag của Soljenytsine (gồm 4 cuốn, 2 cuốn đầu đã dịch ra tiếng Pháp và in ở Paris trước 1975), chúng ta phải nhận rằng chính sách của ta không quá tàn nhẫn như chính sách của Nga. Một số trại của mình có chính sách nhân đạo nữa: ăn uống tuy thiếu thốn, nhưng được gia đình tiếp tế đều đều, nên người học tập không xuống cân, tinh thần tốt, được lao động vừa sức, được đọc sách báo… Nhưng có nhiều trại rất khắc nghiệt. Một thiếu phụ sau mấy năm xa cách, được đi thăm chồng tại một trại miền bắc Trung Việt, khi gặp chồng, không nhận ra được nữa, tưởng là người khác, mãi đến khi chồng cất tiếng hỏi, mới hết nghi ngờ. Chồng cô ta đã thay đổi hẳn từ thể xác tới tinh thần, mất mấy chục kí lô, đi không vững, hốc hác, chậm chạp, gần như một cái xác không hồn, lầm lì, hỏi mới đáp, không còn tình cảm, không suy nghĩ, không nhớ gì cả, sống mà như chết rồi.
Đi cả ngàn cây số mới tới trại mà chỉ được gặp mặt chồng có nửa giờ, lại không được khóc, nếu khóc thì bị đuổi ra liền. Hết nửa giờ, vợ chồng chia tay nhau, vợ nhìn theo chồng đẩy chiếc xe chở đồ tiếp tế về chỗ giam; khi chồng khuất bóng rồi, cô ta gục đầu xuống bàn mà khóc, khóc không biết bao lâu, hết nước mắt mới đúng dậy, loạng choạng ra khỏi trại.
Có trại gọi là “trại bò”, không phải để nhốt bò mà để nhốt những nguỵ quân nguỵ quyền cao cấp; phòng giam họ chỉ có một cái cửa cao độ một thước, muốn vô thì phải bò.
Lối trừng trị như vậy tôi cho là vô ích, không “cải tạo” được con người.
Nói tới cải tạo thì phải nói tới cái lừa lọc của nhà nước cộng sản đối với những người phải đi học tập:
Mở bộ Luận ngữ ra sẽ thấy cả chục bài khuyên nhà cầm quyền giữ chữ tín với dân, đặc biệt là bài 7 thiên “Nhan Uyên”:
Tử Cống, một môn đệ của Khổng Tử, hỏi về phép trị dân. Khổng Tử đáp: “Lương thực cho đủ, binh bị cho đủ, dân tin chính quyền”. Tử Cống lại hỏi: “Trong ba điều đó, nếu bất đắc dĩ phải bỏ một thì bỏ điều nào trước?” Đáp: “ Bỏ binh bị”. Tử Cống lại hỏi: “Trong hai điều còn lại, bất đắc dĩ phải bỏ một nữa thì bỏ điều nào trước?” Đáp: “Bỏ lương thực. Từ xưa vẫn có người chết, nếu dân không tin chính quyền thì chính quyền phải đổ” (dân vô tín, bất lập).
Làm cho dân tưởng rằng chỉ phải đi cải tạo nửa tháng mà rốt cuộc là phải đi 5-6 năm, có thể là 10 năm; bảo là cho họ đi học tập, cải tạo tinh thần mà sự thật để hành hạ, để trả thù, như vậy làm sao dân tin được chính quyền?... báo chí, các đài phát thanh chỉ thông tin một chiều, không cho dân biết sự thực, đến nỗi chính những cán bộ ở bưng về cũng phàn nàn rằng báo chí nói láo hết, như vậy làm sao mà tin chính quyền được.
Bây giờ ta vẫn nghe Đảng Cộng sản Việt Nam huênh hoang là toàn dân như một, dốc lòng tin tưởng, phò đảng, củng cố một chế độ độc tài cai trị. Vậy à! Xin làm ơn bắt chước Venezuela tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý đi, rồi thì cũng sẽ biết dân có tin hay không ngay thôi.
Tôi đã nói ở một chương trên, đại đa số những nguỵ quân nguỵ quyền ở trong nước không có tội gì cả, ngoài cái tội sống ở miền Nam, dưới chế độ Mĩ, Thiệu thì phải theo luật Mĩ, Thiệu; nhưng ngay cả những kẻ có tội đi nữa, nặng thì giết họ đi, nhẹ thì cứ dĩ trực báo oán, như vậy càng dễ cải hoá họ hơn, cần gì phải hành hạ như vậy; dĩ oán báo oán, oán bao giờ mới hết được? Đã hành hạ họ lại không cho con họ vô Đại học mặc dầu học giỏi. Người ta chê bài học của Khổng Tử: Thiên Ung Dã, bài 4 ông bảo cha Nhiễm Hữu (Trọng Cung) là người ác, nhưng Nhiễm Hữu là người hiền thì cũng dùng.
Ở thời Khổng Tử, chính quyền nào không được dân tin thì chính quyền đó phải đổ. Vì dân có thể nổi loạn, lật đổ vua, hoặc kéo nhau qua nước khác ở, tìm một ông vua khác để thờ. Ở thời đại chúng ta, khoa học đã tặng nhà cầm quyền những phương tiện cực kì hữu hiệu để đàn áp dân chúng; họ lại nắm sự phân phối thực phẩm, có những thuật mềm nắn dắn buông, vuốt ve dân chúng, cho nên một chế độ độc tài không bao giờ sụp đổ vì chính sách tàn bạo của nó; nếu một nhóm người cầm quyền biết đoàn kết với nhau, quyết tâm bắt dân theo đường lối của họ thì dân phải răm rắp cúi đầu tuân lệnh. Nhưng khi dân thấy chế độ độc tài không đem lại cho họ được một cái lợi gì thì họ phản kháng một cách tiêu cực, tà tà, lè phè, không hăng hái làm việc – chính quyền mình ba năm nay chống tiêu cực mà chẳng có kết quả gì cả - và khi chính quyền thấy chính sách độc tài không có lợi cho cả chính quyền nữa thì tất phải thay đổi chính sách.
Lúc này ai cũng thấy trong thành phần nòng cốt của chế độ, tức đảng viên, quân nhân, nhất là công an, đã chán nản, sa đoạ rồi.
Đúng rồi, với lề lối cai trị và thành phần đảng viên như vậy, bây giờ cái đà sa đoạ của tầng lớp lãnh đạo đó càng ngày thảm hạ, từ năm 1975 cho tới bây giờ. Đã đến lúc chính quyền cộng sản Việt Nam phải thay đổi chính sách. Và cái thay đổi quan trọng nhất là thừa nhận quyền tự do dân chủ thục sự của người dân, trả quyền làm chủ đất nước cho dân. Đừng đổ tội cho những người tranh đấu cho dân chủ là phản dân, hại nước mà theo dõi, cầm tù họ. Chống đảng hay hô hào cho sự thay đổi trong chính sách của đảng không có nghĩa là họ chống nước, phản tổ quốc.
Kinh Dịch đã xét trường hợp phải làm cách mạng (như trên tôi đã nói), lại xét cả trường hợp bỏ sự li tán mà đoàn kết lại (quẻ Hoán), muốn vậy phải bỏ tinh thần bè phái, để tập hợp quốc dân má lo việc nước, tức giải tán cái nhỏ để gom cái lớn lại. Việc đó chính phủ cách mạng đã có một lần làm rồi (1946). Hễ thành tâm thì có kết quả. Nhất là phải thay đổi chính sách kinh tế, bớt thuế má đi, phải để cho dân có lợi thì dân mới hăng hái sản xuất.
Không thể tặng cho người ta mĩ hiệu là “chiến sĩ xây dựng xã hội chủ nghĩa”, ngày đêm hô hào người ta “hi sinh cho đời con cháu được sung sướng” để bắt người ta sống cực khổ suốt đời, đời này qua đời khác được; vì nghĩ cho cùng khuyên người ta hi sinh cho đời con cháu thì có khác gì các cụ hồi xưa khuyên ăn hiền ở lành để phúc cho con; có khác gì các tôn giáo Ki Tô, Hồi Hồi, Phật khuyên tín đồ chịu cực trong cõi trần này để chết đi được lên thiên đường hoặc cõi niết bàn không?
Amen!
Mình theo cả những lầm lẫn của người
Ông viết mở đầu cho phần này như sau:
So sánh những nhận xét của tôi ở trên với những điều tôi đã được đọc trong mươi cuốn về đời sống ở Nga Sô, Trung cộng, tôi thấy chính sách của mình y hệt như chính sách của hai nước đàn anh đó, những lầm lẫn của mình chính là những lầm lẫn của họ.
Những lầm lẫn theo Nga:
Năm 1947, sau 30 năm cách mạng dân Nga cũng bị nhồi sọ như dân mình, xã hội cũng có những sự bất công… cũng có nạn bè phái như mình; cũng có lệ mhốn thưởng một cán bộ thì cho thêm một số tiền bỏ vào bao thư riêng; các ông lớn của họ cũng cách biệt quần chúng như ở nước mình;những kẻ gian trá cũng có thể lén lút làm mọi cái xấu xa, miễn là đừng chống chính quyền; người Nga nào cũng có hai mặt, ra ngoài thì khác như mình.
Họ cũng trọng hồng hơn chuyên, cũng thay đổi chủ trương, chương trình liền liền, thợ họ cũng không đủ ăn, công việc gì cũng không chạy; cán bộ của họ cũng sợ trách nhiệm như cán bộ mình; chính sách cải tạo còn tàn nhẫn hơn chính sách của mình; sự tổ chức bầu cử y như mình, v.v…
Những lầm lẫn theo Trung cộng:
Trung Hoa cũng có thời “trăm hoa đua nở” rồi mấy tháng sau hoa lại bị cấm nở; trăm hoa của mình cũng đua nở sau Trung Hoa ít tháng, và cũng bị cấm nở sau họ ít tháng. Năm 1966 mình khôn hơn Trung Hoa là không làm cách mạng văn hoá, nhưng năm 1978 mình cũng đã chuẩn bị kĩ để phát động một cuộc cách mạng văn hoá như họ, tính đốt hết các sách báo ở miền Nam… cách thức phụ cấp cho sinh viên, đối đãi với trí thức, chính sách học tập chính trị, hội họp ở phường, ấp, dăng, dán biểu ngữ ở khắp nơi, phát thanh bằng loa oang oang mà không ai buồn nghe…; cả lối giáo dục trẻ em, bổ túc văn hoá, công trình khai quật cồ tích chung quanh đền Hùng… mình đều theo sát gót Mao Trạch Đông.
Rồi ông nhận định là:
Tôi có cảm tưởng rằng mình chép đúng đường lối của hai nước đàn anh, không xét hoàn cảnh, dân tình, phong tục của mình có khác họ hay không. Tôi chưa thấy mình có một sáng kiến gì cả, ngay cả những danh từ như biên chế, phụ đạo, tham quan, tranh thủ… mình cũng chép nguyên của Trung Hoa.
Bây giờ thì Trung Hoa mới phát hành bạch thư giải thích về hiện trạng xây dựng một hệ thống chính trị đa đảng cho họ, chắc rồi Việt Nam cũng sẽ bắt chước đi theo con đường đó mà thôi.
Xu hướng của thời đại
Dự đoán sai của Marx
Ông đưa ra một vài điều tiên đoán sai của Marx:
Cách mạng vô sản sẽ xuất hiện trước hết ở những xứ kĩ nghệ tiến bộ như Đức, Anh; nhưng sự thực nó đã xuất hiện ở Nga, một xứ kĩ nghệ kém nhất châu Âu hồi đầu thế kỉ chúng ta; sau đó nó lại xuất hiện ở những nước nông nghiệp rất lạc hậu về kĩ nghệ, như Trung Hoa, Việt Nam…;
Marx tin rằng giai cấp vô sản ở khắp thế giới đoàn kết với nhau để cùng diệt giai cấp tư bản ở mọi nước, do đó không còn tinh thần quốc gia nữa, thế giới sẽ đại đồng; nhưng bây giờ người ta thấy ngay ở Nga, Trung Hoa, Đông Âu, chế độ cộng sản nào cũng mang nặng tinh thần quốc gia tới mức hai nước anh em với nhau mới thề sống chết có nhau, đoàn kết để diệt tư bản mà ít năm sau đã đâm chém nhau vì vấn đề ranh giới, chủ quyền, cũng xâm lấn nhau, phản nhau y như bọn thực dân tư bản vậy…
Ông đoán rằng chế độ tư bản sẽ chết, nhưng tới nay nó vẫn mạnh chứ không chết, mà trái lại về sự phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của dân thì các nước cộng sản không sao cạnh tranh nổi với nó (lời Garaudy, một giáo sư Pháp theo cộng), vì nó biết tự thích ứng với hoàn cảnh, tự thay đổi, tìm dược giải quyết lần lần những cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị (lời một chính trị gia cộng sản Đông Đức); nó không đi tới chế độ độc quyền mà tiến tới chế độ kinh tế tự do trên thị trường để thị trường được điều hoà. Trái lại, chính những nước cộng sản mới theo chế độ độc quyền, độc quyền quốc gia.
Marx muốn xoá bỏ hết sự bất bình đẳng, xoá bỏ giai cấp, nhưng ở Nga, Đông Âu không còn giai cấp tư bản nữa thì lại xuất hiện một giai cấp mới, giai cấp cán bộ, thư lại, từ quyền lợi tới lối sống, đều cách biệt hẳn với giai cấp thợ thuyền, nông dân.
Marx hi vọng thay đổi được bản tính con người; Nga đã dùng những biện pháp rất mạnh trên 60 năm nay, hai ba thế hệ rồi mà bản tính con người không thay đổi gì cả; vẫn ham có tư sản, hưởng tự do, hưởng lạc như Âu Mĩ.
Và sau đó ông mượn lời Sakharov để chỉ trích Nga Sô, mà lời đó bây giờ vẫn có thể áp dụng vào nhà nước Việt Nam được, vì như đã nói ở trên, Việt Nam từ mọi mặt, nhất nhất điều gì cũng rập theo khuôn nước đàn anh của mình, cũng mắc lầm lỗi như nhau:
Nhà bác học Sakharov trong tờ Express tháng 8-1972, nhận ra rằng Nga có tiến bộ về xã hội, kinh tế, nhưng các nước cũng tiến bộ như vậy, có phần còn hơn Nga, tiến nhờ kĩ thuật chứ không phải nhờ chủ nghĩa. Ông chê nhà cầm quyền Nga giả dối, ích kỉ, tàn nhẫn; giáo dục và y tế Nga rất tồi tệ vì bọn cán bộ cao cấp được biệt đãi mà bọn thường dân bị ngược đãi; chính quyền dùng nhà thương điên để nhốt bọn trí thức chỉ trích đường lối chính quyền…
Nguyện vọng của con người thời nay
Đoạn này, tôi xin giản lược lại như sau:
Đại khái tôi thấy xu hướng của thời đại chúng ta là:
Ngán chiến tranh lắm rồi… đòi được hoà bình…
Muốn được tự do, tư tưởng và nhu cầu cá nhân phải được tôn trọng…
Muốn được công bằng, có sự bình sản, không có kẻ giàu quá, nghèo quá, không còn sự bóc lột cá nhân. Sự thực là ở các nước tư bản tiến bộ hiện nay, nhờ pháp luật che chở, gần như hết sự bóc lột đó rồi.
Muốn hạn chế sự phát triển… muốn có một đời sống ổn định, giản dị, gần thiên nhiên.
Khẩu hiệu “của dân, vì dân, do dân” không đúng. Có thể là của dân, vì dân (hiếm lắm!) nhưng có chính quyền nào là do dân điều khiển, định đường lối, chính sách đâu? Phải thay đổi chế độ ra sao cho dân có thể đích thân dự vào việc nước, đó là đòi hỏi chung của thế hệ đang lên.
Trừ nguyện vọng thứ 4 và thứ 5 là mới mẻ, không thể xuất hiện ở thời nông nghiệp được vì thời đó chưa có chế độ dân chủ đại nghị, cũng không có máy móc, không thể sản xuất nhiều được; còn ba nguyện vọng trên: hoà bình, tự do, bình sản đều là nguyện vọng chung của nhân loại từ thời thượng cổ.
Sự tranh chấp giữa Nga và Mĩ
Cộng sản Nga Sô đã sụp đổ, không còn là đối tượng tranh chấp với tư bản Hoa Kì nữa, cho nên tôi không ghi ra đây đoạn này của ông. Chỉ xin trích một đoạn ngắn liên quan đến chính sách của Mĩ đối với Việt Nam:
Mĩ cũng lại phải bỏ cái thói khinh miệt dân tộc nhược tiểu, vung tiền ra làm sa đoạ họ, lập những ổ truỵ lạc, cờ bạc, ma tuý, đĩ điếm như Han Suyin đã trách trong cuốn Un été sans oiseaux. Ngay ở nước ta cũng vậy, khi Mỉ chỉ gửi qua giúp mình một số cố vấn thì dân còn có cảm tình với họ, tới khi họ đổ bộ nửa triệu lính lên lãnh thổ mình, làm xáo trộn xã hội mình thì mình chỉ mong họ thua mà cút đi càng sớm càng tốt.
Sửa sai
Tiết này rất dài, tôi xin tóm tắt nội dung chính, ba điều sai lầm và ba phương thức sửa sai, mà ông đưa ra sau đây:
Cũng vì muốn cấp tốc thành lập xã hội chủ nghĩa, sợ bỏ lỡ “cơ hội ngàn năm một thuở” (lời một cán bộ), người ta hấp tấp dựng các cơ sở mới, nhồi chính trị vào đầu óc dân, chú trọng chình trị hơn kinh tế, tưởng rằng nều dân thuộc được mấy khẩu hiệu: tư bản bóc lột, giai cấp đấu tranh, đảng lãnh đạo, vô sản làm chủ, lập hợp tác xã nông nghiệp, làm chủ tập thể, lao động là vinh quang, cùng nhau thi đua…, là Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa… Người ta không hiểu rằng nếu kinh tế không phát triển, dân nghèo đói vì vô sở bất vi, hoá ra ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, tham nhũng, buôn lậu… không còn nhân cách nữa, mà xã hội sẽ thành một xã hội đồi truỵ, chứ đâu phải là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Người ta theo sát Mao Trạch Đông, trọng hồng hơn chuyên. Nhưng chuyên đã không có mà cái hồng chỉ có bề ngoài thôi, còn bề trong thì trắng, một màu trắng lem luốc. Điều này tôi đã nói nhiều rồi, không muốn nhắc lại. Biết mấy ngàn giờ học chính trị chỉ như nước đổ lá khoai, tới nỗi cán bộ đi học cũng phải ngán, bực mình thốt lên: “Càng học càng dốt, vì người dạy dốt quá”.
Sai lầm thứ ba, tôi cũng đã nói rồi, là sau khi đuổi được Mĩ đi, mình chưa kịp lấy lại sức, đã nuôi cái mộng làm bá chủ bán đảo Đông Dương, thành một cường quốc ở Đông nam Á, không tự lượng sức mình, cũng không nhận định được tình hình thế giới, khiến Trung Hoa, Miên, Thái, Mĩ, Nhật đâm ghét mình
Muốn sửa sai, chúng ta phải:
Gây lại lòng tin của dân, tình đoàn kết của người Nam, không phân biệt cách mạng và nguỵ nữa, không phân biệt giai cấp (ở một chương trên tôi đã nói có tới 12 giai cấp), rút bớt quyền lợi của đảng viên đi, đảng viên phải sống khổ như dân; diệt tệ quan liêu, bè phái , tham nhũng… cho dân tự do phát biểu ý kiến về mọi vần đề trong các cuộc hội họp, trên báo, trên đài phát thanh…
Trọng kĩ thuật hơn chính trị, chuyên hơn hồng, chuyên dễ biết được, còn hồng nhiều khi chỉ là bề ngoài, chuyên mới đắc lực trong việc kiến thiết; bỏ một số cơ quan, rút thật nhiều nhân viên trong các sở đi mà đồng thời tạo công ăn việc làm cho mọi người; cho dân đủ sống, đừng bóc lột dân quá; bỏ các địa phương đi hoặc rút lại còn hai ba thôi; cho những người đi cải tạo về…;
Rút ra khỏi cảnh sa lầy ở Miên, lấy lại tình hoà hảo với các nước ở Đông Á.
Một lối phát triển riêng, một lối sống riêng
Đây là tiết cuối cùng của chương XXXII. Phần này chiếm trọn 9 trang của tập Hồi kí, tập III, rất dài. Trong đó, ông đưa ra một chính sách mới cho nước Việt Nam trở “thành một nước thực sự độc lập, tự do, không cần mạnh, giàu, chỉ cần tạo được hạnh phúc cho dân”. Tôi xin tóm tắt chính sách đó như sau.
Về võ bị, ngoại giao: Khi đã rút ra khỏi đầm lầy Cao Miên, chúng ta nên tuyên bố với thế giới rằng chúng ta theo chính sách trung lập, hoàn toàn tôn trọng hoà bình, không gây chiến, không tham chiến, giảm binh số, vũ khí tới mức tối thiểu, chỉ còn là một lực lượng cãnh sát trong nước thôi.
Về kinh tế: Chúng ta tìm một đường lối phát triển riêng… Chúng ta nghèo lại càng phải kiếm một đường lối hợp với hoàn cảnh, tài nguyên thiên nhiên, mức tiến hoá còn rất thấp của mình. Trong giai đoạn hiện tại, chúng ta chỉ nên nhắm mục tiêu này: làm sao cho dân chúng đừng đói rét, đau có thuốc uống, và đồng thời giảm lần lần được sự bất quân trong xã hội, mà vẫn giữ được cái tình người.
Về chính trị: Ta càng cần có một chế độ riêng… ta có nên theo gót tư bản hay cộng sản không? Hay phải tìm cách nào, giáo dục dân cách nào cho dân được thực sự dự vào việc nước?
Về nhân sinh quan: Chúng ta cũng nên chỉ cho thanh niên biết dùng kiến thức của họ hơn là nhớ nhiều… cần luyện óc tưởng tượng, tập có sáng kiến… chương trình phải hợp với nhu cầu và mục tiêu chúng ta đã vạch. Mục tiêu đó là dựng một xã hội mới theo một lối sống mới, một nhân sinh quan mới… xét lại quan niệm về hạnh phúc, kiếm một lối sống khác… Đời sống vật chất tới một mức nào đó thì nên cho là đủ, không nên đeo đuổi hoài sự tấn bộ vật chất mà bỏ đời sống tinh thần, tình cảm đi… Sống giản dị, ăn uống thanh đạm, vui vẻ với nhau, có tình cảm , biết hưởng cái vui tinh thần trong cảnh thiên nhiên, tôi cho như vậy là hạnh phúc, mà hạnh phúc đó đâu có cần lợi tức nhiều.
*
Hồi kí có lẽ là cuốn sách quan trọng nhất trong cuộc đời viết văn của ông Nguyễn Hiến Lê. Trong đó, ông đã gửi gấm tất cả những tự sự, hoài bão, tâm tư, nhiệt tình tới độc giả, bạn bè, và đất nước. Vì là một cuốn sách được viết lần cuối cùng trong đời, trước khi ông về hưu nghỉ viết, nó là một tập đại thành của ông, gồm đủ các loại – bút kí, tuỳ luận, văn học, triết học, lịch sử, chính trị, kinh tế, giáo dục - được đúc kết cả lại để cống hiến đời sau một cái nhìn chuẩn xác về đời ông trong một nước Việt Nam, tâm sự của ông về vận nước Việt Nam, và nhân sinh quan của ông về một đất nước Việt Nam này.
Tuy ông đã viết cuốn Hồi kí với một tấm lòng trân trọng như vậy, tôi ngờ là ông không mong mỏi cuốn sách này được xuất bản ngay trong nước đâu (quả nhiên là Hồi kí đã được in tại hải ngoại năm 1988, mà tới năm 1992 mới đươc in lần đầu tiên trong nước). Có lẽ ông đã biết được sự khó khăn như thế nào để một cuốn sách được cho phép xuất bản trong chế độ cộng sản ở Việt Nam vì “viết lách thì phải có danh lớn, hoặc bồ bịch, bè phái thì mới hi vọng được in”. Cái trần ai đó đã được ông nói thêm trong đoạn viết sau đây:
Bản thảo gởi tới một nhà xuất bản, phải bị kiểm duyệt vài ba lần, một lần về tư tưởng, một lần về hình thức, gì gì đó; thoát được mấy cửa ải đó lại phải qua vài lần duyệt nữa xem có hợp thời không, có đáng in ngay không và có ngân sách, có giấy để in không. Phải có ông lớn nào đặc biệt ủng hộ mới mau được in, nếu không thì bị dìm cả chục năm như bộ Tự điển truyện Kiều của Đào Duy Anh; hễ năm sáu năm sau được in thì cũng đã là may rồi… Có nhà khảo cứu bỏ ra mấy năm soạn một bộ công phu mà không in được, chính phủ an ủi bằng cách trả cho một số tiền nhỏ vài ba trăm đồng rồi giữ bản thảo làm tài liệu cho một cơ quan. Như vậy ông giám đốc một nhà xuất bản lớn thành như một lãnh chúa về văn hoá. (Hồi kí)
Thái độ “bất hợp tác” của ông đối với một chế độ vừa được áp đặt lên dân chúng miền Nam là nguyên nhân của sự khó khăn trong việc in sách của người cầm bút “non-conformist” (chữ của ông) như ông:
Khoảng 1971-76 mặc dầu có nhiều cảm tình với kháng chiến, nhưng tôi cũng biết rằng chế độ cộng sản không hợp với tính tình tôi, nên có lần tôi nói với ông Giản Chi: “Cộng sản vô đây, tôi chỉ cần họ cho tôi sống yên ổn, khỏi phải lãnh một nhiệm vụ gì hết, mình già rồi”. Điều đó may mắn tôi giữ được. (Đời viết văn của tôi)
... chính quyền đối với tôi cũng có biệt nhãn. Sở Thông tin Văn hóa thành phố coi tôi là một nhân sĩ; Sở Tuyên huấn thành phố có lần phái một nhân viên lại thăm tôi; nghe tôi nói sức khỏe mỗi ngày một suy, nhân viên đó ngỏ ý muốn giới thiệu tôi để vào điều trị ở Bệnh viện Thống Nhất (bệnh viện cho cán bộ cao cấp, nhiều dụng cụ, thuốc men nhất miền Nam). Tôi từ chối... Vả lại nhận ân huệ của người ta, khi người ta sai bảo việc gì, hay chỉ mời dự một buổi hội họp để góp ý kiến thôi, mình làm sao từ chối được? Tôi chỉ mong được sống yên ổn, không ai nhắc tới tôi, không ai nhớ tên tôi nữa. (Hồi kí)
Do đó mà ông có một lời chua chát cho một thực tế đã cùng đưa đến sự khai tử sự nghiệp của ông và sự cáo chung của một nền tự do đã một thời thực sự có mặt ở Việt Nam:
Tác phẩm thứ 100 của tôi (Trí Đăng xuất bản), nhan đề là Mười câu chuyện văn chương phát hành khoảng 20-4-1975… Tạp chí Bách Khoa số cuối – 426, ngày 25-4-1975 - giới thiệu cuốn Mười câu chuyện văn chương… Nhà Khai Trí tính tổ chức một cuộc triển lãm 100 tác phẩm của tôi, chưa kịp làm thì 12 giờ trưa ngày 30-4-75, quân cộng sản Bắc Việt ngồi xe thiết giáp tiến vào Dinh Độc Lập… Miền Nam lật qua một trang sử mới. Do một sự ngẫu nhiên kì dị, số báo Bách Khoa cuối cùng đánh dấu sự chấm dứt sự nghiệp của tôi cùng với sự chấm dứt chế độ dân chủ miền Nam. (Đời viết văn của tôi)
Sau ngày tiến chiếm đó, ông đã có một hành động tích cực sau đây với loại “lãnh chúa văn hoá” như trên:
Năm 1979, nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội, do một anh bạn học cũ của tôi ở trường Bưởi làm trung gian, yêu cầu tôi dịch một danh tác Pháp hay Anh, tôi đáp không có thì giờ (vì tôi đương viết bộ Kinh Dịch); năm nay (1980) nhà xuất bản đó lại xin tôi gởi cho một vài chuyện dài hoặc tuyển tập văn học tôi đã dịch và xuất bản rồi để họ coi xem có thể in lại một cuốn được không; tôi đáp không còn dư cuốn nào cả (sau vụ ba huỷ năm 1978; sách phản động, huỷ; sách đồi truỵ, huỷ; sách lạc hậu, huỷ), nhà xuất bản chịu khó tìm của người khác mà đọc. (Đời viết văn của tôi)
Vì vậy mà ông đã thất vọng cho cái hoài bão cuối đời của ông:
Năm 1973, khi kí xong hiệp ước Paris (chưa ráo nét mực thì đã bị xé) tôi ước ao ba điều: đi thăm quê hương đất nước trong một năm, xuất bản hết mươi cuốn đã viết xong, và còn dư năm nào thì nghiên cứu nốt về các triết gia lớn Trung Hoa thời Tiên Tần. Hai ước vọng trên đã hoá hão, còn ước vọng cuối cùng, từ năm 1976, tôi tuần tự và siêng năng thực hiện cho xong. (Đời viết văn của tôi)
In sách của ông lúc đó là một điều khó xẩy ra, nhưng có một điều chắc chắn là ông sẽ rất bực mình và sẽ có một thái độ dứt khoát khi thấy lời văn, bài viết của mình bị duyệt bỏ (nhiều đoạn viết của ông mà tôi trích ở trên cũng đều bị cắt) như trong trường hợp điển hình sau:
Ngoài ra, do lời yêu cầu của ông Lê Huy Vân, bạn học cũ của tôi ở trường tiểu học Yên Phụ, thư kí toà soạn tờ nguyệt san Tổ Quốc của Đảng Xã hội (được coi là tờ báo của giới trí thúc), tôi viết hai bài cho báo đó.
“Một truyện ngắn làm tôi xúc động”, đăng trên số 12-1977. Tôi phê bình các truyện ngắn của Nam Cao viết trước Cách mạng tháng 8-1945, đặc biệt khen truyện “Một đám cưới”, nhưng toà soạn cắt bỏ đi khoảng một phần ba, chỉ giữ phần phê bình riêng truyện “Một đám cưới” thôi.
“Chủ nghĩa thực dân và vấn đề kì thị chủng tộc (ở Nam Phi)” đăng trên số 11-1978. Bài này cũng bị cắt bỏ đi nhiều.
Từ đó có vài tờ báo xin bài, tôi đều từ chối hết. (Hồi kí)
Học giả Nguyễn Hiến Lê mất ngày 22 tháng 12 năm 1984. Tưởng nghĩ bây giờ, ông có hài lòng không khi tới nay là đúng 23 năm, cuốn Hồi kí của ông được in những sáu lần trong nước mà vẫn thiếu sót; ngoài vô số rải rác những câu, đoạn ngắn bị sửa đổi hoặc đục tỉa, có tới 6 chương trong số 33 chương của cuốn sách vẫn bị cắt bỏ trọn vẹn vì “không thể nào để lại được”?
12-2007
3/5/10
22/4/10
Mẹ đi tu !!!?
« Một ngày được ở trong Nhà Chúa quý giá hơn cả ngàn ngày ở ngoài thế gian . .. ! »
Khoảng đầu năm 2009, chị Tuyết đang ở Cần Thơ, một hôm tự nhiên bàn tay phải bị đau khớp sưng lên, phải ra ngoài trạm xá của các sơ để chữa. Được đắp thuốc và xông điện mấy lần là nhẹ hẳn và khỏi luôn. Xơ Linh, thầy thuốc Đông y của nhà Dòng, chuyên châm cứu, khoe với xơ cố vấn từ bên Tây về một số máy móc mới trang bị giúp chữa nhiều bệnh, đặc biệt có trị về khớp như khớp tay, chân, cột sống…Ồ vậy là đúng ngay chứng bệnh của mẹ rồi. Xơ Linh đốc chị Tuyết mời “bà cố” xuống đây xơ chữa bệnh cho. Thế là chi Tuyết điện ngay về cho mẹ, năn nỉ mẹ sắp xếp công viêc xuống Cần Thơ vài tuần, sẵn có chị Tuyết đang ở đó, để châm cứu và chạy điện một thời gian cho cái lưng đỡ bị nhức.
Hay quá, mẹ đồng ý đi chữa bệnh nhưng phải chờ sắp xếp công việc đã … !
Mẹ đi Cần Thơ như vậy là lần thứ hai. Lần đầu tiên mẹ đi dịp chị Tuyết khấn trọn đời năm 1984. Lần đó mẹ đi với cậu và Trinh. Thời điểm đó đất nước còn rất gay go về kinh tế chính trị. Nhà Dòng chỉ cho mỗi sơ khấn mời 3 người trong gia đình đi dự lễ. Trinh đã biết Cần Thơ nên được đi dẫn đường cho mẹ. Còn cậu thì xuống từ Gia Kiệm. Thời điểm đó còn khó khăn gian khổ, xe cộ rất hiếm hoi. Mẹ với Trinh phải đi bằng xe chở hàng. Dọc đường mẹ lại “xui xẻo” bị trẻ con ném đá trúng vào ngay trán tím bầm cả, chắc Trinh còn nhớ !
Trở lại chuyện mẹ xuống nhà dòng chữa bệnh. Chị Tuyết chỉ đường cho mẹ, cho mẹ số nhà, số điện thoại. Tới ngày hẹn, mẹ lên đường. Mẹ đi hai chặng Đakmil - Sài Gòn và Sài Gòn - Cần Thơ. Mới hơn 10 giờ là đã thấy mẹ có mặt ở nhà khách rồi. Mẹ hay thật, đi đến đâu cũng được cả. Mẹ đã nói là “đường ở nơi miệng” mà ! Các xơ ai cũng thán phục.
Trong nhà Dòng đã được biết trước là có bà cố xơ Tuyết đến chữa bệnh. Ai nấy nhìn thấy đều ồ lên nhận xét : “Má con sao mà giống nhau quá chừng !”, “Bà cố trẻ và đẹp quá !”
Trở lại Nhà Dòng sau 25 năm mẹ thấy mọi sự đều thay đổi hẳn đi. Chị Tuyết đưa mẹ đi một vòng để xem nhà : nào là nhà Nguyện, nhà Giữa, nhà Tập, nhà Chung, nhà Bếp, nhà Giặt, nhà Cơm, nhà Truyền thống, nhà Thỉnh viện, nhà Mẫu giáo, trạm xá cùng với vườn tược cây cối mênh mông. Mấy ngày đầu mẹ không sao mà định hướng được.
Mẹ được sắp xếp ở trong một phòng khá tiện nghi, có vệ sinh phòng tắm tại chỗ, dành cho khách đặc biệt. Sau khi dùng cơm chiều và nói chuyện với mẹ xong thì chị Tuyết về nhà mình ở dãy bên kia, không quên chỉ cho mẹ đường vào nhà Nguyện để sáng mai đi xem lễ.
Sáng hôm sau khi vừa nghe chuông thức dậy thì một em nhà Tập đã đến bên phòng kêu lên : “Dì ơi, bà cố té xuống mương ướt hết cả người rồi.” Trời ơi sao vậy !!! Thế là chị Tuyết thay vội áo quần ba chân bốn cẳng bay xuống xem sự tình ra sao. May mà lúc ấy mẹ đã lên khỏi nước vào phòng đang thay đồ. Vì cái mương ở ngay trước dãy phòng của mẹ, chỉ cách một cái sân chừng 5 thước thôi. Thật hú hồn hú vía ! Vừa thương mẹ mà vừa không nhịn cười được.
Sự thể là như vầy : Mẹ có thói quen thức sớm để đọc kinh nên khi vừa nghe rung chuông, mẹ nhanh nhẹn lắm, là đã sẵn sàng để đi vào “nhà Chúa”. Vì mới thức dậy nên đèn đuốc chung quanh chưa được bật lên. Mẹ ra khỏi phòng, khoá cửa, cẩn thận bỏ chìa khoá vào túi áo rồi đi về hướng nhà nguyện. Con chó giữ nhà nghe hơi mẹ lạ nên gầm gừ. Chiều hôm qua đã thấy chị Tuyết bị nó táp cảnh cáo khi đến gần, nên hôm nay mẹ phải đề phòng tránh xa nó ra. Mẹ vừa nhìn con chó vừa đi thụt lùi nhưng vì trời tối nên không thấy cái mương ở sát một bên. Thế là “tủm…” mẹ rớt gọn xuống mương ! Hôm đó nhằm con nước lớn nên mực nước gần đầy lên đến bờ mương, lút cả đầu mẹ. Sự cố quá bất ngờ nhưng may nhờ biết lội (lâu nay chị Tuyết đâu có biết tài bơi lội của mẹ) từ khi còn nhỏ (bỏ lâu quá chừng mà mẹ vẫn còn nhớ !!) nên mẹ vùng vẫy làm sao mà phóng được lên bờ vô sự. (Sáng ra khi đến xem hiện trường thì ai cũng phải thán phục bà cố già mà gân quá !) Mẹ phải trở vô phòng thay quần áo nhưng lục mãi trong túi không thấy chìa khoá. Thì ra trong lúc giãy dụa cái chìa khoá đã bị rớt xuống nước từ lúc nào rồi. Thấy trong phòng thánh có ánh sáng vì các em nhà Tập thức sớm hơn để dọn đồ lễ nên mẹ đến đó báo cáo sự tình và kiếm chìa khoá mở cửa. Khi chị Tuyết xuống đến nơi thì mẹ đã có chìa khoá để vào phòng rồi. Mẹ tắm rửa, thay đồ và tiếp tục đi đọc kinh xem lễ như thường.
Quả là sự cố có một không hai trong nhà Dòng ! Cả nhà ai cũng biết tin bà cố rớt xuống mương. Hai mẹ con đi đến đâu cũng được ân cần thăm hỏi và đối đáp vui vẻ. Nhờ có sự cố của mẹ mà sơ Giám tỉnh sau đó đã tức tốc cho người làm lan can ở mấy cái cầu bắc ngang mương chưa có tay vịn.
(Sơn: Chị Tuyết ! Còn chuyện mẹ bị trộm vô lấy đồ sau đó, sao không thấy chị nhắc tới. Hình như có liên quan tới chuyện mất chìa khóa ?)
Trong hơn một tuần ở đó, ngoài việc một ngày hai lần đi chữa bệnh thì mẹ xuống nhà bếp, vừa giúp lặt vặt vừa làm quen và kể chuyên đời cho các nhà tu hành. Mẹ đi xem lễ và tham dự giờ kinh phụng vụ trong nhà Dòng thật sốt sắng. Mấy ngày đó chị Tuyết xuống ăn cơm với mẹ. Thật là những giờ phút hiếm hoi. Cả đời mấy khi mà mẹ con được thảnh thơi để nói chuyện với nhau như vậy. .. Còn thời giờ rảnh thì mẹ nghỉ ngơi thêm đôi chút. Nhờ không có gì phải lo lắng và ăn uống ngủ nghỉ điều độ nên mẹ cảm thấy khoẻ nhiều. Mẹ lanh lợi và tươi tắn hẳn ra. Các sơ thích thú đề nghị : “Bà cố mới ăn cơm nhà Chúa có một tuần mà thấy khoẻ và đẹp ra, thôi bà cố ở lại tu luôn nghen !”. Mẹ dí dỏm đáp lại: “Ở đây thích quá, phải mà không có ông cố thì ở lại tu luôn rồi!”.
Chi Tuyết nhớ có lần cha cũng ước ao được ở trong nhà dòng nào như vậy.
Sau đó, vì cận Tết, với lại mẹ lo cha phải ở nhà có một mình nên vội vã trở về Đakmil.
Chị Tuyết ước ao phải chi có cơ hội nào để cha sống kinh nghiệm “một ngày được ở trong nhà Chúa, quý giá hơn cả ngàn năm” như mẹ vậy !
Khoảng đầu năm 2009, chị Tuyết đang ở Cần Thơ, một hôm tự nhiên bàn tay phải bị đau khớp sưng lên, phải ra ngoài trạm xá của các sơ để chữa. Được đắp thuốc và xông điện mấy lần là nhẹ hẳn và khỏi luôn. Xơ Linh, thầy thuốc Đông y của nhà Dòng, chuyên châm cứu, khoe với xơ cố vấn từ bên Tây về một số máy móc mới trang bị giúp chữa nhiều bệnh, đặc biệt có trị về khớp như khớp tay, chân, cột sống…Ồ vậy là đúng ngay chứng bệnh của mẹ rồi. Xơ Linh đốc chị Tuyết mời “bà cố” xuống đây xơ chữa bệnh cho. Thế là chi Tuyết điện ngay về cho mẹ, năn nỉ mẹ sắp xếp công viêc xuống Cần Thơ vài tuần, sẵn có chị Tuyết đang ở đó, để châm cứu và chạy điện một thời gian cho cái lưng đỡ bị nhức.
Hay quá, mẹ đồng ý đi chữa bệnh nhưng phải chờ sắp xếp công việc đã … !
Mẹ đi Cần Thơ như vậy là lần thứ hai. Lần đầu tiên mẹ đi dịp chị Tuyết khấn trọn đời năm 1984. Lần đó mẹ đi với cậu và Trinh. Thời điểm đó đất nước còn rất gay go về kinh tế chính trị. Nhà Dòng chỉ cho mỗi sơ khấn mời 3 người trong gia đình đi dự lễ. Trinh đã biết Cần Thơ nên được đi dẫn đường cho mẹ. Còn cậu thì xuống từ Gia Kiệm. Thời điểm đó còn khó khăn gian khổ, xe cộ rất hiếm hoi. Mẹ với Trinh phải đi bằng xe chở hàng. Dọc đường mẹ lại “xui xẻo” bị trẻ con ném đá trúng vào ngay trán tím bầm cả, chắc Trinh còn nhớ !
Trở lại chuyện mẹ xuống nhà dòng chữa bệnh. Chị Tuyết chỉ đường cho mẹ, cho mẹ số nhà, số điện thoại. Tới ngày hẹn, mẹ lên đường. Mẹ đi hai chặng Đakmil - Sài Gòn và Sài Gòn - Cần Thơ. Mới hơn 10 giờ là đã thấy mẹ có mặt ở nhà khách rồi. Mẹ hay thật, đi đến đâu cũng được cả. Mẹ đã nói là “đường ở nơi miệng” mà ! Các xơ ai cũng thán phục.
Trong nhà Dòng đã được biết trước là có bà cố xơ Tuyết đến chữa bệnh. Ai nấy nhìn thấy đều ồ lên nhận xét : “Má con sao mà giống nhau quá chừng !”, “Bà cố trẻ và đẹp quá !”
Trở lại Nhà Dòng sau 25 năm mẹ thấy mọi sự đều thay đổi hẳn đi. Chị Tuyết đưa mẹ đi một vòng để xem nhà : nào là nhà Nguyện, nhà Giữa, nhà Tập, nhà Chung, nhà Bếp, nhà Giặt, nhà Cơm, nhà Truyền thống, nhà Thỉnh viện, nhà Mẫu giáo, trạm xá cùng với vườn tược cây cối mênh mông. Mấy ngày đầu mẹ không sao mà định hướng được.
Mẹ được sắp xếp ở trong một phòng khá tiện nghi, có vệ sinh phòng tắm tại chỗ, dành cho khách đặc biệt. Sau khi dùng cơm chiều và nói chuyện với mẹ xong thì chị Tuyết về nhà mình ở dãy bên kia, không quên chỉ cho mẹ đường vào nhà Nguyện để sáng mai đi xem lễ.
Sáng hôm sau khi vừa nghe chuông thức dậy thì một em nhà Tập đã đến bên phòng kêu lên : “Dì ơi, bà cố té xuống mương ướt hết cả người rồi.” Trời ơi sao vậy !!! Thế là chị Tuyết thay vội áo quần ba chân bốn cẳng bay xuống xem sự tình ra sao. May mà lúc ấy mẹ đã lên khỏi nước vào phòng đang thay đồ. Vì cái mương ở ngay trước dãy phòng của mẹ, chỉ cách một cái sân chừng 5 thước thôi. Thật hú hồn hú vía ! Vừa thương mẹ mà vừa không nhịn cười được.
Sự thể là như vầy : Mẹ có thói quen thức sớm để đọc kinh nên khi vừa nghe rung chuông, mẹ nhanh nhẹn lắm, là đã sẵn sàng để đi vào “nhà Chúa”. Vì mới thức dậy nên đèn đuốc chung quanh chưa được bật lên. Mẹ ra khỏi phòng, khoá cửa, cẩn thận bỏ chìa khoá vào túi áo rồi đi về hướng nhà nguyện. Con chó giữ nhà nghe hơi mẹ lạ nên gầm gừ. Chiều hôm qua đã thấy chị Tuyết bị nó táp cảnh cáo khi đến gần, nên hôm nay mẹ phải đề phòng tránh xa nó ra. Mẹ vừa nhìn con chó vừa đi thụt lùi nhưng vì trời tối nên không thấy cái mương ở sát một bên. Thế là “tủm…” mẹ rớt gọn xuống mương ! Hôm đó nhằm con nước lớn nên mực nước gần đầy lên đến bờ mương, lút cả đầu mẹ. Sự cố quá bất ngờ nhưng may nhờ biết lội (lâu nay chị Tuyết đâu có biết tài bơi lội của mẹ) từ khi còn nhỏ (bỏ lâu quá chừng mà mẹ vẫn còn nhớ !!) nên mẹ vùng vẫy làm sao mà phóng được lên bờ vô sự. (Sáng ra khi đến xem hiện trường thì ai cũng phải thán phục bà cố già mà gân quá !) Mẹ phải trở vô phòng thay quần áo nhưng lục mãi trong túi không thấy chìa khoá. Thì ra trong lúc giãy dụa cái chìa khoá đã bị rớt xuống nước từ lúc nào rồi. Thấy trong phòng thánh có ánh sáng vì các em nhà Tập thức sớm hơn để dọn đồ lễ nên mẹ đến đó báo cáo sự tình và kiếm chìa khoá mở cửa. Khi chị Tuyết xuống đến nơi thì mẹ đã có chìa khoá để vào phòng rồi. Mẹ tắm rửa, thay đồ và tiếp tục đi đọc kinh xem lễ như thường.
Quả là sự cố có một không hai trong nhà Dòng ! Cả nhà ai cũng biết tin bà cố rớt xuống mương. Hai mẹ con đi đến đâu cũng được ân cần thăm hỏi và đối đáp vui vẻ. Nhờ có sự cố của mẹ mà sơ Giám tỉnh sau đó đã tức tốc cho người làm lan can ở mấy cái cầu bắc ngang mương chưa có tay vịn.
(Sơn: Chị Tuyết ! Còn chuyện mẹ bị trộm vô lấy đồ sau đó, sao không thấy chị nhắc tới. Hình như có liên quan tới chuyện mất chìa khóa ?)
Trong hơn một tuần ở đó, ngoài việc một ngày hai lần đi chữa bệnh thì mẹ xuống nhà bếp, vừa giúp lặt vặt vừa làm quen và kể chuyên đời cho các nhà tu hành. Mẹ đi xem lễ và tham dự giờ kinh phụng vụ trong nhà Dòng thật sốt sắng. Mấy ngày đó chị Tuyết xuống ăn cơm với mẹ. Thật là những giờ phút hiếm hoi. Cả đời mấy khi mà mẹ con được thảnh thơi để nói chuyện với nhau như vậy. .. Còn thời giờ rảnh thì mẹ nghỉ ngơi thêm đôi chút. Nhờ không có gì phải lo lắng và ăn uống ngủ nghỉ điều độ nên mẹ cảm thấy khoẻ nhiều. Mẹ lanh lợi và tươi tắn hẳn ra. Các sơ thích thú đề nghị : “Bà cố mới ăn cơm nhà Chúa có một tuần mà thấy khoẻ và đẹp ra, thôi bà cố ở lại tu luôn nghen !”. Mẹ dí dỏm đáp lại: “Ở đây thích quá, phải mà không có ông cố thì ở lại tu luôn rồi!”.
Chi Tuyết nhớ có lần cha cũng ước ao được ở trong nhà dòng nào như vậy.
Sau đó, vì cận Tết, với lại mẹ lo cha phải ở nhà có một mình nên vội vã trở về Đakmil.
Chị Tuyết ước ao phải chi có cơ hội nào để cha sống kinh nghiệm “một ngày được ở trong nhà Chúa, quý giá hơn cả ngàn năm” như mẹ vậy !
Về quê chồng
Tháng 7, 1995 – Đây là lần đầu tôi trở về thăm Việt Nam sau 16 năm xa cách, chuyến đi này đã để lại cho tôi thật nhiều kỷ niệm, nhiều ấn tượng thật đặc biệt… muốn chia sẻ cùng các anh chị em.
Chuẩn bị cho chuyến đi
Rời Việt Nam khi tôi mới lên 12 với toàn thế gia đình, trong quá trình trưởng thành, đôi khi tôi quên hẳn mình từ đâu đến, không còn phân biệt là mình đang sống tại nước ngoài vì tôi hoàn toàn hòa mình được với cuộc sống tại Canada, cũng không có những nhớ nhung, trông ngóng hay thiết tha gì về nước Việt Nam vì cha me và anh chị em đều chung sống bên cạnh tôi mỗi ngày…cho đến khi tôi gặp anh Thạch. Anh Thạch đã đưa tôi trở về lại nguồn gốc của mình, cho tôi tìm thấy lại TÔI, một cô gái hoàn toàn Việt Nam… và từ đó, tôi đã chia sẻ được sự nhớ nhung, trông ngóng về nước Việt Nam thân yêu, trông mong một ngày hội ngộ cùng cha mẹ và các anh chị em, tuy chưa một lần gặp mặt nhưng đã rất thân thuộc qua những hình ảnh tôi được xem hay những mẩu chuyện mà anh Thạch kể lại.
Lúc chuẩn bị đám cưới, sự lựa chọn địa điểm của tuần trăng mật rất là dễ dàng vì cả hai chúng tôi đều thấy không thấy nơi đâu bằng Việt Nam để đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc sống mới. Trước khi lên đường, tôi đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc gặp gỡ, xem lại nhiều hình ảnh gia đình, học thuộc tên các anh chị em và các cháu.
Kỷ niệm đầu khi đến Sàigòn
Sau hơn 35 tiếng đồng hồ từ khi rời phi trường Montréal, với 3 chặng đổi máy bay tại Toronto, Vancouver và Hồng Kông, chiếc máy bay của hãng Cathay Pacific đã đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Lòng tôi thật là hoang mang, hồi hộp, một cảm giác thật khó diễn tả…..đã tới nơi rồi, Saigon thân yêu, nơi mà tôi được sanh ra và lớn lên. Vài phút nữa đây, tôi sẽ gặp lại được những khung cảnh ngày xưa nhưng không biết là mình sẽ còn nhớ gì không hay là tất cả đều xa lạ? Hành lý đã lo xong, 2 vợ chồng tôi cùng bước ra khỏi phi trường. Tôi như muốn ngộp thở vì hơi nóng, cái nóng oi bức mà dường như tôi chưa bao giờ nhận thấy, lại choáng váng vì chung quanh mình quá đông đảo, tôi nghe những tiếng gọi nhau ầm ĩ, lại toàn là tiếng Việt Nam…khung cảnh này quá xa lạ với tôi. Rồi anh Thạch chỉ tới hướng bên kia và nói nhìn thấy anh Sơn rồi. Hướng về phía mọi người đang vẫy tay, tôi cũng không nhớ rõ là có những ai, nhưng nhớ là có nhiều người đến đón. Vì phi trường quá đông người, cho nên sự gặp gỡ ban đầu thật ngắn gọn, vài lời chào hỏi, vỗ vai, cười nói, xong mọi người được phân chia ra. Sự gặp gỡ này thật ngoài sự tưởng tượng của tôi vì tôi thường nghe người ta kể lại cảnh khóc lóc khi gặp lại gia đình sau bao nhiêu năm xa cách, tôi tưởng đâu sẽ chứng kiến được người chồng mình rơi những giọt nước mắt…..
Tôi và anh Thạch được đưa lên ngồi sau chiếc taxi, phía trước có tài xế và một chàng thanh niên. Tôi bị giật mình vì nghe tiếng bấm còi, rồi không biết tại sao chung quanh mình xe nào cũng bấm còi inh ỏi kiểu này. Taxi vừa rời khỏi phi trường vài phút thì chàng thanh niên ngồi phía trước đã quay lại hỏi : “Anh Thạch biết em là ai đây không ?”, anh Thạch ngập ngừng mấy giây thì chàng thanh niên lại nói tiếp : “Em nè, em là Vũ nè!”. Tôi nhận thấy được sự ngạc nhiên của anh Thạch vì không nhận ra được đứa em út, không ngờ đã to lớn tới vậy rồi, những gì tôi nghe kể lại về Vũ chỉ dừng lại lúc Vũ 5, 6 tuổi gì đó…nghĩ đến cảnh ngộ lúc đó, tôi càng cảm thông hơn với sự nhớ nhung và trông ngóng của người chồng đã xa gia đình hơn 14 năm.
Về đến nhà trọ ở Vườn Chuối
Chiếc xe taxi đưa chúng tôi đến nhà trọ ở khu Vườn Chuối mà Quang đã chuẩn bị cho chúng tôi. Mọi người cùng theo chúng tôi về đó. Khi được đưa vào phòng, tôi còn nhớ Quang, Trinh có hỏi tôi : “Chị Quỳnh Anh có mệt không?” tôi chỉ biết cười cười thôi. Rồi ai đó ra vô phòng cũng với cùng một câu hỏi, cuối cùng thì mọi người rút lui xuống nhà dưới, bảo chúng tôi rửa mặt cho mát mẻ rồi xuống dưới chơi. Trời ơi, lúc này thì tôi chỉ muốn được yên lặng, nhảy lên giường ngủ một giấc, chớ đâu còn hơi sức mà gặp ai. Không phải vì chuyến đi xa làm tôi mệt nhưng sự thay đổi đột ngột làm tôi như bị lạc loài, bỡ ngỡ vô cùng, chỉ muốn được yên lặng để có thể trở về lại với hiện tại thôi. Biết là mình không phải nhưng cũng đành nói với anh Thạch : “Anh xuống thăm hỏi mọi người đi, em mệt lắm, ngày mai mới thăm hỏi sau”.
(Sơn: Q.Anh nhấp nhỏm lo âu vì phải làm quen với bao nhiêu người lạ trong một gia đình mới thì anh cũng nôn nao không kém, vì khi anh ra đi, các em từ Trinh trở xuống còn là con nít, mà khi anh về các em đã là những thanh niên thiếu nữ trường thành. Anh nhớ ngày đầu tiên sau khi đi đón anh Thạch và chị Q.Anh về phòng trọ ở Vườn Chuối thì mình kéo nhau đi ăn tối tại Nhà Hàng Thanh Niên. Trước khi ra xe đi ăn, mưa một trận xối xả. Lúc này Quang còn độc thân nhưng có thêm cái rờ mọc dễ thương là Chánh. Cũng trong lần này anh được gặp và làm quen với những em dâu em rể mới là Mãng, là Xuân, là Điệp và biết mặt các cháu. Nam thì chưa xuất hiện chính thức vào lúc này và Chinh Vũ hình như chưa quen nhau. Phải công nhận các dâu rể thật dễ mến và khéo ăn khéo ở !)Đi ‘xe đò cao cấp’ về Phan Thiết
Về đến Saigon chỉ mới mấy ngày mà tôi dần dần quen với tiếng ồn ào của thành phố, đã bớt giật mình khi nửa đêm nghe tiếng Việt Nam bên ngoài nhà trọ, quen với những tiếng hàng rong khi trời mới sáng, nhưng vẫn còn biết bao nhiêu ngạc nhiên khác…
Sau khi ở Saigon được vài ngày thì tôi cùng với mọi người lên đường về nhà, chặng đầu tiên là ghé ngang Phan Thiết. Sáng hôm đó, tôi còn nhớ là Giang chạy đi mua vé xe, tôi có hỏi là mình đi loại xe nào, thì nghe trả lời là loại ‘xe đò cao cấp’, có máy lạnh và TV, thoải mái lắm. Lúc mới lên xe thì thấy thoải mái thật, mỗi người một ghế, có máy lạnh đàng hoàng. Khi xe ra khỏi bến xe mới mấy cây số thì máy lạnh đã bị tắt hết, mọi người mở hết cửa sổ ra, rồi từ từ, những chiếc ghế ‘xúp’ được moi ra và mấy anh lơ xe đưa tay để đón thêm khách, thế là ‘chiếc xe đò cao cấp’ đông nghẹt người , với nào là trái cây, gà vịt cột trên mui xe, có lẽ là tôi chưa bao giờ được chứng kiến những cảnh như vậy, trên đường, nào là xe đạp, người đi bộ, xe gắn máy, xe hơi, xe đò, xe máy cày…không hiểu sao hỗn loạn như vậy mà không gây tai nạn. Chặng đường chỉ có 200 cây số đã tốn hết gần 6 tiếng mới đến nơi, khi đến nơi rửa mặt thì mới thấy mặt mình gần giống như cục than….thầm nghĩ tới ‘xe đò cao cấp’ kiểu này mà còn phải đi thêm 250 cây số nữa chắc là ‘chết chắc’.
Về nhà
Sau mấy ngày vui chơi thăm viếng thành phố Phan Thiết cùng các anh chị em, thì mọi người cùng lên đường ‘về nhà’. Cái ‘về nhà’ đây thật là mới lạ, với bao nhiêu sự hồi hộp, bồn chồn, lo lắng. Trong gia đình tôi, những anh chị lớn đã lập gia đình, đều có gia đình nhà chồng sống tại cùng thành phố, cho nên các anh chị không có được những kinh nghiệm để chia sẻ và trao đổi với tôi trước ngày tôi về nhà chồng. Những cái lo âu như làm sao xưng hô, vì cái tuổi của tôi thì nhỏ nhưng vai vế thì lại lớn. Vì đã sống ở nước ngoài lâu năm nên cách xưng hô mà tôi thường dùng trong gia đình hay với bạn bè tôi rất là giản dị : ai lớn, gọi anh gọi chi, ai nhỏ thì kêu em hay xưng tên, không phân biệt vai vế lớn nhỏ, những lúc bối rối thì dùng ‘toi, moi, you, me’ gì đó là xong. Rồi những cái lo khác như không biết mình có hiểu đủ tiếng Việt, nhất là cái giọng địa phương xa lạ với tôi, để cùng mọi người trao đổi hay không, cha mẹ và các thành viên trong gia đình không biết có sẽ hài lòng với cô con dâu mới và hoan nghinh chào đón mình hay không?
Chuyến đi từ Phan Thiết về đến nhà thật là vất vả, tôi còn nhớ rõ cái cảm giác không khác gì như cưỡi ngựa, nhất là chặng đường từ Ban Mê Thuột về Đức Minh. Với tôi, suốt đoạn đường đi toàn là những cảnh xa lạ, cảnh vật đồng quê, đất đỏ, những ngôi nhà lá đơn sơ hai bên đường, những người thợ sửa đường với đôi bàn tay thay cho máy móc v.v. Lúc nhỏ khi còn ở Việt Nam, ngoài Sàigòn, tôi thường được viếng thăm quê nội ngoại ở Đà Nẵng, đã du lịch ở Vũng Tàu, Đà Lạt và Cần Thơ, mà tôi thì không còn nhớ gì về những nơi ấy. Cho nên tôi không tưởng tượng được cái nhà, nơi mà tôi sẽ về nó sẽ ra sao, tuy là đã nghe anh Thạch kể rất nhiều về căn nhà ấy.
Ngày chúng tôi về tới nhà thì trời đã tối, cái lạ đầu tiên là căn nhà được soi sáng bằng những chiếc đèn lờ mờ… rồi mọi người xuống xe, anh em cha mẹ vui vẻ chào hỏi nhau bằng những tiếng cười, những bàn tay xiết mạnh… không có màn ‘chính thức’ giới thiệu những thành viên mới gia nhập vào gia đình, không có những màn cha mẹ ôm ấp những đứa con thân yêu đã trở về sau mười mấy năm xa cách, cũng không có những khóc lóc nhớ thương như tôi tưởng tượng….Thay vào đó, tôi đã chứng kiến được cảnh vui mừng cho cuộc đoàn tụ và sự chào đón tất cả các con trở về, bất kể từ xa hay gần, qua những cử chỉ quan tâm thay cho những lời nói….
(Giang: Chị Quỳnh Anh tưởng tượng ra nhiều “màn” thật là lãng mạn, nào là khóc lóc ở phi trường, nào là trịnh trọng giới thiệu thành viên mới ở gia đình,… quả thật là cả nhà không có những nghi lễ hoành tráng, hay những thể hiện niềm vui một cách ấn tượng và mạnh mẽ mà thay vào đó là sự chia sẻ nhẹ nhàng. Tâm trạng em hồi ấy không giống như chị Anh, chẳng hề cảm thấy băn khoăn về những nhân vật mới, những khác biệt mà mình phải đối diện, chỉ nghĩ rằng mình sẽ được gặp các anh, các chị là những người thân, đã thân thì hiểu nhau, mà đã hiểu nhau thì đâu còn cần hình thức nữa. Em rất bất ngờ khi đọc thấy tình huống Vũ hỏi anh Thạch trên xe taxi, thật là quá cẩn thận! Bởi vì em không có ý nghĩ là anh Thạch và anh Sơn không biết mặt mình.
Nói về sự ồn ào và náo nhiệt của Sài Gòn thì hiện nay nó đã ở mức kinh khủng, có thể nói là đã gần đến ngưỡng chịu đựng của con người sống! Tiếng ồn, không khí ô nhiễm, giao thông tê liệt, đường bị ngập nước là chuyện thường ngày mà những người đi lại nhiều như em phải đối diện. Riêng tiếng còi xe thì nó đã phát triển với đủ loại âm tiết khác nhau chứ không còn nghe “tin tin” như trước nữa! Tuy vậy, niềm an ủi là chị có thể chọn được những dịch vụ theo ý mình chứ không còn bị đi “xe đò cao cấp” như 15 năm về trước.)
Tuy là những ngày chung sống cùng gia đình thật ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để cho tôi tìm được sự thân thiết với những bàn tay mở rộng đón tiếp tôi gia nhập gia đình. Cám ơn cha me, các anh chị em và các cháu đã mang lại cho tôi tình thân và sự ấm áp… để cho tôi, dù ở phương xa, luôn luôn hướng về mái nhà thân yêu…
(Chị Tuyết : Đối với Quỳnh Anh chị có hai kỷ niệm thật vắn gọn nhưng đầy ý nghĩa. Lần đầu tiên, nhỏ thôi. Chị nhớ em có gửi cho chị một lá thư, viết lúc em đã có bé Đan Thùy. Nói rằng từ khi có con, em thấy mình thay đổi hẳn tư cách. Trước đây sống hồn nhiên vô ăn vô lo thì bây giờ cảm thấy có trách nhiệm, bắt đầu biết để ý lo lắng và quán xuyến mọi việc trong gia đình. Ngày trước sống sao cũng được. Bây giờ phải đàng hoàng nghiêm chỉnh.
Là một người tu quan sát đời sống gia đình. Chị thấy Chúa dùng con cái để huấn luyện cho cha mẹ được trưởng thành trong tình yêu. Biết sống tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn. Tập chịu đựng, tập hi sinh, biết sống không còn cho riêng mình mà lo cho mầm sống mới Chúa ban cho mình nơi con cái. Nhất là vai trò người phụ nữ trong gia đình
Thay đổi như vậy nên lần thứ hai, gặp em ở Paris, chị thấy em khác hẳn với lần đầu tiên về Việt Nam.
Lần đó hai chị em ngồi nói chuyện với nhau khá lâu ở dưới chân tháp Eiffel. Em còn nhớ không, khi hỏi em về chuyện gia đình thì câu trả lời rõ ràng của em là «gia đình rất hạnh phúc». Câu trả lời thật chân thành đơn giản mà chị chưa hề được nghe ai thốt ra một cách thanh thản đến thế. Chị thật vui mừng và sung sướng với em. Nhưng chị biết rằng để xây dựng được một tổ ấm hạnh phúc điều trước tiên là nhờ ơn Chúa nhưng đồng thời cũng cần nhiều nỗ lực cố gắng của chính mình. Cần phải học bài học yêu thương suốt cả đời.
Nghe và nhìn cách em ăn nói ứng xử với chồng con, với người ngoài, với thân tộc, chị nhận thấy Chúa ban cho em, người phụ nữ, có một khả năng thật tuyệt vời. Cám ơn em.)
Chuẩn bị cho chuyến đi
Rời Việt Nam khi tôi mới lên 12 với toàn thế gia đình, trong quá trình trưởng thành, đôi khi tôi quên hẳn mình từ đâu đến, không còn phân biệt là mình đang sống tại nước ngoài vì tôi hoàn toàn hòa mình được với cuộc sống tại Canada, cũng không có những nhớ nhung, trông ngóng hay thiết tha gì về nước Việt Nam vì cha me và anh chị em đều chung sống bên cạnh tôi mỗi ngày…cho đến khi tôi gặp anh Thạch. Anh Thạch đã đưa tôi trở về lại nguồn gốc của mình, cho tôi tìm thấy lại TÔI, một cô gái hoàn toàn Việt Nam… và từ đó, tôi đã chia sẻ được sự nhớ nhung, trông ngóng về nước Việt Nam thân yêu, trông mong một ngày hội ngộ cùng cha mẹ và các anh chị em, tuy chưa một lần gặp mặt nhưng đã rất thân thuộc qua những hình ảnh tôi được xem hay những mẩu chuyện mà anh Thạch kể lại.
Lúc chuẩn bị đám cưới, sự lựa chọn địa điểm của tuần trăng mật rất là dễ dàng vì cả hai chúng tôi đều thấy không thấy nơi đâu bằng Việt Nam để đánh dấu cho sự bắt đầu của cuộc sống mới. Trước khi lên đường, tôi đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc gặp gỡ, xem lại nhiều hình ảnh gia đình, học thuộc tên các anh chị em và các cháu.
Kỷ niệm đầu khi đến Sàigòn
Sau hơn 35 tiếng đồng hồ từ khi rời phi trường Montréal, với 3 chặng đổi máy bay tại Toronto, Vancouver và Hồng Kông, chiếc máy bay của hãng Cathay Pacific đã đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Lòng tôi thật là hoang mang, hồi hộp, một cảm giác thật khó diễn tả…..đã tới nơi rồi, Saigon thân yêu, nơi mà tôi được sanh ra và lớn lên. Vài phút nữa đây, tôi sẽ gặp lại được những khung cảnh ngày xưa nhưng không biết là mình sẽ còn nhớ gì không hay là tất cả đều xa lạ? Hành lý đã lo xong, 2 vợ chồng tôi cùng bước ra khỏi phi trường. Tôi như muốn ngộp thở vì hơi nóng, cái nóng oi bức mà dường như tôi chưa bao giờ nhận thấy, lại choáng váng vì chung quanh mình quá đông đảo, tôi nghe những tiếng gọi nhau ầm ĩ, lại toàn là tiếng Việt Nam…khung cảnh này quá xa lạ với tôi. Rồi anh Thạch chỉ tới hướng bên kia và nói nhìn thấy anh Sơn rồi. Hướng về phía mọi người đang vẫy tay, tôi cũng không nhớ rõ là có những ai, nhưng nhớ là có nhiều người đến đón. Vì phi trường quá đông người, cho nên sự gặp gỡ ban đầu thật ngắn gọn, vài lời chào hỏi, vỗ vai, cười nói, xong mọi người được phân chia ra. Sự gặp gỡ này thật ngoài sự tưởng tượng của tôi vì tôi thường nghe người ta kể lại cảnh khóc lóc khi gặp lại gia đình sau bao nhiêu năm xa cách, tôi tưởng đâu sẽ chứng kiến được người chồng mình rơi những giọt nước mắt…..
Tôi và anh Thạch được đưa lên ngồi sau chiếc taxi, phía trước có tài xế và một chàng thanh niên. Tôi bị giật mình vì nghe tiếng bấm còi, rồi không biết tại sao chung quanh mình xe nào cũng bấm còi inh ỏi kiểu này. Taxi vừa rời khỏi phi trường vài phút thì chàng thanh niên ngồi phía trước đã quay lại hỏi : “Anh Thạch biết em là ai đây không ?”, anh Thạch ngập ngừng mấy giây thì chàng thanh niên lại nói tiếp : “Em nè, em là Vũ nè!”. Tôi nhận thấy được sự ngạc nhiên của anh Thạch vì không nhận ra được đứa em út, không ngờ đã to lớn tới vậy rồi, những gì tôi nghe kể lại về Vũ chỉ dừng lại lúc Vũ 5, 6 tuổi gì đó…nghĩ đến cảnh ngộ lúc đó, tôi càng cảm thông hơn với sự nhớ nhung và trông ngóng của người chồng đã xa gia đình hơn 14 năm.
Về đến nhà trọ ở Vườn Chuối
Chiếc xe taxi đưa chúng tôi đến nhà trọ ở khu Vườn Chuối mà Quang đã chuẩn bị cho chúng tôi. Mọi người cùng theo chúng tôi về đó. Khi được đưa vào phòng, tôi còn nhớ Quang, Trinh có hỏi tôi : “Chị Quỳnh Anh có mệt không?” tôi chỉ biết cười cười thôi. Rồi ai đó ra vô phòng cũng với cùng một câu hỏi, cuối cùng thì mọi người rút lui xuống nhà dưới, bảo chúng tôi rửa mặt cho mát mẻ rồi xuống dưới chơi. Trời ơi, lúc này thì tôi chỉ muốn được yên lặng, nhảy lên giường ngủ một giấc, chớ đâu còn hơi sức mà gặp ai. Không phải vì chuyến đi xa làm tôi mệt nhưng sự thay đổi đột ngột làm tôi như bị lạc loài, bỡ ngỡ vô cùng, chỉ muốn được yên lặng để có thể trở về lại với hiện tại thôi. Biết là mình không phải nhưng cũng đành nói với anh Thạch : “Anh xuống thăm hỏi mọi người đi, em mệt lắm, ngày mai mới thăm hỏi sau”.
(Sơn: Q.Anh nhấp nhỏm lo âu vì phải làm quen với bao nhiêu người lạ trong một gia đình mới thì anh cũng nôn nao không kém, vì khi anh ra đi, các em từ Trinh trở xuống còn là con nít, mà khi anh về các em đã là những thanh niên thiếu nữ trường thành. Anh nhớ ngày đầu tiên sau khi đi đón anh Thạch và chị Q.Anh về phòng trọ ở Vườn Chuối thì mình kéo nhau đi ăn tối tại Nhà Hàng Thanh Niên. Trước khi ra xe đi ăn, mưa một trận xối xả. Lúc này Quang còn độc thân nhưng có thêm cái rờ mọc dễ thương là Chánh. Cũng trong lần này anh được gặp và làm quen với những em dâu em rể mới là Mãng, là Xuân, là Điệp và biết mặt các cháu. Nam thì chưa xuất hiện chính thức vào lúc này và Chinh Vũ hình như chưa quen nhau. Phải công nhận các dâu rể thật dễ mến và khéo ăn khéo ở !)Đi ‘xe đò cao cấp’ về Phan Thiết
Về đến Saigon chỉ mới mấy ngày mà tôi dần dần quen với tiếng ồn ào của thành phố, đã bớt giật mình khi nửa đêm nghe tiếng Việt Nam bên ngoài nhà trọ, quen với những tiếng hàng rong khi trời mới sáng, nhưng vẫn còn biết bao nhiêu ngạc nhiên khác…
Sau khi ở Saigon được vài ngày thì tôi cùng với mọi người lên đường về nhà, chặng đầu tiên là ghé ngang Phan Thiết. Sáng hôm đó, tôi còn nhớ là Giang chạy đi mua vé xe, tôi có hỏi là mình đi loại xe nào, thì nghe trả lời là loại ‘xe đò cao cấp’, có máy lạnh và TV, thoải mái lắm. Lúc mới lên xe thì thấy thoải mái thật, mỗi người một ghế, có máy lạnh đàng hoàng. Khi xe ra khỏi bến xe mới mấy cây số thì máy lạnh đã bị tắt hết, mọi người mở hết cửa sổ ra, rồi từ từ, những chiếc ghế ‘xúp’ được moi ra và mấy anh lơ xe đưa tay để đón thêm khách, thế là ‘chiếc xe đò cao cấp’ đông nghẹt người , với nào là trái cây, gà vịt cột trên mui xe, có lẽ là tôi chưa bao giờ được chứng kiến những cảnh như vậy, trên đường, nào là xe đạp, người đi bộ, xe gắn máy, xe hơi, xe đò, xe máy cày…không hiểu sao hỗn loạn như vậy mà không gây tai nạn. Chặng đường chỉ có 200 cây số đã tốn hết gần 6 tiếng mới đến nơi, khi đến nơi rửa mặt thì mới thấy mặt mình gần giống như cục than….thầm nghĩ tới ‘xe đò cao cấp’ kiểu này mà còn phải đi thêm 250 cây số nữa chắc là ‘chết chắc’.
Về nhà
Sau mấy ngày vui chơi thăm viếng thành phố Phan Thiết cùng các anh chị em, thì mọi người cùng lên đường ‘về nhà’. Cái ‘về nhà’ đây thật là mới lạ, với bao nhiêu sự hồi hộp, bồn chồn, lo lắng. Trong gia đình tôi, những anh chị lớn đã lập gia đình, đều có gia đình nhà chồng sống tại cùng thành phố, cho nên các anh chị không có được những kinh nghiệm để chia sẻ và trao đổi với tôi trước ngày tôi về nhà chồng. Những cái lo âu như làm sao xưng hô, vì cái tuổi của tôi thì nhỏ nhưng vai vế thì lại lớn. Vì đã sống ở nước ngoài lâu năm nên cách xưng hô mà tôi thường dùng trong gia đình hay với bạn bè tôi rất là giản dị : ai lớn, gọi anh gọi chi, ai nhỏ thì kêu em hay xưng tên, không phân biệt vai vế lớn nhỏ, những lúc bối rối thì dùng ‘toi, moi, you, me’ gì đó là xong. Rồi những cái lo khác như không biết mình có hiểu đủ tiếng Việt, nhất là cái giọng địa phương xa lạ với tôi, để cùng mọi người trao đổi hay không, cha mẹ và các thành viên trong gia đình không biết có sẽ hài lòng với cô con dâu mới và hoan nghinh chào đón mình hay không?
Chuyến đi từ Phan Thiết về đến nhà thật là vất vả, tôi còn nhớ rõ cái cảm giác không khác gì như cưỡi ngựa, nhất là chặng đường từ Ban Mê Thuột về Đức Minh. Với tôi, suốt đoạn đường đi toàn là những cảnh xa lạ, cảnh vật đồng quê, đất đỏ, những ngôi nhà lá đơn sơ hai bên đường, những người thợ sửa đường với đôi bàn tay thay cho máy móc v.v. Lúc nhỏ khi còn ở Việt Nam, ngoài Sàigòn, tôi thường được viếng thăm quê nội ngoại ở Đà Nẵng, đã du lịch ở Vũng Tàu, Đà Lạt và Cần Thơ, mà tôi thì không còn nhớ gì về những nơi ấy. Cho nên tôi không tưởng tượng được cái nhà, nơi mà tôi sẽ về nó sẽ ra sao, tuy là đã nghe anh Thạch kể rất nhiều về căn nhà ấy.
Ngày chúng tôi về tới nhà thì trời đã tối, cái lạ đầu tiên là căn nhà được soi sáng bằng những chiếc đèn lờ mờ… rồi mọi người xuống xe, anh em cha mẹ vui vẻ chào hỏi nhau bằng những tiếng cười, những bàn tay xiết mạnh… không có màn ‘chính thức’ giới thiệu những thành viên mới gia nhập vào gia đình, không có những màn cha mẹ ôm ấp những đứa con thân yêu đã trở về sau mười mấy năm xa cách, cũng không có những khóc lóc nhớ thương như tôi tưởng tượng….Thay vào đó, tôi đã chứng kiến được cảnh vui mừng cho cuộc đoàn tụ và sự chào đón tất cả các con trở về, bất kể từ xa hay gần, qua những cử chỉ quan tâm thay cho những lời nói….
(Giang: Chị Quỳnh Anh tưởng tượng ra nhiều “màn” thật là lãng mạn, nào là khóc lóc ở phi trường, nào là trịnh trọng giới thiệu thành viên mới ở gia đình,… quả thật là cả nhà không có những nghi lễ hoành tráng, hay những thể hiện niềm vui một cách ấn tượng và mạnh mẽ mà thay vào đó là sự chia sẻ nhẹ nhàng. Tâm trạng em hồi ấy không giống như chị Anh, chẳng hề cảm thấy băn khoăn về những nhân vật mới, những khác biệt mà mình phải đối diện, chỉ nghĩ rằng mình sẽ được gặp các anh, các chị là những người thân, đã thân thì hiểu nhau, mà đã hiểu nhau thì đâu còn cần hình thức nữa. Em rất bất ngờ khi đọc thấy tình huống Vũ hỏi anh Thạch trên xe taxi, thật là quá cẩn thận! Bởi vì em không có ý nghĩ là anh Thạch và anh Sơn không biết mặt mình.
Nói về sự ồn ào và náo nhiệt của Sài Gòn thì hiện nay nó đã ở mức kinh khủng, có thể nói là đã gần đến ngưỡng chịu đựng của con người sống! Tiếng ồn, không khí ô nhiễm, giao thông tê liệt, đường bị ngập nước là chuyện thường ngày mà những người đi lại nhiều như em phải đối diện. Riêng tiếng còi xe thì nó đã phát triển với đủ loại âm tiết khác nhau chứ không còn nghe “tin tin” như trước nữa! Tuy vậy, niềm an ủi là chị có thể chọn được những dịch vụ theo ý mình chứ không còn bị đi “xe đò cao cấp” như 15 năm về trước.)
Tuy là những ngày chung sống cùng gia đình thật ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để cho tôi tìm được sự thân thiết với những bàn tay mở rộng đón tiếp tôi gia nhập gia đình. Cám ơn cha me, các anh chị em và các cháu đã mang lại cho tôi tình thân và sự ấm áp… để cho tôi, dù ở phương xa, luôn luôn hướng về mái nhà thân yêu…
(Chị Tuyết : Đối với Quỳnh Anh chị có hai kỷ niệm thật vắn gọn nhưng đầy ý nghĩa. Lần đầu tiên, nhỏ thôi. Chị nhớ em có gửi cho chị một lá thư, viết lúc em đã có bé Đan Thùy. Nói rằng từ khi có con, em thấy mình thay đổi hẳn tư cách. Trước đây sống hồn nhiên vô ăn vô lo thì bây giờ cảm thấy có trách nhiệm, bắt đầu biết để ý lo lắng và quán xuyến mọi việc trong gia đình. Ngày trước sống sao cũng được. Bây giờ phải đàng hoàng nghiêm chỉnh.
Là một người tu quan sát đời sống gia đình. Chị thấy Chúa dùng con cái để huấn luyện cho cha mẹ được trưởng thành trong tình yêu. Biết sống tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn. Tập chịu đựng, tập hi sinh, biết sống không còn cho riêng mình mà lo cho mầm sống mới Chúa ban cho mình nơi con cái. Nhất là vai trò người phụ nữ trong gia đình
Thay đổi như vậy nên lần thứ hai, gặp em ở Paris, chị thấy em khác hẳn với lần đầu tiên về Việt Nam.
Lần đó hai chị em ngồi nói chuyện với nhau khá lâu ở dưới chân tháp Eiffel. Em còn nhớ không, khi hỏi em về chuyện gia đình thì câu trả lời rõ ràng của em là «gia đình rất hạnh phúc». Câu trả lời thật chân thành đơn giản mà chị chưa hề được nghe ai thốt ra một cách thanh thản đến thế. Chị thật vui mừng và sung sướng với em. Nhưng chị biết rằng để xây dựng được một tổ ấm hạnh phúc điều trước tiên là nhờ ơn Chúa nhưng đồng thời cũng cần nhiều nỗ lực cố gắng của chính mình. Cần phải học bài học yêu thương suốt cả đời.
Nghe và nhìn cách em ăn nói ứng xử với chồng con, với người ngoài, với thân tộc, chị nhận thấy Chúa ban cho em, người phụ nữ, có một khả năng thật tuyệt vời. Cám ơn em.)
Con nhà tông
… không giống lông cũng giống cánh.
Cha rất giỏi về nhạc và thể thao. Khi còn nhỏ, trong làng, cha với các bác là những cầu thủ bóng tròn sáng giá. Chú Bích kể lại rằng cha với các bác dẫn banh đi khắp sân, vượt qua hàng phòng vệ, có khi rách cả áo mà người và banh vẫn lọt qua dễ dàng. Trong các trận đấu, mỗi lần anh em trong nhà đón được banh thì niềm hy vọng làm bàn lại dậy lên. Vào thời buổi mà tân nhạc du nhập từ Tây phương còn lạ lẫm mới mẻ, vì trong xã hội vẫn còn thịnh hành loại nhạc ngũ cung của Trung Hoa, thì cha đã biết tìm hiểu nghiên cứu để có những kiến thức căn bản về nhạc mới này. Không những chỉ biết nhạc lý mà cha còn chơi được một số nhạc cụ khác nữa như vĩ cầm, phong cầm … Còn mẹ là giọng hát hay nổi tiếng của xứ. Vì thế cho nên con cái sinh ra ai cũng có cái máu âm nhạc và thể thao tự nhiên trong người.
Về âm nhạc thì anh nhớ là mỗi tối, sau khi ăn cơm và tắm rửa xong rồi đọc kinh, là được cha tập cho một vài câu trong bài hát. Hai chị em ngồi trên giường, cha hát, rồi mình hát theo. Những bài như “Anh nghe chăng cung kèn rạng đông …” hay là “Đồng một lòng chúng ta cố chèo …” đã đi vào giấc ngủ và in hằn trong ký ức tuổi thơ. Độc đáo nhất là bài “Vừng dương đang gieo vàng trên sông núi …”. Sau này lớn lên, có những điều quên hết, nhưng những bài hát đã được cha tập cho vào lúc 3 hay 4 tuổi thì vẫn còn nhớ. Số bài hát tăng dần và biến đổi theo thời gian. Khi trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy xuất bản, ít người ở ngoài biết đến nó, vì trường ca này thuộc loại nhạc khó thưởng thức. Cha đã đi Sài gòn mua về và hát ở nhà, nên con cái đứa nào cũng hát theo và thuộc lòng nhiều đoạn.
(Thạch : Có một ngày, hình như chị Tuyết và anh Sơn còn ở nhà, cha mua về một cuốn sách hát có tên là KH, của Vinh Hạnh, bìa có hình nhiều cái bong bóng đủ màu, và cha bắt đầu tập cho mấy chị em hát. Có những bài như “Nhà em có một vườn rau”, “Đại bác bắn làm sao”, “Cái bi dòn dòn”,…
Và hình như sau đó không lâu thì cha mua về một cái đàn mandoline, ba chị em thay nhau tập gảy đàn nhưng sau một thời gian thì chị Tuyết và anh Sơn có vẻ không hứng thú lắm, tôi thì mày mò giỏi hơn nên sau một thời gian thì bắt đầu đánh được theo những bài mình biết hát.
Buổi tối cha thường nằm trên giường chơi trò kẹp mấy đứa con : cha nằm chống chân lên cho có chỗ hổng, mấy đứa rán chui qua nhưng đừng để bị cha kẹp lại. Cũng những buổi tối như thế, cha đánh đàn và hát mấy bài như “Hòn vọng phu”, “Hà nhật quân tái lai”, “Trời hồng hồng, sáng trong trong”, “Giáo đường in bóng”
Thỉnh thoảng cha lấy xe đạp chở lên vườn hoa chơi, nơi ấy hình như cũng chỉ có mấy cây cầu tuột nhưng vẫn thích đi vì có lúc được ăn một cái kẹo bạc hà the the. Đi xe thì anh Sơn ngồi phía sau, tôi phải ngồi trên ghi-đông, quay mặt về phía sau, mới đầu thì sợ lắm nhưng từ từ rồi quen….) (Chị Tuyết: Có một lần sau bữa cơm chiều cha chở ba chị em Tuyết Sơn Thạch lên tỉnh chơi bằng xe đạp. Măt trời đã nhắm mắt đi ngủ nhường chỗ cho các vì sao. Hai bên đường không có cột đèn chiếu sáng nên cha phải thận trọng lắm để tránh những ổ gà trên mặt đường. Thạch thì ngồi trên ghi đông xe. Sơn nếu không ở phía sau với chị Tuyết thì thu gọn ngườiở phía trước giữa cái yên và thân xe đạp. Bốn cha con đang lò dò trong bóng tối như vậy thì chợt có tiếng xe gắn máy (thời ấy chưa có Honda lịch sự như bây giờ) trờ tới phía sau, bóng đèn vàng vọt chiếu sáng trên mặt đường. Thế là cha vội vàng tăng tốc chay đua với xe gắn máy. Ba chị em khoái chí reo lên hào hứng với cuộc đua tài bất ngờ không ngang sức đó. Xe đạp của bốn cha con, dưới tay lái rành nghề và đôi chân mạnh mẽ của cha vọt nhanh lên như gió đồng thời lúc lắc và chao đảo không ngừng theo nhịp vận chuyển tốc hành của đôi chân “lực sĩ.”. Thạch sợ là phải thôi, và phải bám cho thật chặt kẻo mà văng xuống đất ! Còn cha vẫn bình tĩnh tập trung và tiếp tục lèo lái một cách tài tình. Cha tranh thủ ánh sáng của xe gắn máy để lao nhanh một đoạn đường, cho đến khi bị xe ấy qua mặt và bỏ lại sau lưng thì mới trở lại vận tốc bình thường.
Sau đó thì hình như lên tỉnh được ăn cà rem thì phải ! Hoan hô cha mình !!! Ôi những ngày xưa thân ái !!!)
(Trinh : Đến thời của em thì 4 cha con (Phong , Trinh , Nguyên với cha) không đi trên chiếc xe đạp nữa mà trên chiếc xe 67 (honda đen) thường thường chủ nhật nào cha cũng chở đi chơi , hay đi với chú Bích khi thì đi lên Phú Long xem ruộng lúa, khi thì đi Sở Muối , khi thì đi chùa Giác Hoa. Em thường ngồi phía trước bình xăng , hai tay chống lên bình xăng , lâu lâu bị trật tay cha lại tưởng em ngủ gục. Có lần cha chở 3 anh em đi mua đậu xanh và nếp cho mẹ, vào cửa hàng tạp hóa có cái cân bàn cha kêu lên cân lần lượt anh Phong nặng 20 kg , Trinh nặng 15 kg và Nguyên cũng nặng 15 kg, đó là lần đầu tiên em thấy cái cân bàn vì trước đây chỉ thấy cái cân xách tay.)
Những bài hát thì được cha mẹ tập cho, nhưng còn giọng hát thì không ai tập tành gì cả, vì nó tự nhiên. Giọng của các anh chị em trong nhà không phải là một giọng mạnh, nhưng nó êm và với một chút luyện tập thì nó có thể luyến láy và rung ở cuối như những ca sĩ chuyên nghiệp. Anh đã có duyên hát hò với sân khấu từ lúc học lớp ba, đó là vào năm 1961, Tết Trung Thu. Trường tổ chức Văn Nghệ nên anh đã xung phong lên đơn ca một bài. Anh quên tên bài hát nhưng trong đó có câu : “Đêm nay trăng sáng xuống làng, em ra trước cửa em ngồi đón trăng …”. Anh đã hát thử cho thầy giáo và ban tổ chức, và ai cũng thấy hay và thích lắm. Anh cũng hát thử trong lớp, trước mặt các bạn, và hoàn toàn bình thường. Nhưng đến buổi tối trình diễn thì bị trục trặc kỹ thuật vì chạy chơi ngoài gió suốt buổi chiều anh bị cảm, khan tiếng, giọng tịt cứng nói không ra tiếng luôn. Nói còn không được thì hát hò làm sao. Lên cầm micro ò e hai ba câu rồi đi xuống.
Đến khi vô TCV thì các bạn trong lớp làm áp lực để anh ghi tên tuyển lựa ca sĩ, anh hát bài “Đã bao năm rồi không về miền Trung thăm người em …” và đứng thứ hai. Điều thú vị mà anh khám phá ra sau này trong những lần về thăm nhà có dịp hát karaoke, đó là giọng của anh với giọng của Phong giống nhau cách kỳ lạ. Âm sắc và âm vực hoàn toàn như một, đến nỗi trong một bài hát hai người đổi micro cho nhau, người khác không nhận ra. Và Phong cũng đã từng tham dự thi hát ở TCV Thủ đức với bài “Hai mùa mưa” mà anh không nhớ là Phong đã được thứ mấy.
Tiếp tục với truyền thống hát hò và trình diễn của gia đình sau này có Nguyên. Giọng Nguyên dường như khỏe hơn và cách hát cũng linh động hơn. Các em Thạch, Vân, Trinh, Giang đều là những người hát giỏi vì anh đã có dịp nghe hoặc hát chung, riêng Quang và Thủy thì anh chưa có dịp thưởng thức tài năng !
(Giang: Trong vai trò người đệm đàn, em không thấy ai hát hay bằng anh Nguyên cả, vừa truyền cảm vừa say mê đúng chất nghệ sĩ, luôn trung thành với phong cách uyển chuyển khoan thai, đệm đờn cho anh Nguyên hát là đã nhất. Một giọng ca mới nổi là Vũ, tuổi nhỏ ít nghe Vũ hát nhưng từ khi có con thì hát rất khỏe. Chị Trinh có giọng tốt nhưng em thấy hát không tập trung, đặc biệt với những bài dài. Bản thân em có dịp hát ở cuộc thi phong trào Sở Y Tế mới biết mình sở hữu một thanh quản không tốt, giọng hát yếu. Dù sao thì với vốn liếng trời cho, mấy anh chị em trong nhà mình chẳng có tập luyện gì cũng đều diễn văn nghệ được hết. Thật may mắn vì âm nhạc là niềm vui của em, chứ không phải cờ bạc hay một thứ gì khác, bởi vậy anh Sơn tưởng tượng em đã từng đau khổ như thế nào khi có người muốn ngăn cản và xem văn nghệ là mất thời gian, là vô ích.)
(Phong: Lúc ở Phan Thiết, có dịp nói chuyện với cha Hiên, là bạn học cùng lớp với cha mình lúc ở chủng viện, em mới biết đến tài đá banh của cha. Các anh em trai mình ai cũng được hưởng gien di truyền của cha về thể thao. Không xuất sắc và có đủ điều kiện để theo con đường chuyên nghiệp nhưng đủ để chơi nghiệp dư và rèn luyện thân thể. Từ lúc học lớp 6, lớp 7 em đã được vào đội tuyển bóng rổ của chủng viện, đã từng thi đấu với đội tuyển của trường Lasan. Sau giải phóng không có điều kiện chơi bóng rổ nữa, em chơi bóng chuyền. Khi đi học, vào đội tuyển bóng chuyền của trường, đi thi đấu với các đội của trường khác trong các dịp hội thể thao. Ra làm việc cũng vào đội bóng chuyền của Công ty để tham gia các giải phong trào. Bóng bàn, cầu lông, quần vợt môn nào cũng tập chơi và đều chơi được. Điều quan trọng là mình thấy ham thích cộng với chút năng khiếu có sẵn là mình tập chơi được dễ dàng không phải tốn thời gian đi học.
Nói về máu âm nhạc thì đúng là anh chị em trong nhà ai cũng có, đặc biệt là các anh em trai. Trong 6 anh em trai, ngoài Vũ ra, ai cũng có thể chơi được ít nhất một loại nhạc cụ đạt trình độ có thể tự đệm cho mình, cho người khác hát. Không biết các anh em khác có phải theo học thầy hay không, chứ em thì chỉ tự học. Năm học lớp 7 là đã rất thích đánh đàn ghi ta nhưng không có đàn nên phải mượn đàn của đứa bạn để tập chơi từ đó. Em cũng đã có tập chơi mandoline, vĩ cầm, phong cầm, khẩu cầm nhung chỉ ở mức độ bập bẹ. Nguyên rất tài: ngoài guitar còn có thể chơi tốt kèn trompet, accordéon, vĩ cầm. Về giọng hát thì đúng như Giang nói, nhà mình không có được giọng hát khỏe, chỉ đẹp, trầm ấm, nghe rất truyền cảm. Giọng hát này chỉ đủ để thỏa mãn niềm vui cho mình và cho những người yêu thích âm nhạc chứ chưa làm ca sĩ được. Năm 17,18 tuổi khi được xem chương trình ca nhạc của đoàn Quê hương (do Duy Khánh thành lập và là ca sĩ chính), em mê quá chừng và ước mơ mình cũng được biểu diễn trên sân khấu. Khi đi học ở chủng viện các anh lớn thấy em có giọng hát hay nên tập cho hát để thi ca sĩ chứ em không chủ động. Lúc đầu tập bài Roméo et Juliette hát bằng tiếng Pháp nhưng sau không hiểu sao lại đổi thành bài Hai mùa mưa. Lần đó em được đứng thứ nhì. Giọng hát mình ngày càng điêu luyện do mình được hát nhiều trong ca đoàn. Ba năm trong chủng viện em hát bè soprano. Sau giải phóng em hát bè bass ở ca đoàn lớn, phụ trách tập hát cho ca đoàn nhỏ. Đi học thì phụ trách văn nghệ của lớp, tập hát cho lớp trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tập hát cho đội văn nghệ của lớp để tham gia hội diễn. Khi đi làm cũng vào đội văn nghệ của Công ty, tham gia hội diễn nghệ thuật quần chúng, đi biểu diễn một vài nơi trong Tỉnh. Vì thiếu tự tin nên em rất ít khi đơn ca, chỉ hát hợp ca và đánh đàn guitar bass trong ban nhạc. Mỗi lần về nhà dịp nghỉ hè, nghỉ tết lại thấy anh Sơn, anh Thạch ôm đàn hát đủ thứ bài. Em nhớ anh Sơn hay hát các bài như: Coupable, Cuộc tình ngày đó...Hai năm tình lận đận, anh Thạch thì hay hát bài: The house, Gửi hồn trong băng giá...., các bài hát của Nguyễn Trung Cang...Có một lần ở Đắc Min, Sơn-Thạch-Phong đã tập một số bài và đi trình tấu tam ca ở nhà ông Thư.)
(Sơn: Anh cũng không quên được những hát hò vui đùa giữa 3 anh em trên căn gác ở Xã Đoài - Đức Minh, và những lần đi “trình diễn” trên nhà ông bà Thư vào các ngày chúa nhật dịp Phong về nghỉ hè. Bài hát đặc biệt nhất mà 3 cô gái con ông Thư rất thích, đó là bài Quê Hương: “thuở còn thơ, ngày 2 buổi đến trường …” mà bây giờ anh chỉ còn nhớ lõm bõm vài chữ)
(Chị Tuyết : Liên quan đến chuyện ca hát chị còn nhớ hai kỷ niệm không mấy phấn khởi liên quan đến cha :
Một là bị chê !
Đó là lúc cha còn phụ trách ca đoàn ở Vinh Thuỷ. Khoảng tám chín tuổi gì đó, chị cũng được đi theo tập hát với cha. Trong giờ tập hát, dưới bóng đèn dầu lờ mờ trong nhà xứ, cha đề nghị mỗi ca viên hát lên một đoạn nhạc để xem trúng sai hoặc hay dở như thế nào. Đến phiên chị, hát xong, cha chê là hát dở quá ! Chị nhớ chị Huy có giọng hát hay. Thật sự lúc ấy cảm thức về âm nhạc của chị chưa phát triển nên hát dở là phải lắm ! Có lẽ vì thiếu động lực tâm lý nên lúc còn ở nhà chị không tha thiết lắm đến việc ca hát mặc dù vẫn thuộc các bản nhạc mà cha thường hát. Sáng sớm thức dậy là đã nghe cha hát rồi!
Sau này khi vào Dòng. Trong giờ học nhạc lý. Chị rất thích môn xướng âm và đánh nhịp. Biết mình có khiếu về nhạc, từ đó cảm thức về âm nhạc nơi con mới bắt đầu phát triển. Rất thích chơi đàn nhưng không có điều kiện để tập luyện và phát triển như phái nam nên đành từ bỏ ước mơ ! Hơn nữa, thanh quản của chị yếu nên rất dễ đau và mất tiếng. Tập hát thì được nhưng đến ngày lễ thì khản tịt cả cổ không hát được nữa. Chán ơi là chán ! Rồi đến lúc nhà dòng cho đi học nhạc vào năm 1982 ở Sài Gòn thì lại bị phát bệnh basodow, bị viêm họng thường xuyên nên không thu thập đươc chi nhiều. Phải chăng có nợ mà chẳng được nên duyên !
Hai là bị cấm !
Bắt đầu cảm được cái đẹp trong âm nhạc. Mặc dù đi tu chị vẫn thích những bản tình ca. Chị bắt đầu chép bài hát có nốt nhạc và vẽ vời mơ mộng ! Về nhà, cha nghe, liền cấm không được hát. Cụt hứng ! Cha có biết đâu, hát một bản tình ca vì cảm cái đẹp nơi giòng nhạc và ý thơ chứ đâu phải vì mơ mộng tình cảm . . . theo anh chàng nào ! Thì thôi vậy. Nhưng cho đến bây giờ, hình như một ít những bản tình ca chép tay ngày nào còn trẻ vẫn còn đâu dưới đáy rương ! (Sơn: như vậy là chị bị xui. Em cũng bị cha cấm, và thường xuyên nhắc nhở là lo học hành, nhưng cha đâu có ở bên cạnh mà canh mình mãi được, nên hễ có bài nào hay là em kẻ nhạc chép lại để dành làm thành sưu tập. Em có một tập nhạc dày, chép tay rất công phu trong suốt thời gian trung học, mà vì vượt biên nên đành bỏ lại, rồi mất luôn. Một bài hát có nhạc điệu lôi cuốn thì tự nhiên mình thích, bất kể lời nó ra sao. Em nhớ sau này khi Thạch bắt đầu đi học ở TCV Sao biển, cũng bắt đầu chép và sưu tầm nhạc như em vây.)
Bù lại chị để hết tâm hồn vào việc hát Thánh ca. Giọng ca không khoẻ nhưng rất truyền cảm, có hồn, chị thường tập hát và điều khiển ca đoàn. Đó là công việc mà chị làm không biết mệt và đều để lại những ấn tượng tốt đẹp ở những nơi đã phục vụ.
Chị đề nghị ngày mọi người sum họp để mừng lễ cha mẹ nên tổ chức những buổi ca nhạc và hoà tấu cây nhà lá vườn. Cây violon của cha đã bị thất lạc mất rồi, chắc phải mượn hoặc mướn cho cha cây khác để cha làm sống lại những ngày còn xuân.)
Cha rất giỏi về nhạc và thể thao. Khi còn nhỏ, trong làng, cha với các bác là những cầu thủ bóng tròn sáng giá. Chú Bích kể lại rằng cha với các bác dẫn banh đi khắp sân, vượt qua hàng phòng vệ, có khi rách cả áo mà người và banh vẫn lọt qua dễ dàng. Trong các trận đấu, mỗi lần anh em trong nhà đón được banh thì niềm hy vọng làm bàn lại dậy lên. Vào thời buổi mà tân nhạc du nhập từ Tây phương còn lạ lẫm mới mẻ, vì trong xã hội vẫn còn thịnh hành loại nhạc ngũ cung của Trung Hoa, thì cha đã biết tìm hiểu nghiên cứu để có những kiến thức căn bản về nhạc mới này. Không những chỉ biết nhạc lý mà cha còn chơi được một số nhạc cụ khác nữa như vĩ cầm, phong cầm … Còn mẹ là giọng hát hay nổi tiếng của xứ. Vì thế cho nên con cái sinh ra ai cũng có cái máu âm nhạc và thể thao tự nhiên trong người.
Về âm nhạc thì anh nhớ là mỗi tối, sau khi ăn cơm và tắm rửa xong rồi đọc kinh, là được cha tập cho một vài câu trong bài hát. Hai chị em ngồi trên giường, cha hát, rồi mình hát theo. Những bài như “Anh nghe chăng cung kèn rạng đông …” hay là “Đồng một lòng chúng ta cố chèo …” đã đi vào giấc ngủ và in hằn trong ký ức tuổi thơ. Độc đáo nhất là bài “Vừng dương đang gieo vàng trên sông núi …”. Sau này lớn lên, có những điều quên hết, nhưng những bài hát đã được cha tập cho vào lúc 3 hay 4 tuổi thì vẫn còn nhớ. Số bài hát tăng dần và biến đổi theo thời gian. Khi trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy xuất bản, ít người ở ngoài biết đến nó, vì trường ca này thuộc loại nhạc khó thưởng thức. Cha đã đi Sài gòn mua về và hát ở nhà, nên con cái đứa nào cũng hát theo và thuộc lòng nhiều đoạn.
(Thạch : Có một ngày, hình như chị Tuyết và anh Sơn còn ở nhà, cha mua về một cuốn sách hát có tên là KH, của Vinh Hạnh, bìa có hình nhiều cái bong bóng đủ màu, và cha bắt đầu tập cho mấy chị em hát. Có những bài như “Nhà em có một vườn rau”, “Đại bác bắn làm sao”, “Cái bi dòn dòn”,…
Và hình như sau đó không lâu thì cha mua về một cái đàn mandoline, ba chị em thay nhau tập gảy đàn nhưng sau một thời gian thì chị Tuyết và anh Sơn có vẻ không hứng thú lắm, tôi thì mày mò giỏi hơn nên sau một thời gian thì bắt đầu đánh được theo những bài mình biết hát.
Buổi tối cha thường nằm trên giường chơi trò kẹp mấy đứa con : cha nằm chống chân lên cho có chỗ hổng, mấy đứa rán chui qua nhưng đừng để bị cha kẹp lại. Cũng những buổi tối như thế, cha đánh đàn và hát mấy bài như “Hòn vọng phu”, “Hà nhật quân tái lai”, “Trời hồng hồng, sáng trong trong”, “Giáo đường in bóng”
Thỉnh thoảng cha lấy xe đạp chở lên vườn hoa chơi, nơi ấy hình như cũng chỉ có mấy cây cầu tuột nhưng vẫn thích đi vì có lúc được ăn một cái kẹo bạc hà the the. Đi xe thì anh Sơn ngồi phía sau, tôi phải ngồi trên ghi-đông, quay mặt về phía sau, mới đầu thì sợ lắm nhưng từ từ rồi quen….) (Chị Tuyết: Có một lần sau bữa cơm chiều cha chở ba chị em Tuyết Sơn Thạch lên tỉnh chơi bằng xe đạp. Măt trời đã nhắm mắt đi ngủ nhường chỗ cho các vì sao. Hai bên đường không có cột đèn chiếu sáng nên cha phải thận trọng lắm để tránh những ổ gà trên mặt đường. Thạch thì ngồi trên ghi đông xe. Sơn nếu không ở phía sau với chị Tuyết thì thu gọn ngườiở phía trước giữa cái yên và thân xe đạp. Bốn cha con đang lò dò trong bóng tối như vậy thì chợt có tiếng xe gắn máy (thời ấy chưa có Honda lịch sự như bây giờ) trờ tới phía sau, bóng đèn vàng vọt chiếu sáng trên mặt đường. Thế là cha vội vàng tăng tốc chay đua với xe gắn máy. Ba chị em khoái chí reo lên hào hứng với cuộc đua tài bất ngờ không ngang sức đó. Xe đạp của bốn cha con, dưới tay lái rành nghề và đôi chân mạnh mẽ của cha vọt nhanh lên như gió đồng thời lúc lắc và chao đảo không ngừng theo nhịp vận chuyển tốc hành của đôi chân “lực sĩ.”. Thạch sợ là phải thôi, và phải bám cho thật chặt kẻo mà văng xuống đất ! Còn cha vẫn bình tĩnh tập trung và tiếp tục lèo lái một cách tài tình. Cha tranh thủ ánh sáng của xe gắn máy để lao nhanh một đoạn đường, cho đến khi bị xe ấy qua mặt và bỏ lại sau lưng thì mới trở lại vận tốc bình thường.
Sau đó thì hình như lên tỉnh được ăn cà rem thì phải ! Hoan hô cha mình !!! Ôi những ngày xưa thân ái !!!)
(Trinh : Đến thời của em thì 4 cha con (Phong , Trinh , Nguyên với cha) không đi trên chiếc xe đạp nữa mà trên chiếc xe 67 (honda đen) thường thường chủ nhật nào cha cũng chở đi chơi , hay đi với chú Bích khi thì đi lên Phú Long xem ruộng lúa, khi thì đi Sở Muối , khi thì đi chùa Giác Hoa. Em thường ngồi phía trước bình xăng , hai tay chống lên bình xăng , lâu lâu bị trật tay cha lại tưởng em ngủ gục. Có lần cha chở 3 anh em đi mua đậu xanh và nếp cho mẹ, vào cửa hàng tạp hóa có cái cân bàn cha kêu lên cân lần lượt anh Phong nặng 20 kg , Trinh nặng 15 kg và Nguyên cũng nặng 15 kg, đó là lần đầu tiên em thấy cái cân bàn vì trước đây chỉ thấy cái cân xách tay.)
Những bài hát thì được cha mẹ tập cho, nhưng còn giọng hát thì không ai tập tành gì cả, vì nó tự nhiên. Giọng của các anh chị em trong nhà không phải là một giọng mạnh, nhưng nó êm và với một chút luyện tập thì nó có thể luyến láy và rung ở cuối như những ca sĩ chuyên nghiệp. Anh đã có duyên hát hò với sân khấu từ lúc học lớp ba, đó là vào năm 1961, Tết Trung Thu. Trường tổ chức Văn Nghệ nên anh đã xung phong lên đơn ca một bài. Anh quên tên bài hát nhưng trong đó có câu : “Đêm nay trăng sáng xuống làng, em ra trước cửa em ngồi đón trăng …”. Anh đã hát thử cho thầy giáo và ban tổ chức, và ai cũng thấy hay và thích lắm. Anh cũng hát thử trong lớp, trước mặt các bạn, và hoàn toàn bình thường. Nhưng đến buổi tối trình diễn thì bị trục trặc kỹ thuật vì chạy chơi ngoài gió suốt buổi chiều anh bị cảm, khan tiếng, giọng tịt cứng nói không ra tiếng luôn. Nói còn không được thì hát hò làm sao. Lên cầm micro ò e hai ba câu rồi đi xuống.
Đến khi vô TCV thì các bạn trong lớp làm áp lực để anh ghi tên tuyển lựa ca sĩ, anh hát bài “Đã bao năm rồi không về miền Trung thăm người em …” và đứng thứ hai. Điều thú vị mà anh khám phá ra sau này trong những lần về thăm nhà có dịp hát karaoke, đó là giọng của anh với giọng của Phong giống nhau cách kỳ lạ. Âm sắc và âm vực hoàn toàn như một, đến nỗi trong một bài hát hai người đổi micro cho nhau, người khác không nhận ra. Và Phong cũng đã từng tham dự thi hát ở TCV Thủ đức với bài “Hai mùa mưa” mà anh không nhớ là Phong đã được thứ mấy.
Tiếp tục với truyền thống hát hò và trình diễn của gia đình sau này có Nguyên. Giọng Nguyên dường như khỏe hơn và cách hát cũng linh động hơn. Các em Thạch, Vân, Trinh, Giang đều là những người hát giỏi vì anh đã có dịp nghe hoặc hát chung, riêng Quang và Thủy thì anh chưa có dịp thưởng thức tài năng !
(Giang: Trong vai trò người đệm đàn, em không thấy ai hát hay bằng anh Nguyên cả, vừa truyền cảm vừa say mê đúng chất nghệ sĩ, luôn trung thành với phong cách uyển chuyển khoan thai, đệm đờn cho anh Nguyên hát là đã nhất. Một giọng ca mới nổi là Vũ, tuổi nhỏ ít nghe Vũ hát nhưng từ khi có con thì hát rất khỏe. Chị Trinh có giọng tốt nhưng em thấy hát không tập trung, đặc biệt với những bài dài. Bản thân em có dịp hát ở cuộc thi phong trào Sở Y Tế mới biết mình sở hữu một thanh quản không tốt, giọng hát yếu. Dù sao thì với vốn liếng trời cho, mấy anh chị em trong nhà mình chẳng có tập luyện gì cũng đều diễn văn nghệ được hết. Thật may mắn vì âm nhạc là niềm vui của em, chứ không phải cờ bạc hay một thứ gì khác, bởi vậy anh Sơn tưởng tượng em đã từng đau khổ như thế nào khi có người muốn ngăn cản và xem văn nghệ là mất thời gian, là vô ích.)
(Phong: Lúc ở Phan Thiết, có dịp nói chuyện với cha Hiên, là bạn học cùng lớp với cha mình lúc ở chủng viện, em mới biết đến tài đá banh của cha. Các anh em trai mình ai cũng được hưởng gien di truyền của cha về thể thao. Không xuất sắc và có đủ điều kiện để theo con đường chuyên nghiệp nhưng đủ để chơi nghiệp dư và rèn luyện thân thể. Từ lúc học lớp 6, lớp 7 em đã được vào đội tuyển bóng rổ của chủng viện, đã từng thi đấu với đội tuyển của trường Lasan. Sau giải phóng không có điều kiện chơi bóng rổ nữa, em chơi bóng chuyền. Khi đi học, vào đội tuyển bóng chuyền của trường, đi thi đấu với các đội của trường khác trong các dịp hội thể thao. Ra làm việc cũng vào đội bóng chuyền của Công ty để tham gia các giải phong trào. Bóng bàn, cầu lông, quần vợt môn nào cũng tập chơi và đều chơi được. Điều quan trọng là mình thấy ham thích cộng với chút năng khiếu có sẵn là mình tập chơi được dễ dàng không phải tốn thời gian đi học.
Nói về máu âm nhạc thì đúng là anh chị em trong nhà ai cũng có, đặc biệt là các anh em trai. Trong 6 anh em trai, ngoài Vũ ra, ai cũng có thể chơi được ít nhất một loại nhạc cụ đạt trình độ có thể tự đệm cho mình, cho người khác hát. Không biết các anh em khác có phải theo học thầy hay không, chứ em thì chỉ tự học. Năm học lớp 7 là đã rất thích đánh đàn ghi ta nhưng không có đàn nên phải mượn đàn của đứa bạn để tập chơi từ đó. Em cũng đã có tập chơi mandoline, vĩ cầm, phong cầm, khẩu cầm nhung chỉ ở mức độ bập bẹ. Nguyên rất tài: ngoài guitar còn có thể chơi tốt kèn trompet, accordéon, vĩ cầm. Về giọng hát thì đúng như Giang nói, nhà mình không có được giọng hát khỏe, chỉ đẹp, trầm ấm, nghe rất truyền cảm. Giọng hát này chỉ đủ để thỏa mãn niềm vui cho mình và cho những người yêu thích âm nhạc chứ chưa làm ca sĩ được. Năm 17,18 tuổi khi được xem chương trình ca nhạc của đoàn Quê hương (do Duy Khánh thành lập và là ca sĩ chính), em mê quá chừng và ước mơ mình cũng được biểu diễn trên sân khấu. Khi đi học ở chủng viện các anh lớn thấy em có giọng hát hay nên tập cho hát để thi ca sĩ chứ em không chủ động. Lúc đầu tập bài Roméo et Juliette hát bằng tiếng Pháp nhưng sau không hiểu sao lại đổi thành bài Hai mùa mưa. Lần đó em được đứng thứ nhì. Giọng hát mình ngày càng điêu luyện do mình được hát nhiều trong ca đoàn. Ba năm trong chủng viện em hát bè soprano. Sau giải phóng em hát bè bass ở ca đoàn lớn, phụ trách tập hát cho ca đoàn nhỏ. Đi học thì phụ trách văn nghệ của lớp, tập hát cho lớp trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tập hát cho đội văn nghệ của lớp để tham gia hội diễn. Khi đi làm cũng vào đội văn nghệ của Công ty, tham gia hội diễn nghệ thuật quần chúng, đi biểu diễn một vài nơi trong Tỉnh. Vì thiếu tự tin nên em rất ít khi đơn ca, chỉ hát hợp ca và đánh đàn guitar bass trong ban nhạc. Mỗi lần về nhà dịp nghỉ hè, nghỉ tết lại thấy anh Sơn, anh Thạch ôm đàn hát đủ thứ bài. Em nhớ anh Sơn hay hát các bài như: Coupable, Cuộc tình ngày đó...Hai năm tình lận đận, anh Thạch thì hay hát bài: The house, Gửi hồn trong băng giá...., các bài hát của Nguyễn Trung Cang...Có một lần ở Đắc Min, Sơn-Thạch-Phong đã tập một số bài và đi trình tấu tam ca ở nhà ông Thư.)
(Sơn: Anh cũng không quên được những hát hò vui đùa giữa 3 anh em trên căn gác ở Xã Đoài - Đức Minh, và những lần đi “trình diễn” trên nhà ông bà Thư vào các ngày chúa nhật dịp Phong về nghỉ hè. Bài hát đặc biệt nhất mà 3 cô gái con ông Thư rất thích, đó là bài Quê Hương: “thuở còn thơ, ngày 2 buổi đến trường …” mà bây giờ anh chỉ còn nhớ lõm bõm vài chữ)
(Chị Tuyết : Liên quan đến chuyện ca hát chị còn nhớ hai kỷ niệm không mấy phấn khởi liên quan đến cha :
Một là bị chê !
Đó là lúc cha còn phụ trách ca đoàn ở Vinh Thuỷ. Khoảng tám chín tuổi gì đó, chị cũng được đi theo tập hát với cha. Trong giờ tập hát, dưới bóng đèn dầu lờ mờ trong nhà xứ, cha đề nghị mỗi ca viên hát lên một đoạn nhạc để xem trúng sai hoặc hay dở như thế nào. Đến phiên chị, hát xong, cha chê là hát dở quá ! Chị nhớ chị Huy có giọng hát hay. Thật sự lúc ấy cảm thức về âm nhạc của chị chưa phát triển nên hát dở là phải lắm ! Có lẽ vì thiếu động lực tâm lý nên lúc còn ở nhà chị không tha thiết lắm đến việc ca hát mặc dù vẫn thuộc các bản nhạc mà cha thường hát. Sáng sớm thức dậy là đã nghe cha hát rồi!
Sau này khi vào Dòng. Trong giờ học nhạc lý. Chị rất thích môn xướng âm và đánh nhịp. Biết mình có khiếu về nhạc, từ đó cảm thức về âm nhạc nơi con mới bắt đầu phát triển. Rất thích chơi đàn nhưng không có điều kiện để tập luyện và phát triển như phái nam nên đành từ bỏ ước mơ ! Hơn nữa, thanh quản của chị yếu nên rất dễ đau và mất tiếng. Tập hát thì được nhưng đến ngày lễ thì khản tịt cả cổ không hát được nữa. Chán ơi là chán ! Rồi đến lúc nhà dòng cho đi học nhạc vào năm 1982 ở Sài Gòn thì lại bị phát bệnh basodow, bị viêm họng thường xuyên nên không thu thập đươc chi nhiều. Phải chăng có nợ mà chẳng được nên duyên !
Hai là bị cấm !
Bắt đầu cảm được cái đẹp trong âm nhạc. Mặc dù đi tu chị vẫn thích những bản tình ca. Chị bắt đầu chép bài hát có nốt nhạc và vẽ vời mơ mộng ! Về nhà, cha nghe, liền cấm không được hát. Cụt hứng ! Cha có biết đâu, hát một bản tình ca vì cảm cái đẹp nơi giòng nhạc và ý thơ chứ đâu phải vì mơ mộng tình cảm . . . theo anh chàng nào ! Thì thôi vậy. Nhưng cho đến bây giờ, hình như một ít những bản tình ca chép tay ngày nào còn trẻ vẫn còn đâu dưới đáy rương ! (Sơn: như vậy là chị bị xui. Em cũng bị cha cấm, và thường xuyên nhắc nhở là lo học hành, nhưng cha đâu có ở bên cạnh mà canh mình mãi được, nên hễ có bài nào hay là em kẻ nhạc chép lại để dành làm thành sưu tập. Em có một tập nhạc dày, chép tay rất công phu trong suốt thời gian trung học, mà vì vượt biên nên đành bỏ lại, rồi mất luôn. Một bài hát có nhạc điệu lôi cuốn thì tự nhiên mình thích, bất kể lời nó ra sao. Em nhớ sau này khi Thạch bắt đầu đi học ở TCV Sao biển, cũng bắt đầu chép và sưu tầm nhạc như em vây.)
Bù lại chị để hết tâm hồn vào việc hát Thánh ca. Giọng ca không khoẻ nhưng rất truyền cảm, có hồn, chị thường tập hát và điều khiển ca đoàn. Đó là công việc mà chị làm không biết mệt và đều để lại những ấn tượng tốt đẹp ở những nơi đã phục vụ.
Chị đề nghị ngày mọi người sum họp để mừng lễ cha mẹ nên tổ chức những buổi ca nhạc và hoà tấu cây nhà lá vườn. Cây violon của cha đã bị thất lạc mất rồi, chắc phải mượn hoặc mướn cho cha cây khác để cha làm sống lại những ngày còn xuân.)
Một ngã rẽ
Mùa hè 1987, trong thời gian mới kết thúc lớp 9 đang rất rảnh rỗi, sau bữa cơm tối em đạp xe một mình dạo loanh quanh ở Hàng Xanh và Thị Nghè rồi ghé vào một quán nước mía gần cổng nhà thờ Nguyễn Duy Khang, trong đầu nhẹ tênh với ý định xếp sách vở về nhà làm rẫy với cha mẹ. Chẳng biết mình quyết định từ lúc nào và có ai đồng tình hay không nhưng lý lẽ thì đơn sơ và chắc chắn: đi học cũng chẳng làm được gì cho ai, lại tốn tiền mất thời gian, trong khi ở nhà thì đang cần sức người làm việc, mình học được đến đây cũng khá rồi, dừng lại là một quyết định hợp lý. Vừa uống xong ly nước mía đứng lên tính tiền thì có hai anh chị dừng xe đạp ghé vào. Vô tình gặp người quen, đó là bạn anh Phong. Anh này ở bên đường Điện Biên Phủ, có lần anh Phong vào nhà cô Hòa chở em qua đó chơi, đi cùng anh đó ra quán cà phê, hai anh gọi cà phê và thuốc lá, còn em chẳng biết chọn uống gì, cuối cùng anh Phong phải chọn sữa cho em. Nói chuyện qua lại một lúc thì đến chuyện học hành và em nói ra ý định bỏ học. Anh ấy nhíu mày hỏi “Tại sao vậy? Cha mẹ có kêu em về hay không?” Em trả lời không vì đó là quyết định của em mà. Anh ta mới khuyên rằng em đừng nên bỏ phí cơ hội học hành, em nhớ rõ từ “cơ hội”. Anh ấy bảo rằng, anh ấy đã không có cơ hội học hành như em và ảnh đang tiếc cho hoàn cảnh của mình, bây giờ muốn học thì lại phải lo đủ thứ không thể học được. Ảnh cũng nói là em còn nhỏ chưa thấy hết giá trị của việc học đâu. Nghe vậy, em chẳng tỏ thái độ đồng ý hay phản đối gì cả, chỉ nghe, cười cười vậy thôi.
Kết quả cuối cùng thì ai cũng biết, có lẽ anh ấy không biết, nhưng anh ấy đã bỏ một công sức nhỏ để mở một ngã rẽ quan trọng của đời em. Cũng nhờ những ấn tượng này mà bây giờ em biết thông cảm hơn khi nhìn thấy thái độ thờ ơ của các cháu tuổi teen mỗi khi chúng nghe lời khuyên nhủ. (Sơn: Một tác giả tâm lý nổi tiếng của Mỹ đã nói trong bài thuyết trình của ông ta rằng có 3 điều trong cuộc đời có thể để lại dấu ấn lâu dài và có khi có thể cải đổi số phận của một con người, đó là một nơi chốn kỳ thú, một cuốn sách hay, một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người đặc biệt nào đó. Trong trường hợp của Giang, chính sự gặp gỡ bất ngờ với người đàn anh đó đã làm em nhận ra điều mà em không thấy trước kia. Bạn của anh Phong thật tốt vì có lòng quan tâm đến em, một người mà anh ta chỉ quen biết sơ sài)
Kết quả cuối cùng thì ai cũng biết, có lẽ anh ấy không biết, nhưng anh ấy đã bỏ một công sức nhỏ để mở một ngã rẽ quan trọng của đời em. Cũng nhờ những ấn tượng này mà bây giờ em biết thông cảm hơn khi nhìn thấy thái độ thờ ơ của các cháu tuổi teen mỗi khi chúng nghe lời khuyên nhủ. (Sơn: Một tác giả tâm lý nổi tiếng của Mỹ đã nói trong bài thuyết trình của ông ta rằng có 3 điều trong cuộc đời có thể để lại dấu ấn lâu dài và có khi có thể cải đổi số phận của một con người, đó là một nơi chốn kỳ thú, một cuốn sách hay, một cuộc gặp gỡ tình cờ với một người đặc biệt nào đó. Trong trường hợp của Giang, chính sự gặp gỡ bất ngờ với người đàn anh đó đã làm em nhận ra điều mà em không thấy trước kia. Bạn của anh Phong thật tốt vì có lòng quan tâm đến em, một người mà anh ta chỉ quen biết sơ sài)
Xa nhà
Tháng Tám 1983, Giang 11 tuổi được chị Thủy đưa đi Sài gòn, bắt đầu một cuộc sống xa nhà. Ngày rời Đak mil trời mưa nhiều, đường trơn lầy lội. Chuyến đi bắt đầu từ 4 giờ sáng trên một chiếc xe tải không có hàng, dọc đường xe bị trợt xuống mương mấy lần, ngồi trên cabin chỉ mong xe đừng bị lật chứ không hề mong nó mau tới. Khoảng 3 hoặc 4 giờ sáng ngày hôm sau mới tới một nơi khung cảnh khác hoàn toàn thôn quê của mình (bây giờ em đoán đó là thị trấn Thủ Dầu Một, Bình Dương), thấy toàn là đường nhựa, xe chạy có hàng lối đàng hoàng, không khí thì toàn mùi khói xe và xăng dầu. Dọc hai bên đường bán rất nhiều bánh mì và bánh bò, có màu xanh, trắng và hồng. Từ đây lại lên một chiếc xe nhỏ đi tiếp vào Sài gòn, rồi lại đi tiếp bằng xích lô về tới Thị Nghè. Tới nơi bước vào nhà cô Hương thấy Chị Trinh và anh Nguyên đã có mặt ở đó, chị Trinh từ dưới miền tây lên, còn anh Nguyên thì xuống để học tiếp chương trình phổ thông.
Đây là một căn nhà ồn ào, vì ở gần chợ nên nghe người ta rao bán đủ thứ tôm cá rau quả, bên kia thì có người tụng kinh, phía sau có người tập hát còn trong nhà thì có ghi-ta, mandolin, clarinet, piano, trumpet, các con cô chơi hàng ngày. Em vẫn còn vô tư hay chơi giỡn với Thu và Hà, có lúc rượt nhau chạy rầm rầm trên gác bị anh Nguyên gọi xuống la, không cho chơi giỡn với "mấy đứa đó". Cô xây một cái phòng riêng cho 3 chị em ở, có được không gian sinh hoạt riêng khá yên ổn và tự do. Trong phòng chỉ có hai cái giường ngủ và một cái tủ treo quần áo, chẳng có vật dụng gì khác. Mỗi lần anh Nguyên cần tra từ điển hay sai em chạy lên phòng trên, chỗ học hành của mấy người con chú Kim, tra xong về đọc lại nghĩa tiếng Việt cho anh Nguyên, chuyện này diễn ra khá dài ngày và em bị anh Nguyên trách nhiều lần vì tra không tới nơi tới chốn. Lúc đó em chưa phân biệt được thế nào là danh từ, động từ cho nên cứ đọc tất cả nghĩa của chữ đó rồi về nói đại ý cho anh Nguyên. 3 chị em ở đó đã gây nhiều khó chịu cho các con của cô chú, có ai đó đã gắn một cái công tắc vào đường dẫn điện xuống phòng tụi em, khi nào vui vui là tắt điện cứ như là đường dây điện vô tình bị hư vậy, sự cố lặp đi lặp lại nên chị Trinh phải để sẵn một cái đèn dầu trong phòng, khi bị ngắt điện thì thắp đèn dầu, chẳng lấy gì làm khó chịu cả. Một lần khác, em và anh Nguyên đi ăn cơm tối bên nhà cô Hòa về phát hiện cửa phòng khép kín khác thường, anh Nguyên mở ra thì thấy ai đó dùng cây đờn ghi-ta với chăn mền dựng cảnh một xác chết nằm trên giường.
(Sơn: Việc gia đình mình có liên lạc qua lại khá nhiều với gia đình cô chú Kim là từ sau giải phóng, khi gia đình cô chú ấy có kế hoạch đi định cư ở Canada. Vào năm 1983, lúc đó anh đang đi tu và giúp xứ tại một họ đạo Tây thì nhận được thư của cha giới thiệu về gia đình cô chú Kim và cho anh biết là khi họ ra đi thì sẽ bán lại căn nhà ở SG cho mình nên cha muốn biết anh có thể đóng góp giúp cha mẹ thanh toán được không, anh trả lời “Con sẵn sàng, cha mẹ cứ tiến hành rồi bên này con sẽ liên lạc với họ để thanh toán”. Về sau không biết trục trặc lý do gì đó mà không nghe cha nhắc tới chuyện nhà cửa nữa. Từ đó, các em Trinh Nguyên Thủy Giang qua lại với gia đình cô chú thường xuyên, và có thời gian các em còn tá túc nơi nhà cô chú để đi học, không rõ trong thời gian bao lâu. Quang cũng có xuống chơi đôi ba lần nhưng dường như ít hơn, và anh Phong khi đó đang đi nghĩa vụ bên Kampuchia cũng tới thăm một vài lần.
Anh không bao giờ đồng ý chuyện con cái đi ở trong gia đình người khác vì mỗi gia đình có những tập tục riêng, có những mối liên hệ đặc thù giữa các thành viên. Một người lạ đặt chân vào đó rất lạc lõng cho chính đương sự mà còn gây ra phiền toái cho người đón tiếp mình. Ghé thăm chơi vài ba ngày thì không nói, nhưng ở lâu dài tháng này qua tháng nọ là một giải pháp đường cùng khi không còn cách nào khác. Anh cũng hiểu được là hoàn cảnh của gia đình mình lúc đó chắc không có cách nào khác hơn. Kinh nghiệm anh đã thấy là trong trường hợp 2 em Ngân Liêm con chú Điều ở trong nhà mình, và trước đó một ít thời gian, có chú Đính con của ông Vinh, cha gọi bằng cậu ruột, dưới Bình Tuy lên ở trong nhà mình vài tuần lễ hay một hai tháng gì đó.. Giữa người lớn với nhau thì dễ thông cảm, cả 2 bên gia đình đều có ý thức giúp đỡ, san sẻ cho nhau vì tình thân, vì ân nghĩa hay vì bác ái … Nhưng giữa trẻ con với nhau không thể nào không có tranh chấp, ganh tị. Sau này, khi gia đình cô chú qua định cư ở Montreal, 2 anh Thạch Sơn có dịp làm quen tìm hiểu nhiều hơn cô và về những người con trong gia đình cô thì mới thông cảm được với những bẽ bàng tụi em phải chịu đựng).
(Trinh : Sau khi em học xong lớp 12, khoảng tháng 8 năm 1984 thay vì về nhà thì cha báo cho là về chỗ nhà cô Hương, khi em tới nhà cô thì thấy cha đã ở đó, cha nói với em là gia đình cô sẽ đi định cư ở Canada trong khoảng vài ba tháng tới, em ở đây phụ giúp cô việc nhà và các em sẽ xuống đây học, nhà mình sẽ mua lại căn nhà này. Căn nhà của cô mặt trước thì rộng khoảng hơn 4 m thôi nhưng phía sau thì rộng gấp 4 lần phía trước có chỗ đặt bàn để chơi pingpong và cửa sau lại thông ra một cái chợ nhỏ nên mẹ rất thích địa điểm này, mẹ tính sẽ về sống và buôn bán ở đó. Gia đình cô lúc đó có 6 người con trong nhà Đức 21 tuổi, Thiện 19 tuổi, Mỹ 18 tuổi (cùng tuổi với Nguyên), Thu 16 (cùng tuổi với Thủy) Minh 14 và Hà 13 (hơn Giang 1 tuổi). Cô chú rất nghiêm khắc với con cái, có rất nhiều thứ không được phép làm. Nhưng khi Nguyên xuống thì có một thay đổi đó là Nguyên chơi ghita và hát tình ca rất hay (điều mà những người con của Cô Chú Kim không được phép) làm Thu nó khoái vô cùng. Cô Chú rất quý cha mình nên đối xử tốt với mấy chị em, cả những người con của cô cũng vậy. Mâu thuẫn xảy ra lúc gần nghỉ hè mà phải bí mật khỏi người lớn biết nên nó viết một lá thư kể tội 3 chị em mà chủ yếu là em, em và Nguyên ngồi bàn nhau viết một lá thư trả lời (Đức và Minh thì đứng ngoài cuộc chủ yếu là Mỹ, nó kéo Thu, Hà theo còn Thiện thì đứng giữa làm sứ giả hòa bình). Sau đó cô biết được nên đã tịch thu 2 lá thư, bắt ngồi lại với nhau để hoà giải nhưng chẳng giải quyết được gì cả. Em thấy mình chẳng làm gì sai nên cứ tỉnh bơ, không quan tâm đến những trò nó nghĩ ra để phá tụi em. Sau đó ba đứa về nghỉ hè, chiều trước ngày về em đi học anh văn buổi cuối cùng thì Mỹ đi theo và làm hòa với em, thế là xong. Do trục trặc về giấy khám sức khỏe nên gia đình cô đã phải chờ đợi hơn 1 năm so với dự kiến nên gặp khó khăn về tài chánh nên trước khi ra đi phải bán căn nhà với giá 4 cây vàng lấy tiền liền (bán cho nhà mình thì qua bên kia mới lấy tiền). Lúc đó chắc cha không dám mượn tiền để mua nên mình mất cơ hội mua nhà Sài Gòn và số mẹ không được thong thả hơn. Theo em nhận định thì thời gian Nguyên sống trong gia đình cô tạo được ấn tượng rất tốt, chú thường khen Nguyên về cách cư xử rất chững chạc và người lớn và Nguyên cũng giúp cô nhiều việc trong những ngày chuẩn bị đi đoàn tụ).
Chú Kim rất hiền và chẳng thấy lớn tiếng bao giờ, chú đã dạy cho em đọc tiếng Anh khi em còn nhút nhát và mắc cở không dám phát âm. Bài học rất đơn giản: lật sách ra bài đầu tiên, chú đọc từng chữ, lần lượt hết chữ này đến chữ khác, một cách chậm rãi, không lý luận giải thích, không cần biết nghĩa là gì, “học trò” chỉ việc đọc lặp lại những gì mình nghe được. Khi chú nghe thấy tốt rồi thì dừng lại. Dường như buổi học chỉ kéo dài chưa tới 15 phút, và có lẽ chỉ có một hoặc hai bữa mà thôi nhưng hiệu quả là đã đánh tan được sự rụt rè của em.
Từ khi ở nhà cô chú, em mới biết khái niệm ăn sáng, nghĩa là ăn điểm tâm, chỉ một chén cơm chan nước tương thôi, không hề có thêm thịt cá hay bất kỳ thứ gì khác, chị Trinh phải dặn em vì sợ em theo thói quen ở nhà, ăn hết thì đưa chén bới cơm thêm. Sống ở đây một thời gian thì em biết tự giặt đồ, tự khâu vá quần áo, rửa chén... đến khi không có chị Trinh thì em cũng tự thêu tên lên cái bảng tên trường may lên ngực áo.
Em không nhớ ai bày cho viết lá thư đầu tiên nhưng sau đó viết rất nhiều, viết cho chị Quang nhiều nhất, cứ vài tuần lại ra bưu điện gởi 1 lá rồi ngồi mong nhận được hồi âm. Sau này em được đọc lại mấy thư cũ của mình thấy rất là buồn cười, nhưng quả thật thư từ là phương cách riêng thông truyền tâm tư giữa hai người, có những người mình nói chuyện dễ dàng nhưng khi ở xa chẳng biết viết gì cho họ cả. Cha cũng thường viết thư cho em nhưng em không trả lời, cũng có khi đã viết mà không gởi, mọi tâm tư đều chia sẻ với chị Trinh và chị Quang. Khi học lên cấp 3 thì bắt đầu viết cho các anh chị khác. Lớn hơn nữa, khi biết hút thuốc, uống rượu và gặp thái độ phản đối mãnh liệt của cha thì lại trao đổi nhiều với anh Sơn và anh Thạch. Có một điều bất ngờ, trong chỗ lưu trữ những thư và thiệp cũ của em bây giờ, thư viết tay của chị Quỳnh Anh được giữ lại nhiều nhất.
Đây là một căn nhà ồn ào, vì ở gần chợ nên nghe người ta rao bán đủ thứ tôm cá rau quả, bên kia thì có người tụng kinh, phía sau có người tập hát còn trong nhà thì có ghi-ta, mandolin, clarinet, piano, trumpet, các con cô chơi hàng ngày. Em vẫn còn vô tư hay chơi giỡn với Thu và Hà, có lúc rượt nhau chạy rầm rầm trên gác bị anh Nguyên gọi xuống la, không cho chơi giỡn với "mấy đứa đó". Cô xây một cái phòng riêng cho 3 chị em ở, có được không gian sinh hoạt riêng khá yên ổn và tự do. Trong phòng chỉ có hai cái giường ngủ và một cái tủ treo quần áo, chẳng có vật dụng gì khác. Mỗi lần anh Nguyên cần tra từ điển hay sai em chạy lên phòng trên, chỗ học hành của mấy người con chú Kim, tra xong về đọc lại nghĩa tiếng Việt cho anh Nguyên, chuyện này diễn ra khá dài ngày và em bị anh Nguyên trách nhiều lần vì tra không tới nơi tới chốn. Lúc đó em chưa phân biệt được thế nào là danh từ, động từ cho nên cứ đọc tất cả nghĩa của chữ đó rồi về nói đại ý cho anh Nguyên. 3 chị em ở đó đã gây nhiều khó chịu cho các con của cô chú, có ai đó đã gắn một cái công tắc vào đường dẫn điện xuống phòng tụi em, khi nào vui vui là tắt điện cứ như là đường dây điện vô tình bị hư vậy, sự cố lặp đi lặp lại nên chị Trinh phải để sẵn một cái đèn dầu trong phòng, khi bị ngắt điện thì thắp đèn dầu, chẳng lấy gì làm khó chịu cả. Một lần khác, em và anh Nguyên đi ăn cơm tối bên nhà cô Hòa về phát hiện cửa phòng khép kín khác thường, anh Nguyên mở ra thì thấy ai đó dùng cây đờn ghi-ta với chăn mền dựng cảnh một xác chết nằm trên giường.
(Sơn: Việc gia đình mình có liên lạc qua lại khá nhiều với gia đình cô chú Kim là từ sau giải phóng, khi gia đình cô chú ấy có kế hoạch đi định cư ở Canada. Vào năm 1983, lúc đó anh đang đi tu và giúp xứ tại một họ đạo Tây thì nhận được thư của cha giới thiệu về gia đình cô chú Kim và cho anh biết là khi họ ra đi thì sẽ bán lại căn nhà ở SG cho mình nên cha muốn biết anh có thể đóng góp giúp cha mẹ thanh toán được không, anh trả lời “Con sẵn sàng, cha mẹ cứ tiến hành rồi bên này con sẽ liên lạc với họ để thanh toán”. Về sau không biết trục trặc lý do gì đó mà không nghe cha nhắc tới chuyện nhà cửa nữa. Từ đó, các em Trinh Nguyên Thủy Giang qua lại với gia đình cô chú thường xuyên, và có thời gian các em còn tá túc nơi nhà cô chú để đi học, không rõ trong thời gian bao lâu. Quang cũng có xuống chơi đôi ba lần nhưng dường như ít hơn, và anh Phong khi đó đang đi nghĩa vụ bên Kampuchia cũng tới thăm một vài lần.
Anh không bao giờ đồng ý chuyện con cái đi ở trong gia đình người khác vì mỗi gia đình có những tập tục riêng, có những mối liên hệ đặc thù giữa các thành viên. Một người lạ đặt chân vào đó rất lạc lõng cho chính đương sự mà còn gây ra phiền toái cho người đón tiếp mình. Ghé thăm chơi vài ba ngày thì không nói, nhưng ở lâu dài tháng này qua tháng nọ là một giải pháp đường cùng khi không còn cách nào khác. Anh cũng hiểu được là hoàn cảnh của gia đình mình lúc đó chắc không có cách nào khác hơn. Kinh nghiệm anh đã thấy là trong trường hợp 2 em Ngân Liêm con chú Điều ở trong nhà mình, và trước đó một ít thời gian, có chú Đính con của ông Vinh, cha gọi bằng cậu ruột, dưới Bình Tuy lên ở trong nhà mình vài tuần lễ hay một hai tháng gì đó.. Giữa người lớn với nhau thì dễ thông cảm, cả 2 bên gia đình đều có ý thức giúp đỡ, san sẻ cho nhau vì tình thân, vì ân nghĩa hay vì bác ái … Nhưng giữa trẻ con với nhau không thể nào không có tranh chấp, ganh tị. Sau này, khi gia đình cô chú qua định cư ở Montreal, 2 anh Thạch Sơn có dịp làm quen tìm hiểu nhiều hơn cô và về những người con trong gia đình cô thì mới thông cảm được với những bẽ bàng tụi em phải chịu đựng).
(Trinh : Sau khi em học xong lớp 12, khoảng tháng 8 năm 1984 thay vì về nhà thì cha báo cho là về chỗ nhà cô Hương, khi em tới nhà cô thì thấy cha đã ở đó, cha nói với em là gia đình cô sẽ đi định cư ở Canada trong khoảng vài ba tháng tới, em ở đây phụ giúp cô việc nhà và các em sẽ xuống đây học, nhà mình sẽ mua lại căn nhà này. Căn nhà của cô mặt trước thì rộng khoảng hơn 4 m thôi nhưng phía sau thì rộng gấp 4 lần phía trước có chỗ đặt bàn để chơi pingpong và cửa sau lại thông ra một cái chợ nhỏ nên mẹ rất thích địa điểm này, mẹ tính sẽ về sống và buôn bán ở đó. Gia đình cô lúc đó có 6 người con trong nhà Đức 21 tuổi, Thiện 19 tuổi, Mỹ 18 tuổi (cùng tuổi với Nguyên), Thu 16 (cùng tuổi với Thủy) Minh 14 và Hà 13 (hơn Giang 1 tuổi). Cô chú rất nghiêm khắc với con cái, có rất nhiều thứ không được phép làm. Nhưng khi Nguyên xuống thì có một thay đổi đó là Nguyên chơi ghita và hát tình ca rất hay (điều mà những người con của Cô Chú Kim không được phép) làm Thu nó khoái vô cùng. Cô Chú rất quý cha mình nên đối xử tốt với mấy chị em, cả những người con của cô cũng vậy. Mâu thuẫn xảy ra lúc gần nghỉ hè mà phải bí mật khỏi người lớn biết nên nó viết một lá thư kể tội 3 chị em mà chủ yếu là em, em và Nguyên ngồi bàn nhau viết một lá thư trả lời (Đức và Minh thì đứng ngoài cuộc chủ yếu là Mỹ, nó kéo Thu, Hà theo còn Thiện thì đứng giữa làm sứ giả hòa bình). Sau đó cô biết được nên đã tịch thu 2 lá thư, bắt ngồi lại với nhau để hoà giải nhưng chẳng giải quyết được gì cả. Em thấy mình chẳng làm gì sai nên cứ tỉnh bơ, không quan tâm đến những trò nó nghĩ ra để phá tụi em. Sau đó ba đứa về nghỉ hè, chiều trước ngày về em đi học anh văn buổi cuối cùng thì Mỹ đi theo và làm hòa với em, thế là xong. Do trục trặc về giấy khám sức khỏe nên gia đình cô đã phải chờ đợi hơn 1 năm so với dự kiến nên gặp khó khăn về tài chánh nên trước khi ra đi phải bán căn nhà với giá 4 cây vàng lấy tiền liền (bán cho nhà mình thì qua bên kia mới lấy tiền). Lúc đó chắc cha không dám mượn tiền để mua nên mình mất cơ hội mua nhà Sài Gòn và số mẹ không được thong thả hơn. Theo em nhận định thì thời gian Nguyên sống trong gia đình cô tạo được ấn tượng rất tốt, chú thường khen Nguyên về cách cư xử rất chững chạc và người lớn và Nguyên cũng giúp cô nhiều việc trong những ngày chuẩn bị đi đoàn tụ).
Chú Kim rất hiền và chẳng thấy lớn tiếng bao giờ, chú đã dạy cho em đọc tiếng Anh khi em còn nhút nhát và mắc cở không dám phát âm. Bài học rất đơn giản: lật sách ra bài đầu tiên, chú đọc từng chữ, lần lượt hết chữ này đến chữ khác, một cách chậm rãi, không lý luận giải thích, không cần biết nghĩa là gì, “học trò” chỉ việc đọc lặp lại những gì mình nghe được. Khi chú nghe thấy tốt rồi thì dừng lại. Dường như buổi học chỉ kéo dài chưa tới 15 phút, và có lẽ chỉ có một hoặc hai bữa mà thôi nhưng hiệu quả là đã đánh tan được sự rụt rè của em.
Từ khi ở nhà cô chú, em mới biết khái niệm ăn sáng, nghĩa là ăn điểm tâm, chỉ một chén cơm chan nước tương thôi, không hề có thêm thịt cá hay bất kỳ thứ gì khác, chị Trinh phải dặn em vì sợ em theo thói quen ở nhà, ăn hết thì đưa chén bới cơm thêm. Sống ở đây một thời gian thì em biết tự giặt đồ, tự khâu vá quần áo, rửa chén... đến khi không có chị Trinh thì em cũng tự thêu tên lên cái bảng tên trường may lên ngực áo.
Em không nhớ ai bày cho viết lá thư đầu tiên nhưng sau đó viết rất nhiều, viết cho chị Quang nhiều nhất, cứ vài tuần lại ra bưu điện gởi 1 lá rồi ngồi mong nhận được hồi âm. Sau này em được đọc lại mấy thư cũ của mình thấy rất là buồn cười, nhưng quả thật thư từ là phương cách riêng thông truyền tâm tư giữa hai người, có những người mình nói chuyện dễ dàng nhưng khi ở xa chẳng biết viết gì cho họ cả. Cha cũng thường viết thư cho em nhưng em không trả lời, cũng có khi đã viết mà không gởi, mọi tâm tư đều chia sẻ với chị Trinh và chị Quang. Khi học lên cấp 3 thì bắt đầu viết cho các anh chị khác. Lớn hơn nữa, khi biết hút thuốc, uống rượu và gặp thái độ phản đối mãnh liệt của cha thì lại trao đổi nhiều với anh Sơn và anh Thạch. Có một điều bất ngờ, trong chỗ lưu trữ những thư và thiệp cũ của em bây giờ, thư viết tay của chị Quỳnh Anh được giữ lại nhiều nhất.
Kỷ niệm rừng lạnh
Khi anh Nguyên khởi sự làm rẫy trong rừng lạnh thì hình như em mới học hết lớp 9, tức vào khoảng 1988. Lần đầu em được đi vào rừng lạnh có lẽ là trong một kỳ nghỉ hè khi còn học cấp ba, đó là vào ngày thứ Hai đầu tuần, mẹ chuẩn bị nhiều thứ đồ ăn để mang vào rừng dùng cho cả tuần. Chuyến đi đầu tiên đó em hoàn toàn không nhớ mình đi bằng xe gì, chỉ nhớ là có nhiều người và anh Nguyên chạy chiếc xe đạp mini, chở một bao gạo to để phía trước. Hình như nhà ông Linh có xe máy cày chở đồ đạc và người nhưng vẫn có nhiều người khác phải đi bằng xe đạp.
Đến chỗ đường quẹo vào rẫy là con đường mòn, cây rừng rậm rạp, ẩm thấp và nhiều vũng nước, hai bên đường có rất nhiều lá nhíp, là thứ lá ăn được chỉ mọc ở trong rừng. Từ đường cái vào tới rẫy cũng hết sức vất vả vì đường trơn, dốc và phải len qua nhiều gốc cây. Nghe nói khi vào tới đây thì luôn cảm thấy lạnh hơn nên nó được gọi là rừng lạnh. Khi em vào tới nơi thì thấy các anh đã đốn một khu rừng rộng, đã có chòi để sinh hoạt và đang dọn dẹp, đốt cho sạch cây rừng chuẩn bị trồng cà phê. Em theo làm các công việc gom đốt này. Cũng trong những dịp theo anh Nguyên vào rừng đi làm cả tuần như vậy mà em được mấy anh cho bắn súng thật, hình như là M16.
Sau vài ba năm khai hoang và đã trồng cà phê thì có những dịp em ở lại trong rừng với anh Nguyên và mẹ, lúc này mỗi gia đình có một cái chòi riêng chứ không ở chung như thời mới khai hoang nữa. Nhà mình cũng đã có xe càng, mỗi khi vào rừng có chở theo con chó, nó luôn làm cho mình cảm thấy an tâm hơn. Có hai kỷ niệm rất ấn tượng với em trong thời gian này, không hiểu anh Nguyên đi đâu mà cả hai lần đều vắng mặt, chỉ có em với mẹ mà thôi.
Kỷ niệm thứ nhất là mẹ bị cảm lạnh khi đang ở trong rừng. Một buổi sáng mẹ bị ớn lạnh, chóng mặt không thể ngồi dậy được. Em xức dầu và cạo gió nhưng tình hình không khá hơn và cuối cùng phải quyết định chở mẹ về nhà. Việc lái xe-càng đòi hỏi phải có sức khỏe nhưng em thì lại yếu ớt, chỉ nặng khoảng 50 ký, đã có khi không làm chủ được tay lái. Đã vậy, muốn xe chạy êm thì phải chất cho nặng một chút. Bởi vậy em phải chất lên xe một ít củi rồi trải thêm chiếu gối cho mẹ nằm. Xoay xở đủ thứ cuối cùng cũng lái được xe ra khỏi rừng, tới đường cái để chạy về nhà. Vì mẹ có dấu hiệu cảm rất nặng, tay chân lạnh ngắt và nằm li bì cho nên trong đầu em cứ áy náy là liệu mình có chạy chậm quá không..., nhưng chạy nhanh thì xe lại bị dằn lắc nhiều cũng không tốt. Tâm trạng vừa lo lắng vừa áy náy kéo dài mãi cho tới nhà, khi về tới nghe mẹ nói được mấy câu em mới cảm thấy nhẹ người. Tiếp theo thì chị Thủy phải bỏ công việc may vá để cạo gió lại cho mẹ.
Một kỷ niệm khác cũng rất đặc biệt, đó là em dám ngủ lại một mình trong rừng. Bữa đó là ngày thứ Năm và hai mẹ con hết lương thực. Mẹ tiếc công đi vào rừng nên tính toán là một trong hai sẽ về nhà lấy thêm thức ăn cho hai ngày còn lại. Khoảng 3 hay 4 giờ chiều gì đó thì quyết định là mẹ về, em ở lại. Khi biết tin những người chung quanh cũng sẽ về hết chiều nay, và chỉ mỗi mình ở lại giữa rừng, em vẫn cảm thấy thoải mái, dù sao thì chung quanh đây cũng chỉ có mấy con khỉ chứ có gì nguy hiểm đâu. Khi mọi người đã ra về, em tranh thủ tắm rửa sớm, chuẩn bị củi lửa thật đầy đủ, rồi ăn cơm, dọn dẹp, làm mọi chuyện như bình thường mình vẫn làm để tự trấn an mình. Nhưng càng về đêm thì dần dần xuất hiện nhiều cảm giác mà bình thường không có. Không gian tĩnh lặng là thứ đầu tiên phải nếm trải, bình thường thì có tiếng người, có âm thanh sinh hoạt, bây giờ nó thinh lặng đến nỗi lỗ tai mình tự nó cứ căng lên, như để tìm kiếm âm thanh vậy. Đến khi khó chịu quá thì em bắt đầu tìm cách tạo ra âm thanh, ban đầu là thử hát, rồi kêu con chó lại nói chuyện nhưng cũng chẳng có hiệu quả. Tâm trạng càng căng thẳng thì muốn hút thuốc nhiều, nhưng hút nhiều thì dường như còn tệ hơn nữa. Thông thường thì 8 giờ tối đã bắt đầu đi ngủ mà hôm nay hơn 10 giờ em vẫn còn tỉnh queo. Hết thinh lặng thì lại bắt đầu để ý tiếng côn trùng và chim chóc, rồi suy đoán những âm thanh ấy là bình thường hay khác thường. Nằm mãi vẫn không ngủ được thì bắt đầu suy nghĩ đến những chuyện mà mình đã từng nghe kể về ông thượng này, bà thượng nọ, đến khi cảm thấy sợ thì lại phải xua đuổi cái suy nghĩ đó đi. Lâu lâu lại kiểm tra xem con dao và cây súng có còn ở đúng chỗ hay không, rồi lại tưởng tượng đến những tình huống bất ngờ có thể xảy ra, lỡ có ai xuất hiện thì mình phải làm sao... May mắn là suốt đêm đó không có biến cố gì, có lẽ con chó nó không mất ngủ, còn em thì ngủ vật vờ được vài tiếng khoảng từ 2 giờ đến 4 giờ sáng. Biết là không thể ngủ tiếp được, em thức dậy pha cà phê rồi chuẩn bị súng hơi đi bắn chim. Thức dậy buổi sáng để chờ thấy mặt trời thì nó nhẹ nhàng và thoải mái hơn rất nhiều so với thời gian màn đêm buông xuống, khoảng thời gian cũng chỉ cách đây có mấy tiếng đồng hồ.
Khi đã thấy đường đi, em vác súng và mang theo cà phê ra ngoài bắn chim. Ở gần chòi có cây trứng cá, chim cu-rúc về ăn rất đông. Mình bắn trúng thì nghe tiếng "độp", một con rớt xuống đất, các con khác vẫn tiếp tục ăn, lại lắp đạn vào nhắm bắn tiếp. Bắn chán chê rồi thì lội vô gốc cây lặt chim, chỉ khi đó thì những con còn lại nó mới bay đi. Em chỉ nhớ chuyện bắn chim mà lại không nhớ sau đó làm món gì.
Khoảng 8 giờ sáng thì mẹ vô tới, em cũng không tỏ cho mẹ biết là tối hôm qua mình gặp rắc rối, coi như mọi chuyện đều êm xuôi. Nhưng có lẽ nếu xảy ra trường hợp tương tự thì em sẽ không chọn ở một mình giữa rừng nữa, vì sẽ bỏ phí một đêm không ngủ.
(Sơn: Giang kể lại tâm trạng sợ hãi trong đêm tối thật hay, ngắn gọn và đầy đủ. Anh nghĩ là nếu em ngủ lại trong rừng đêm thứ hai, em sẽ dần quen, và bớt lo âu sợ hãi hơn. Rồi nếu có lần thứ ba hay lần thứ tư, thì việc ngủ đêm một mình trong rừng sẽ không còn là điều gì ghê gớm nữa. Anh không có những lần sợ hãi thâu đêm như thế, nhưng anh có nhận xét là sự khác biệt giữa ngày và đêm, giữa tối và sáng, đã làm ý thức và cảm nhận của mình rối loạn. Trong bóng đêm, con người cảm thấy yếu đuối, e dè hơn, rồi từ đó phát sinh sợ hãi.
Năm 1995, lần đầu tiên về thăm nhà, anh nhớ cả nhà mình đã kéo nhau vô tham quan rừng lạnh. Lúc đó là lần đầu tiên chị Xuân và chị Quỳnh Anh được thấy rừng thấy rẫy café. Trong miếng rẫy của mình có cái lều và căn gác. Hôm đó cả mấy anh em đã kéo nhau lên gác chơi và ăn trưa, hình như có ăn hột vịt lộn. Không biết tại sao những lần về thăm nhà sau này, không ai có ý định đi chơi rừng lạnh nữa, trong khi anh thấy đó là một nơi đi picnic thật thú vị.
Mình có được rẫy café ở rừng lạnh, đó là nhờ công của anh Nguyên, đã ngoại giao, hợp tác với bạn bè để khai phá rừng hoang. Anh nhớ vào thời buổi đầu tiên mới khai thác, cha đã viết thư cho anh nói sơ lược về dự định và nói anh gửi tiền mua xe càng vì rẫy nằm xa nhà, không có xe không thể làm gì được. Anh quên lúc đó anh gửi tiền về cho cha mẹ bằng cách nào, hình như là gửi cho chị Hiên, rồi chị ấy cầm lên trao tận tay cho cha mẹ. Chị Hiên thật có công rất lớn trong vai trò trung gian giữa các anh ở nước ngoài và gia đình mình, một người trung gian kín đáo, nhiệt tình, và đáng tin cậy.)
Đến chỗ đường quẹo vào rẫy là con đường mòn, cây rừng rậm rạp, ẩm thấp và nhiều vũng nước, hai bên đường có rất nhiều lá nhíp, là thứ lá ăn được chỉ mọc ở trong rừng. Từ đường cái vào tới rẫy cũng hết sức vất vả vì đường trơn, dốc và phải len qua nhiều gốc cây. Nghe nói khi vào tới đây thì luôn cảm thấy lạnh hơn nên nó được gọi là rừng lạnh. Khi em vào tới nơi thì thấy các anh đã đốn một khu rừng rộng, đã có chòi để sinh hoạt và đang dọn dẹp, đốt cho sạch cây rừng chuẩn bị trồng cà phê. Em theo làm các công việc gom đốt này. Cũng trong những dịp theo anh Nguyên vào rừng đi làm cả tuần như vậy mà em được mấy anh cho bắn súng thật, hình như là M16.
Sau vài ba năm khai hoang và đã trồng cà phê thì có những dịp em ở lại trong rừng với anh Nguyên và mẹ, lúc này mỗi gia đình có một cái chòi riêng chứ không ở chung như thời mới khai hoang nữa. Nhà mình cũng đã có xe càng, mỗi khi vào rừng có chở theo con chó, nó luôn làm cho mình cảm thấy an tâm hơn. Có hai kỷ niệm rất ấn tượng với em trong thời gian này, không hiểu anh Nguyên đi đâu mà cả hai lần đều vắng mặt, chỉ có em với mẹ mà thôi.
Kỷ niệm thứ nhất là mẹ bị cảm lạnh khi đang ở trong rừng. Một buổi sáng mẹ bị ớn lạnh, chóng mặt không thể ngồi dậy được. Em xức dầu và cạo gió nhưng tình hình không khá hơn và cuối cùng phải quyết định chở mẹ về nhà. Việc lái xe-càng đòi hỏi phải có sức khỏe nhưng em thì lại yếu ớt, chỉ nặng khoảng 50 ký, đã có khi không làm chủ được tay lái. Đã vậy, muốn xe chạy êm thì phải chất cho nặng một chút. Bởi vậy em phải chất lên xe một ít củi rồi trải thêm chiếu gối cho mẹ nằm. Xoay xở đủ thứ cuối cùng cũng lái được xe ra khỏi rừng, tới đường cái để chạy về nhà. Vì mẹ có dấu hiệu cảm rất nặng, tay chân lạnh ngắt và nằm li bì cho nên trong đầu em cứ áy náy là liệu mình có chạy chậm quá không..., nhưng chạy nhanh thì xe lại bị dằn lắc nhiều cũng không tốt. Tâm trạng vừa lo lắng vừa áy náy kéo dài mãi cho tới nhà, khi về tới nghe mẹ nói được mấy câu em mới cảm thấy nhẹ người. Tiếp theo thì chị Thủy phải bỏ công việc may vá để cạo gió lại cho mẹ.
Một kỷ niệm khác cũng rất đặc biệt, đó là em dám ngủ lại một mình trong rừng. Bữa đó là ngày thứ Năm và hai mẹ con hết lương thực. Mẹ tiếc công đi vào rừng nên tính toán là một trong hai sẽ về nhà lấy thêm thức ăn cho hai ngày còn lại. Khoảng 3 hay 4 giờ chiều gì đó thì quyết định là mẹ về, em ở lại. Khi biết tin những người chung quanh cũng sẽ về hết chiều nay, và chỉ mỗi mình ở lại giữa rừng, em vẫn cảm thấy thoải mái, dù sao thì chung quanh đây cũng chỉ có mấy con khỉ chứ có gì nguy hiểm đâu. Khi mọi người đã ra về, em tranh thủ tắm rửa sớm, chuẩn bị củi lửa thật đầy đủ, rồi ăn cơm, dọn dẹp, làm mọi chuyện như bình thường mình vẫn làm để tự trấn an mình. Nhưng càng về đêm thì dần dần xuất hiện nhiều cảm giác mà bình thường không có. Không gian tĩnh lặng là thứ đầu tiên phải nếm trải, bình thường thì có tiếng người, có âm thanh sinh hoạt, bây giờ nó thinh lặng đến nỗi lỗ tai mình tự nó cứ căng lên, như để tìm kiếm âm thanh vậy. Đến khi khó chịu quá thì em bắt đầu tìm cách tạo ra âm thanh, ban đầu là thử hát, rồi kêu con chó lại nói chuyện nhưng cũng chẳng có hiệu quả. Tâm trạng càng căng thẳng thì muốn hút thuốc nhiều, nhưng hút nhiều thì dường như còn tệ hơn nữa. Thông thường thì 8 giờ tối đã bắt đầu đi ngủ mà hôm nay hơn 10 giờ em vẫn còn tỉnh queo. Hết thinh lặng thì lại bắt đầu để ý tiếng côn trùng và chim chóc, rồi suy đoán những âm thanh ấy là bình thường hay khác thường. Nằm mãi vẫn không ngủ được thì bắt đầu suy nghĩ đến những chuyện mà mình đã từng nghe kể về ông thượng này, bà thượng nọ, đến khi cảm thấy sợ thì lại phải xua đuổi cái suy nghĩ đó đi. Lâu lâu lại kiểm tra xem con dao và cây súng có còn ở đúng chỗ hay không, rồi lại tưởng tượng đến những tình huống bất ngờ có thể xảy ra, lỡ có ai xuất hiện thì mình phải làm sao... May mắn là suốt đêm đó không có biến cố gì, có lẽ con chó nó không mất ngủ, còn em thì ngủ vật vờ được vài tiếng khoảng từ 2 giờ đến 4 giờ sáng. Biết là không thể ngủ tiếp được, em thức dậy pha cà phê rồi chuẩn bị súng hơi đi bắn chim. Thức dậy buổi sáng để chờ thấy mặt trời thì nó nhẹ nhàng và thoải mái hơn rất nhiều so với thời gian màn đêm buông xuống, khoảng thời gian cũng chỉ cách đây có mấy tiếng đồng hồ.
Khi đã thấy đường đi, em vác súng và mang theo cà phê ra ngoài bắn chim. Ở gần chòi có cây trứng cá, chim cu-rúc về ăn rất đông. Mình bắn trúng thì nghe tiếng "độp", một con rớt xuống đất, các con khác vẫn tiếp tục ăn, lại lắp đạn vào nhắm bắn tiếp. Bắn chán chê rồi thì lội vô gốc cây lặt chim, chỉ khi đó thì những con còn lại nó mới bay đi. Em chỉ nhớ chuyện bắn chim mà lại không nhớ sau đó làm món gì.
Khoảng 8 giờ sáng thì mẹ vô tới, em cũng không tỏ cho mẹ biết là tối hôm qua mình gặp rắc rối, coi như mọi chuyện đều êm xuôi. Nhưng có lẽ nếu xảy ra trường hợp tương tự thì em sẽ không chọn ở một mình giữa rừng nữa, vì sẽ bỏ phí một đêm không ngủ.
(Sơn: Giang kể lại tâm trạng sợ hãi trong đêm tối thật hay, ngắn gọn và đầy đủ. Anh nghĩ là nếu em ngủ lại trong rừng đêm thứ hai, em sẽ dần quen, và bớt lo âu sợ hãi hơn. Rồi nếu có lần thứ ba hay lần thứ tư, thì việc ngủ đêm một mình trong rừng sẽ không còn là điều gì ghê gớm nữa. Anh không có những lần sợ hãi thâu đêm như thế, nhưng anh có nhận xét là sự khác biệt giữa ngày và đêm, giữa tối và sáng, đã làm ý thức và cảm nhận của mình rối loạn. Trong bóng đêm, con người cảm thấy yếu đuối, e dè hơn, rồi từ đó phát sinh sợ hãi.
Năm 1995, lần đầu tiên về thăm nhà, anh nhớ cả nhà mình đã kéo nhau vô tham quan rừng lạnh. Lúc đó là lần đầu tiên chị Xuân và chị Quỳnh Anh được thấy rừng thấy rẫy café. Trong miếng rẫy của mình có cái lều và căn gác. Hôm đó cả mấy anh em đã kéo nhau lên gác chơi và ăn trưa, hình như có ăn hột vịt lộn. Không biết tại sao những lần về thăm nhà sau này, không ai có ý định đi chơi rừng lạnh nữa, trong khi anh thấy đó là một nơi đi picnic thật thú vị.
Mình có được rẫy café ở rừng lạnh, đó là nhờ công của anh Nguyên, đã ngoại giao, hợp tác với bạn bè để khai phá rừng hoang. Anh nhớ vào thời buổi đầu tiên mới khai thác, cha đã viết thư cho anh nói sơ lược về dự định và nói anh gửi tiền mua xe càng vì rẫy nằm xa nhà, không có xe không thể làm gì được. Anh quên lúc đó anh gửi tiền về cho cha mẹ bằng cách nào, hình như là gửi cho chị Hiên, rồi chị ấy cầm lên trao tận tay cho cha mẹ. Chị Hiên thật có công rất lớn trong vai trò trung gian giữa các anh ở nước ngoài và gia đình mình, một người trung gian kín đáo, nhiệt tình, và đáng tin cậy.)
Tập làm văn
Cha không phải là giáo viên tiểu học nhưng đã dạy em kiến thức vỡ lòng về toán và văn, lúc em gần 10 tuổi, trước đó được chị Vân hoặc chị Trinh tập viết. Toán thì em hơi chậm làm cha bực mình nhưng cuối cùng cũng biết hết cộng trừ nhân chia. Môn văn mới rắc rối. Cha giảng giải đủ cách để em biết làm văn tả cảnh nhưng vì kết quả chỉ là sự tưởng tượng, không có một cách làm cụ thể, đáp án trở nên mơ hồ và em thoát không phải nộp bất kỳ bài tập làm văn nào. Dù vẫn suy nghĩ được nhưng lại không biết viết ra suy nghĩ của mình, cũng có thể nói là không dám viết vì sợ sai ý của người lớn, mình sẽ bị chọc ghẹo, bị nạt (nhiều người vẫn thích dùng cách nhắc nhở nặng nề nhưng với em thì thái độ dịu dàng kích thích mình thụ huấn mạnh hơn). Đến khi đi học ở trường em đã phải run sợ khi tới giờ học văn đầu tiên, may quá bữa đầu vắng mặt giáo viên, có một cô khác qua coi lớp, cô này ra một bài làm văn để giữ trật tự rồi trở về lớp của mình. Đề bài: Em hãy tả cây bút chì của em. Bữa đó bài làm của em là chép toàn bộ bài của người bên cạnh không sót một chấm một phẩy nào hết!!! Khi đi học cấp 2 thì tự làm được đôi chút nhưng cũng chỉ cố viết cho qua trang mà thôi. Không còn copy của bạn nữa mà bắt chước ý văn của nó, rồi đổi vài chữ để giáo viên khỏi phát hiện. Môn tập làm văn thực sự làm khổ em cho đến hết lớp 12. Tính từ khi đến trường đến khi tốt nghiệp phổ thông, bài tập làm văn cao nhất là 6 điểm, thông thường chỉ 4 mà thôi. Năm lớp 9 chị Tuyết cho một cuốn sổ đề nghị em viết nhật ký, nghe lời chị cũng miệt mài ngày này qua ngày khác nhưng kết quả không khá hơn. Một nỗi khổ khác nữa là em thuận tay trái mà viết bằng tay phải, lại hay bị rung tay nên viết chậm và yếu hơn nhiều người, đã từng cố gắng nắn nót theo nét chữ của anh Nguyên và anh Thạch nhưng thất bại vì không thể viết nhanh được. May mắn là năm lớp 10 có thằng bạn ngồi kề bên viết chữ xấu hơn thì mới tự an ủi mình được đôi chút.
Có lẽ em chỉ thực sự “tập làm văn” khi viết thư cho các anh chị, đặc biệt với anh Thạch và anh Sơn, bởi vì lúc đó mình có thể viết ra tất cả những gì mình suy nghĩ mà không sợ người kia bắt lỗi. Dần dần rút kinh nghiệm qua những lá thư, bắt đầu biết so sánh sản phẩm của mình với của người khác rồi từ đó mới sửa câu chữ, sắp xếp ý tứ,.... Chữ viết của anh Sơn có lẽ xấu nhất nhưng cách hành văn của anh đã mang lại nhiều cảm hứng khiến em cứ muốn hồi âm ngay sau mỗi lá thư. Ở điểm này, có thể nói anh Sơn đã nâng đỡ và dìu dắt suy nghĩ của em rất nhiều khi em ở tuổi Vị thành niên cũng như những diễn tiến cuộc đời về sau. (Sơn: Chữ anh viết xấu nhất, anh biết điều này, và anh cũng phải công nhận là chữ của cha rất đẹp. Sau này chữ của chị Tuyết, của Vân, Trinh và của Nguyên khá giống chữ của cha, tức là cũng tròn trĩnh, đều và bay bướm như thế. Chữ của Thạch và của Phong hơi giống nhau - có lẽ do Phong cố tình bắt chước anh Thạch, tuy không giống chữ của cha nhưng có những nét mềm mại và chắc chắn là đẹp hơn chữ anh nhiều. Nét chữ xấu của anh chắc là ảnh hưởng của mẹ - trong tập hồi ký này anh sẽ để ở phần phụ lục lá thư mẹ viết tay cho anh khi nhà mới dọn lên Ban mê thuột. Lúc bắt đầu tập viết, cha dùng bút chì viết những mẫu tự vào một cuốn tập có kẻ hàng, và anh phải dùng bút mực đồ theo. Quan niệm của cha là viết theo như thế thì dần dần chữ sẽ đẹp, và chắc chắn là cha cũng muốn các con của mình có nét chữ đẹp như của cha. Nhưng từ nhỏ anh đã quan niệm là chữ viết đẹp không cần thiết lắm, chỉ cần rõ ràng để dễ đọc, điều cần thiết chính là ý tưởng. Và anh cũng không tin là chữ mình có thể đẹp hơn nhờ tập luyện như thế hay xấu đi vì không chịu tập viết, cho nên anh tập viết một cách lơ là. Có lẽ anh đi trước thời đại một chút, vì bây giờ có mấy người dùng bút nữa đâu, tất cả đều qua máy tính.)
(Phong: Như vậy là anh giống chị Tuyết và Giang về cái khoản làm văn. Bài tập làm văn của anh cũng chỉ cầu mong được trên trung bình. Trong bài làm không hề có lỗi chính tả hay lỗi ngữ pháp nhưng ý tứ thì nghèo nàn, câu văn không lả lướt, bóng bẩy. Nói tóm lại bài làm mới đạt được yêu cầu về kỹ thuật chưa thể gọi là văn chương. Ngay như viết thư cũng vậy, phải mất cả tiếng đồng hồ anh mới hoàn thành được một lá thư dài cỡ hai trang vở học trò. Đọc một bài thơ, một cuốn truyện anh vẫn cảm nhận được cái hay cái đẹp của nó nhưng để làm cho được như vậy có lẽ cần phải học tập nhiều và ít ra cũng cần phải có một tí năng khiếu. Anh nhớ những năm học lớp 6, lớp 7 có đứa bạn làm văn rất hay. Hầu như tất cả các bài tập làm văn sau khi chấm xong thầy giáo đều đọc bài của nó lên cho cả lớp nghe bởi vì quá xuất sắc. Mình viết được 2 trang vở chứ nó viết phải đến 2 cặp giấy vở. Anh nghĩ nó sẽ là nhà văn trong tương lai. Rất tiếc đến giờ không còn tin tức gì về nó để xem có phải vậy không. Năm 1973 sau khi các bên ký hiệp định Paris, ai cũng nghĩ là hòa bình đã đến. Trường anh có tổ chức làm một tập san với chủ đề hòa bình và mở cuộc thi viết truyện, làm thơ. Bài nào đoạt giải thì được đăng trên tập san đó. Anh cũng rất thích chủ đề này và trong tâm trạng vui mừng vì đất nước đã được hòa bình, anh cặm cụi viết một truyện ngắn. Cũng tốn nhiều công sức và rất tâm đắc với tác phẩm của mình thế nhưng sau khi chấm thì chẳng thấy bài của mình đâu cả.)
Có lẽ em chỉ thực sự “tập làm văn” khi viết thư cho các anh chị, đặc biệt với anh Thạch và anh Sơn, bởi vì lúc đó mình có thể viết ra tất cả những gì mình suy nghĩ mà không sợ người kia bắt lỗi. Dần dần rút kinh nghiệm qua những lá thư, bắt đầu biết so sánh sản phẩm của mình với của người khác rồi từ đó mới sửa câu chữ, sắp xếp ý tứ,.... Chữ viết của anh Sơn có lẽ xấu nhất nhưng cách hành văn của anh đã mang lại nhiều cảm hứng khiến em cứ muốn hồi âm ngay sau mỗi lá thư. Ở điểm này, có thể nói anh Sơn đã nâng đỡ và dìu dắt suy nghĩ của em rất nhiều khi em ở tuổi Vị thành niên cũng như những diễn tiến cuộc đời về sau. (Sơn: Chữ anh viết xấu nhất, anh biết điều này, và anh cũng phải công nhận là chữ của cha rất đẹp. Sau này chữ của chị Tuyết, của Vân, Trinh và của Nguyên khá giống chữ của cha, tức là cũng tròn trĩnh, đều và bay bướm như thế. Chữ của Thạch và của Phong hơi giống nhau - có lẽ do Phong cố tình bắt chước anh Thạch, tuy không giống chữ của cha nhưng có những nét mềm mại và chắc chắn là đẹp hơn chữ anh nhiều. Nét chữ xấu của anh chắc là ảnh hưởng của mẹ - trong tập hồi ký này anh sẽ để ở phần phụ lục lá thư mẹ viết tay cho anh khi nhà mới dọn lên Ban mê thuột. Lúc bắt đầu tập viết, cha dùng bút chì viết những mẫu tự vào một cuốn tập có kẻ hàng, và anh phải dùng bút mực đồ theo. Quan niệm của cha là viết theo như thế thì dần dần chữ sẽ đẹp, và chắc chắn là cha cũng muốn các con của mình có nét chữ đẹp như của cha. Nhưng từ nhỏ anh đã quan niệm là chữ viết đẹp không cần thiết lắm, chỉ cần rõ ràng để dễ đọc, điều cần thiết chính là ý tưởng. Và anh cũng không tin là chữ mình có thể đẹp hơn nhờ tập luyện như thế hay xấu đi vì không chịu tập viết, cho nên anh tập viết một cách lơ là. Có lẽ anh đi trước thời đại một chút, vì bây giờ có mấy người dùng bút nữa đâu, tất cả đều qua máy tính.)
(Phong: Như vậy là anh giống chị Tuyết và Giang về cái khoản làm văn. Bài tập làm văn của anh cũng chỉ cầu mong được trên trung bình. Trong bài làm không hề có lỗi chính tả hay lỗi ngữ pháp nhưng ý tứ thì nghèo nàn, câu văn không lả lướt, bóng bẩy. Nói tóm lại bài làm mới đạt được yêu cầu về kỹ thuật chưa thể gọi là văn chương. Ngay như viết thư cũng vậy, phải mất cả tiếng đồng hồ anh mới hoàn thành được một lá thư dài cỡ hai trang vở học trò. Đọc một bài thơ, một cuốn truyện anh vẫn cảm nhận được cái hay cái đẹp của nó nhưng để làm cho được như vậy có lẽ cần phải học tập nhiều và ít ra cũng cần phải có một tí năng khiếu. Anh nhớ những năm học lớp 6, lớp 7 có đứa bạn làm văn rất hay. Hầu như tất cả các bài tập làm văn sau khi chấm xong thầy giáo đều đọc bài của nó lên cho cả lớp nghe bởi vì quá xuất sắc. Mình viết được 2 trang vở chứ nó viết phải đến 2 cặp giấy vở. Anh nghĩ nó sẽ là nhà văn trong tương lai. Rất tiếc đến giờ không còn tin tức gì về nó để xem có phải vậy không. Năm 1973 sau khi các bên ký hiệp định Paris, ai cũng nghĩ là hòa bình đã đến. Trường anh có tổ chức làm một tập san với chủ đề hòa bình và mở cuộc thi viết truyện, làm thơ. Bài nào đoạt giải thì được đăng trên tập san đó. Anh cũng rất thích chủ đề này và trong tâm trạng vui mừng vì đất nước đã được hòa bình, anh cặm cụi viết một truyện ngắn. Cũng tốn nhiều công sức và rất tâm đắc với tác phẩm của mình thế nhưng sau khi chấm thì chẳng thấy bài của mình đâu cả.)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)