Vân, Phong, Trinh, Nguyên chắc vẫn còn nhớ những trò mình thường chơi lúc còn nhỏ, ngoài mấy màn chơi ô, chơi cò, bịt mắt bắt dê, trò búng giây thun, lật nắp keng còn có thêm mấy trò chơi mà mấy anh em thường chơi chung với nhau.
1. Vật lộn : tôi thường một mình chấp hết cả mấy em, nằm cho bị đè trước rồi mới bắt đầu vật lại. Trời nóng nhưng nền nhà thật mát nên mấy anh em hay nằm chơi lăn lóc trên nền nhà. Không cần đồ chơi nhưng thật vui.
2. Xây ổ : mấy anh em thường lấy nhiều ghế đặt nằm xuống nền nhà, dùng mền và chiếu phủ lên trên, tạo ra những ngóc ngách, cửa ra, cửa vào rồi bò tới bò lui trong đó chơi, tưởng tượng như sống trong hang động. Đôi khi dựng lên 2 tụ rồi dùng cùi bắp chơi ném tấn công nhau. (Sơn: Trò chơi này anh cũng có tham gia, không nhớ là trước khi anh đi tu ở Tiểu Chủng Viện Sao Biển hay sau đó. Sự hào hứng và gay cấn thì không thể quên được. Chơi xong, thu dọn chiến trường là mệt nhất vì phải cất đặt bàn ghế lại chỗ cũ, xếp chăn mền gối rồi quét nhà cho sạch sẽ.)
Có một trò khác thường chơi trên giường vào buổi tối, mọi người chui hết vào mền, thỉnh thoảng thò thụt một bàn tay ra ngoài. Một đứa ở ngoài làm cá sấu, bắt được bàn tay của ai thì người đó phải ra ngoài thế chỗ.
3. (Sơn: Một trò chơi rất đơn sơ khác mà thời chị Tuyết với anh rất thích, đó là buổi tối cơm nước xong, cha nằm trên giường, 2 chị em chui qua chân cha và nói rằng chui qua cầu. Lâu lâu cha lại hạ chân xuống làm như cầu sập, đè mình chết dí. Cái thú vị là do sự căng thẳng không biết khi nào thì bị sập cầu và sự vùng vẫy để thoát ra khi bị đè xuống. Anh nhớ hình như cha còn chơi trò này với các em về sau, cho tới khi lên Dakmil mới hết.)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thạch. Hiển thị tất cả bài đăng
24/5/10
Đói bụng - Buồn ngủ
Nghe có vẻ ngược đời, phải no bụng mới buồn ngủ chứ ! Đây là chuyện về Vân.
Bây giờ thấy Vân ít bị đau vặt nhưng lúc còn bé Vân rất hay ốm, ho cảm liên miên; bị ho ít hôm là nhiễm vào phổi, xài thuốc trụ sinh nhiều nên mẹ sợ Vân không phát triển được bình thường. Hơn 5 tuổi rồi mà Vân vẫn nói lộn : lúc đói bụng quá thì nói là buồn ngủ, ngược lại, lúc buồn ngủ lại kêu đói bụng. Mẹ lấy cơm cho ăn thì chưa đụng vào chén cơm đã ngủ rục mất tiêu. (Sơn : Khi mới vài ba tuổi, có lần Vân bị bệnh kiết lỵ rất nặng và kéo dài lâu không bớt. Cha đi mua thuốc khắp nơi, uống đủ loại mà không lành. Vân nằm lim dim uể oải, bụng sình lên, ăn uống không được, đi cầu suốt ngày, ủ rũ mệt nhọc, thấy tội nghiệp vô cùng. Cũng trong lần đau ốm đó cha mới nói không biết em có sống được không! Sau đó, nhờ uống nước rau má giã nát mà Vân dần dần khỏe lại. Lúc nhỏ thì như vậy, mà sau này lớn lên Vân lại khỏe mạnh dẻo dai, giúp mẹ làm việc nhiều trước khi lấy chồng).
Thời gian cha không có ở nhà, có lẽ lúc cha đang ở Bình Chính, một buổi trưa, mẹ bắt Thạch và Vân đi ngủ trưa, chắc vì mẹ bận bán cây, bán lá nên hai đứa chơi loanh quanh chẳng chịu đi ngủ, tới lúc mẹ phát giác ra mới bị la cho một trận và mẹ bắt hai đứa vào nằm trên giường chờ mẹ trị tội. Hai đứa vào nằm sấp trên giường chờ hoài mà mẹ cứ mắc khách, nằm trên giường chán nên hai đứa cùng bò xuống dưới giường nằm ngắt những cọng cói bị lòi ra từ những chỗ chiếu rách. Chơi rồi tới lúc hai đứa cùng nằm dưới gầm giường ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Khi tôi thức dậy thì phát giác ra mình vẫn chưa bị đòn, nhìn qua bên thì thấy Vân vẫn còn say sưa trong giấc ngủ, bàn tay còn nắm chặt những cọng cói : hình ảnh làm tôi cảm thấy thương đứa em chi lạ! (Sơn : Hình ảnh quá đẹp ! Thật tuyệt vời ! Ai mà không thương)
Hình ảnh này vẫn theo tôi, luôn luôn rõ nét, như một điểm son trong kho tàng kỷ niệm.
Bây giờ thấy Vân ít bị đau vặt nhưng lúc còn bé Vân rất hay ốm, ho cảm liên miên; bị ho ít hôm là nhiễm vào phổi, xài thuốc trụ sinh nhiều nên mẹ sợ Vân không phát triển được bình thường. Hơn 5 tuổi rồi mà Vân vẫn nói lộn : lúc đói bụng quá thì nói là buồn ngủ, ngược lại, lúc buồn ngủ lại kêu đói bụng. Mẹ lấy cơm cho ăn thì chưa đụng vào chén cơm đã ngủ rục mất tiêu. (Sơn : Khi mới vài ba tuổi, có lần Vân bị bệnh kiết lỵ rất nặng và kéo dài lâu không bớt. Cha đi mua thuốc khắp nơi, uống đủ loại mà không lành. Vân nằm lim dim uể oải, bụng sình lên, ăn uống không được, đi cầu suốt ngày, ủ rũ mệt nhọc, thấy tội nghiệp vô cùng. Cũng trong lần đau ốm đó cha mới nói không biết em có sống được không! Sau đó, nhờ uống nước rau má giã nát mà Vân dần dần khỏe lại. Lúc nhỏ thì như vậy, mà sau này lớn lên Vân lại khỏe mạnh dẻo dai, giúp mẹ làm việc nhiều trước khi lấy chồng).
Thời gian cha không có ở nhà, có lẽ lúc cha đang ở Bình Chính, một buổi trưa, mẹ bắt Thạch và Vân đi ngủ trưa, chắc vì mẹ bận bán cây, bán lá nên hai đứa chơi loanh quanh chẳng chịu đi ngủ, tới lúc mẹ phát giác ra mới bị la cho một trận và mẹ bắt hai đứa vào nằm trên giường chờ mẹ trị tội. Hai đứa vào nằm sấp trên giường chờ hoài mà mẹ cứ mắc khách, nằm trên giường chán nên hai đứa cùng bò xuống dưới giường nằm ngắt những cọng cói bị lòi ra từ những chỗ chiếu rách. Chơi rồi tới lúc hai đứa cùng nằm dưới gầm giường ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Khi tôi thức dậy thì phát giác ra mình vẫn chưa bị đòn, nhìn qua bên thì thấy Vân vẫn còn say sưa trong giấc ngủ, bàn tay còn nắm chặt những cọng cói : hình ảnh làm tôi cảm thấy thương đứa em chi lạ! (Sơn : Hình ảnh quá đẹp ! Thật tuyệt vời ! Ai mà không thương)
Hình ảnh này vẫn theo tôi, luôn luôn rõ nét, như một điểm son trong kho tàng kỷ niệm.
12/5/10
Khám phá Cà Mau
Năm 1980, sau khi anh Sơn ra đi được một thời gian thì thấy cha Báu nhắn về nhà là cần thanh toán tiền một chiếc xe đạp mà anh Sơn đã mượn để ra bãi đáp. Tôi được giao nhiệm vụ đi Phan-thiết, nhân tiện ghé về Bến-lội để gom góp những đồ đạc hai anh em còn để lại ở đó.
Rời Đức-minh đi Bmt và Nha-trang trong ngày, tôi ghé vào TGM Nha-trang thăm mấy đứa bạn còn tu học tại đó, buổi tối nằm ngủ trong cái nhà ngủ thênh thang nay chỉ cho dành cho một tiểu đội. Ngày hôm sau bắt xe đi Phan-rang, hình như cái xe khách nhỏ chạy bằng than vì xăng dầu khá khan hiếm trong giai đoạn này. Ghé thăm và ở lại với Phong vài ngày tại Tháp Chàm, có buổi đi vào vườn hái ổi, có ngày đạp xe đạp cùng với mấy bạn của Phong đi tắm biển và còn có đi rạp xem phim nữa. Đôi lúc nghe Phong kể toàn những chuyến ghe vượt biển không thành : nào là cả tàu bị say sóng nằm liệt rồi bị trôi vào bờ, nào là đi lạc đường lòng vòng rồi lại quay về bến cũ…
Sau mấy hôm ở Phan-rang, chặng tiếp theo là Phan-thiết; tới PT vào lúc quá trưa, ghé nơi nhà bạn ở đối diện nhà thờ Lạc Đạo, hỏi thăm giờ giấc xe lửa và được biết có chuyến tàu chợ vào lúc 9 giờ tối nên nghỉ ngơi, ăn chiều và đón xe đi Mường Mán. Xe lam chỉ đi tới cây số 7 nên phải cuốc bộ thêm 7 cây số nữa mới tới ga xe lửa Mường Mán. Tới nơi thì có tin chuyến tàu chợ bị hủy vì tàu hư, thông tin là thế mà chẳng thấy ai rục rịch tan hàng, tôi hơi thắc mắc nên lân la hỏi thăm thì biết được khoảng nửa đêm sẽ có chuyến tàu Thống Nhất từ Hà Nội vào và còn có thêm chuyến tàu chở đá vào lúc 2 giờ sáng. Thế là tôi cũng lang thang nơi nhà ga, ngấm ngầm chú ý để biết cách xoay sở khi tàu tới. Gần nửa đêm thì tàu TN tới ga, không thấy người xuống nhưng cũng chẳng có người được lên, dù có năn nỉ xin mua vé, dường như tàu chỉ dừng cho đúng thời hạn. Tàu hụ còi báo giờ chuyển bánh sau 20 phút dừng ở ga, nhìn tới nhìn lui tôi thấy có nhiều bóng người thấp thoáng, tôi cũng tiến tới gần đường xe lửa, kiếm một chỗ khuất ánh đèn điện, nấp sau một cái cột. Tàu xình xịch chuyển bánh thì, lập tức, nhiều bóng người túa ra, lần lượt nhảy lên bám vào các khoảng nối giữa hai toa tàu, tôi cũng tìm được một khoảng chỉ mới có một người bám, nhảy lên, đứng trên khúc nối, tay bám toa trước, lưng dựa toa sau. Sau khoảng 20 phút, tàu đã chạy đều, tình hình có vẻ yên ổn, người bạn cùng bám tàu rủ tôi leo lên mui đi về toa cuối kiếm chỗ nằm vì toa cuối là toa hành lý, thấp hơn những toa hành khách nên không có gió; tôi cũng mon men đi về cuối, mới thấy có đến cả mười mấy người đang trải mền trên mui toa cuối, chuẩn bị chỗ nằm một cách rất thành thuộc. Không muốn nhập bọn, tôi vượt vài toa để trở lại phía trước, kiếm một chỗ ngồi trên mui toa sau, gập mình gác trán lên mui toa trước, dùng hai cánh tay làm gối, cứ thế để chờ cho quãng đường từ từ rút ngắn.
Hành trang của tôi không có gì ngoài « bửu bối » đi đường và một bộ đồ để trong cái túi vải nhỏ tròng vào cổ, trên mình khoác cái áo pạc-đờ-suy (pardessus) của anh Sơn để lại để che đỡ mưa gió. Ngồi vừa ngủ lơ mơ vừa phải cảnh giác, suốt đêm còn phải hứng mấy cơn mưa rào, đủ lớn để làm ướt đẫm áo khoác, may là ngồi trên mui có gió quạt phần phật nên nửa giờ sau cơn mưa là quần áo lại khô ráo trở lại. Khoảng 6 giờ sáng thì tàu tới ngang Long Khánh, cảm thấy hơi dị hợm trên mui xe lửa, tôi tụt xuống đứng giữa hai toa tàu cho tới khi tàu hụ còi giảm tốc độ để từ từ tiến vào ga Bình Triệu, vào khoảng 8 giờ sáng.
Tôi nhảy xuống khỏi xe lửa trước khi đoàn tàu tiến vào phạm vi nhà ga, bên ngoài hàng rào lưới thép, để tránh bị xét vé lúc ra cổng. Vòng ra đường cái, tôi bắt xe tiếp tục con đường xuống Bến Lội. Tới nhà cậu Hải khoảng 4 giờ chiều, tôi tranh thủ lúc trời còn sáng để xem xét những gì cần thu hồi, cuối cùng thì hình như tôi không có thêm đồ đạc gì khi rời nhà cậu Hải. Ý tôi cũng chỉ muốn ghé chào cậu để báo cho cậu biết anh Sơn đã ra đi và tôi cũng sẽ không trở lại nữa. Buổi tối ngồi hút thuốc lào nói chuyện với cậu Hải, cậu lấy làm tiếc khi hai anh em đã góp phần vào gia đình cậu trong lúc khó khăn nhất, để đến lúc thấy một chút tương lai tươi sáng hơn thì không còn ở lại để hưởng. Cậu rủ rê tôi ở lại thêm vài ngày nhưng tôi nhất định chỉ tới rồi đi nên cậu cháu cùng bảo nhau lên giường nhắm mắt vài tiếng cho có sức. Chẳng ai có đồng hồ, tôi dự đoán : trăng 17 sẽ treo ở đỉnh đầu vào khoảng 2 giờ sáng, là giờ tôi cần phải ra đi cho kịp chuyến xe. Sau vài tiếng đồng hồ ngủ chập chờn, tôi giật mình thức giấc lúc trăng vừa lên giữa đỉnh đầu, nhẹ nhàng bước xuống nhưng cũng làm cậu Hải thức giấc, tôi từ giã cậu, trở bước lần cuối cùng trên con đường cát 4 cây số ngoằn ngoèo dẫn ra Thị Tính, giữa những bụi cỏ cao còn đẫm sương. (Sơn : Anh có cơ duyên được quen biết và gần gũi với các cậu nhiều hơn chị Tuyết và các em. Với cậu Trực thì đã đành, vì cậu Trực ở ngay trong nhà, nhưng với cậu Hải và cậu Phan, anh cũng có nhiều kỷ niệm thân quen, có lẽ do hoàn cảnh, do lứa tuổi, hay do tính cách thân thiện và thích làm quen của anh. Anh với cậu Hải có nhiều thân tình. Lần đầu cậu ghé thăm, đó là vào khoảng 1960, cậu vừa mới lớn, như cháu Minh Kha nhà mình bây giờ vậy, cao dong dỏng, mặc quần áo đơn sơ. Đó là lần đầu tiên anh gặp cậu. Hai cậu cháu bắt đầu làm quen với nhau. Kỷ niệm vui vui, đó là sau khi chào hỏi cha mẹ xong thì cậu mới hỏi anh : « Sơn có muốn ăn kẹo không ». Trời, kẹo mà đứa con nít nào lại không thèm. Anh liền nhanh nhẩu trả lời rằng « cháu thích ăn, mà có 1 loại kẹo ngon lắm, có bán ngoài hàng của ông bà Lịch, kêu bằng kẹo dứa (kẹo có mùi trái thơm). Cậu muốn ăn thử không ? Cháu dẫn cậu đi mua ». Lúc đó nhà mình còn ở căn nhà phía sau, chưa dời ra phía ngoài đường cái. Từ lúc biết đi mua kẹo cho tới khi đó, chưa bao giờ anh có tiền mua một lần nhiều kẹo dứa như vậy. Cậu mua cho anh không biết bao nhiêu tiền mà được một nắm kẹo thiệt bự, bỏ đầy 2 túi, cầm đầy trong tay mà vẫn còn dư. Anh thích quá, ăn liền tù tì gần chục cái, nhưng còn dư không biết cất đâu, anh bèn dấu nó trong hốc kẹt, ngoài thềm sau cửa nhà. Mua kẹo buổi trưa, chiều ra tìm kẹo thì thấy kiến bu một đống ! Lần thứ hai cậu ghé thăm thì nhà mình đã dọn ra phía trước đường cái, ngay trước mặt lao xá. Khi đó anh đang đi học lớp nhất tại Ba Làng (Thanh Hải). Lần này cậu đã thành một người thanh niên chững chạc, đầu chải bóng láng, mặc áo sơmi bỏ vô quần, đi giày, xức dầu thơm. Cũng trong lần ghé thăm thứ hai này mà cậu đã dẫn anh đi uống cafe trên tỉnh. Uống xong, định ra đón xe lam về, nhưng chiều tối đâu còn xe nữa, cậu cháu đành phải lon ton đi bộ về.
Cậu Hải rất quý mến cha mẹ, và đặc biệt là rất cảm phục tính cách của cha. Cậu rất khéo tay và giỏi về nhiều nghề. Thời gian ở Bến Lội hơn 6 tháng với cậu, chia sẻ gian khổ với nhau đã cho anh thấy nơi cậu hình ảnh của một người quân tử “tiết trực tâm hư” luôn giữ lòng yêu mến dịu dàng với vợ con, với cháu cũng như với mọi người.)
Tới thị xã Thủ Dầu Một vào khoảng giữa buổi sáng, tôi ghé cừa hàng ăn uống kêu một dĩa thịt bò xào và một chai bia lớn (hiếm lắm mới thấy có cửa hàng ăn uống bán bia vào thời điểm này), ngồi nhâm nhi tính toán quãng đường tiếp theo. Theo lẽ thì tôi trở lại PT, ghé cha Báu trả món nợ là có thể xuôi đường về nhà vì công tác hoàn tất nhưng tôi vẫn còn tiếc những ngày rong ruổi, có thể đây là chuyến đi xa cuối cùng trước khi về chôn chân nơi xóm làng Đức Minh. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu : sao không nhân cơ hội ghé thăm chị Tuyết, chị ở Cà Mau nhưng chưa bao giờ biết nơi đó ra sao.
Về tới SG, không còn nhớ đã qua đêm tại đâu nhưng chỉ còn nhớ đã đi mua vé xe đi Cần-thơ cho ngày hôm sau và có ghé qua khu Tân-định thăm Thảo (con ông bà Thư), đang đi học may ở SG. Chẳng biết mô tê gì về đường xuống Cà-mau nhưng, như mẹ thường nói : « đường nằm nơi lỗ miệng », tôi mạnh dạn đáp xe xuống Cần-thơ, ghé tới nhà thờ Cần-thơ, nơi anh Sơn đã dẫn tôi tới một năm trước đó, gặp chị Chín và hỏi thăm đường đi nước bước để đi tìm chị Tuyết, trong khi trong tay chỉ có vỏn vẹn cái địa chỉ để gửi thư. Chị Chín đi tìm chị Tơ để hỏi thăm dùm tôi nhưng chị Tơ cũng chẳng biết làm sao để đi Cái Rắn, chỉ cho biết đi Cà-mau có thể đi xe hoặc đi tàu và khuyên nên đi tàu vì tuy tốn thời giờ nhưng rẻ tiền hơn. Tôi có dư thì giờ và cũng muốn đi tàu cho biết nên quyết định sẽ đi Cà-mau bằng tàu, chị Tơ hẹn sáng sớm hôm sau sẽ tới đưa tôi ra bến Ninh Kiều.
Tàu từ Cần-thơ đi Cà-mau là loại ghe bầu đi trên sông, có thể chứa đến hơn trăm khách. Mỗi người trả tiền để bước lên ghe rồi là tự ai nấy lo, trời còn tối nên có nhiều người trải chiếu để hoàn tất giấc ngủ dở dang, kẻ đứng, người ngồi, kẻ bán, người mua… ôi thôi, đủ mọi thứ và đủ mọi loại người. Sau khi dạo lòng vòng cho biết, tôi tìm một chỗ đứng gần đầu mũi để tiện quan sát; giờ khởi hành đã đến, ghe nổ máy chuyển mình, tà tà gặm từng khúc sông quanh co. Một giờ, hai giờ rồi ba giờ sau khi ghe rời bến, tôi cũng chỉ thấy một khung cảnh : dòng sông quanh co, nhiều tảng lục bình lờ lững trôi trong dòng nước ngả màu vàng đục, hai bờ sông rợp cây cối ẩn hiện vài mái nhà lặng lẽ, thỉnh thoảng có vài điểm quang đãng trên bờ sông, là những tụ điểm chợ búa của xóm làng miền Nam. Sông không rộng, chắc chỉ hơn 200 thước, ghe lại chạy chậm, lúc ghé bờ này bỏ hàng, lúc tạt vào bờ kia đón khách nên tôi có cảm tưởng như đang đi dạo chơi trong một cái làng nhỏ chứ không có cảm giác của một chuyến đi đường dài. Hành trình hơn 10 tiếng đồng hồ trên sông đưa tôi tới thành phố tận cùng phía Nam của đất nước, bước lên bến, tôi bắt xe ôm xin tới nhà thờ theo địa chỉ gửi thư cho chị Tuyết (có phải là nhà thờ Quản Long?), đi vào khuôn viên nhà xứ tôi gặp mấy em bé đang sinh hoạt đoàn thể nên hỏi thăm và được chỉ tới nhà của mấy xơ.
Bước vào nhà, tôi vào đề ngay lập tức : « Lần đầu tiên tới Cà-mau, nhờ mấy xơ chỉ đường cho đi Cái Rắn để thăm chị Tuyết, dòng CQP ». Mấy xơ chưa hết ngỡ ngàng thắc mắc thì có một chị (không nhớ rõ tên, có phải là chị Thắm?), cùng học với chị Tuyết, bỏ việc dở dang trong bếp, chạy lên la mừng rối rít : « A, Thạch này, em chị Tuyết đó. Đi đâu tận tới đây? ». Không khí nghi ngại đã tan biến, tôi trở thành vị khách mà các xơ phải đùm bọc; lúc này tôi mới biết không dễ gì đi tới giang sơn của chị Tuyết, chỉ còn cầu may chị Tuyết có việc phải chèo xuồng ra thành phố thì mới gặp được. Trong khi chờ bữa cơm chiều, tôi ngồi nhìn mấy xơ làm bánh lễ, sau đó được mời ngủ đêm lại trên chiếc ghế bố kê thêm nơi phòng khách.
Sáng hôm sau, chị T cho biết : xuồng máy chở khách đi Cái Rắn (cách Cà-mau gần 20 cây số) đang ngưng hoạt động, chưa biết khi nào chạy trở lại. Chị T đề nghị ở lại Cà-mau chơi ít hôm để xem có liên lạc được với chị Tuyết không, và chị ấy chỉ đường để đi bộ khoảng 7 cây số tới gia đình chị ấy ở Hòa-Thành để ở đó chơi và nhờ mấy đứa em của chị ấy dẫn đi thăm nhà bác Năm (ông Phước). Rời thành phố, rảo bộ trên con đường đất dẫn đến Hòa Thành, vừa ngắm đồng nước vừa quan sát sinh hoạt của các nông dân, tôi phát giác ra được nhiều cái mới lạ : ruộng đồng miền Nam nước ngập đến ngang hông chứ không cạn như những đồng lúa mà tôi đã gặp ở Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang hay Ban Mê Thuột, thành ra cây mạ miền Nam cũng dài gần cả thước chứ không ngắn đụt 3 tấc như ở những vùng khác; những người đi cấy lúa đều đeo theo bên hông một cái dùi gỗ, dài hơn nửa thước, lớn bằng cổ tay mà lúc đó tôi chưa biết dùng để làm gì, sau này nhờ người giải thích tôi mới biết được công dụng của nó. (Sơn: Công dụng của nó là gì, Thạch nói thêm cho rõ đi. Hay là ra câu đố coi ai đoán trúng công dụng của cái dùi thì sẽ được anh Thạch thưởng !! Giang: Chắc cái đó dùng làm ghế ngồi nghỉ ngay giữa ruộng!? )
Tới Hòa Thành vào khoảng hơn 9 giờ sáng, tôi theo chỉ dẫn của chị T và tìm được tới nhà chị ấy không mấy khó khăn, theo lời dặn để mở lời nên được niềm nở mời vào nhà ngay, tôi bắt đầu thực sự tiếp xúc với con người và sông nước miền Nam. Sau khi trò truyện một lát thì em chị T mới dẫn tôi tới nhà bác Năm, trước sự kinh ngạc của mấy người con ông Phước đang ở trông nhà trong lúc những người khác trong gia đình đã lên đường đi làm củi, làm cá cả tuần lễ. Mấy ngày ở Hòa Thành, tôi lúc ở nhà này lúc chơi nhà kia, cho tới một buổi tối kia thì thấy chị Tuyết tới. Qua hôm sau tôi được chị Tuyết và một chị khác nữa chèo xuồng chở tôi đi Cái Rắn, quả là một vùng khỉ ho cò gáy, nghèo khổ và thiếu thốn.
Sau mấy hôm thăm Cái Rắn, tôi trở lại Hòa Thành, nơi nhà ông Phước và ở đó chờ gặp ông bà ấy theo lời đề nghị của chị Nghĩa (con ông Phước). Trở về sau hơn 1 tuần lễ rong ruổi nơi vùng Năm Căn, ông bà Phước cũng rất ngạc nhiên khi thấy tôi mò được tới tận cùng đất nước; qua nhiều thăm dò, trao đổi, cuối cùng thì mọi người cũng đi tới một thỏa hiệp hợp tác cho tương lai. Tôi từ giã Cà-mau sau 2 tuần làm quen với sông nước.
Trên đường từ Sài Gòn ra Phan Thiết, tôi ghé lại nhà chú Bích nơi cây số 18 trước khi ghé tới cha Báu để thanh toán món nợ, và còn phải quay lại cơ sở của mấy xơ dòng MTG ở Thuận Nghĩa để lấy lại cái xách hành lý của anh Sơn mà cha Báu cho xơ Lý mượn. Công việc xong xuôi, tôi trở lại Tháp Chàm để cùng Phong về nhà (hình như Phong đang chuẩn bị khăn gói đi Tuy Hòa).
Một buổi sáng sớm, hai anh em bắt xe lửa đi Nha Trang, mang thêm mấy khúc dây nho trong hành lý. Lần tới bến xe, lúc ấy vẫn còn trước nhà thờ Phước Hải, chúng tôi thấy người chờ thì đông nhưng quầy vé vẫn đóng cửa kín mít, mọi người kiên nhẫn sắp hàng chờ đợi, cùng ngồi bệt xuống đất cho khỏi mỏi chân. Thỉnh thoảng có vài em bé bán dạo lướt qua chào mời thuốc lá, kẹo cao-su, ngồi rảnh rỗi nên gặp lúc có 2 cô bé khoảng 14-15 tuổi mời mua hàng Phong bắt đầu mở miệng ghẹo, không hiểu cái giọng lai Nam của Phong hấp dẫn thế nào mà 2 cô bé cứ lượn đi lượn lại hoài. Chờ tới quá trưa thì thấy có thông báo phòng vé không mở cửa hôm đó, anh em đành rời phòng vé. Tới đây thì tôi không còn nhớ đã làm gì trong buổi chiều và đêm hôm đó, ngủ ở đâu cũng không còn ấn tượng nhưng chắc là trở lại TGM.
Ngày hôm sau anh em trở lại bến xe, lại tiếp tục sắp hàng ngồi đợi, hy vọng phòng vé mở cửa; 2 cô bé ngày hôm trước lại sà tới, thân thiện hơn và cùng ngồi luôn lại đó trò truyện, quên luôn chuyện phải đi rong bán hàng, cho mãi tới trưa, lúc quầy vé mở cửa mới chịu rời bước. Hình như vé mua được để đi ngày hôm sau nên còn phải ở lại Nha Trang thêm một đêm nữa. Không biết Phong có còn nhớ chi tiết chuyến về nhà này không, còn tôi chỉ còn nhớ mang máng. Chỉ còn nhớ hai anh em đã ra bến xe thật sớm, quán sá chưa mở cửa; sau khi rảo qua rảo lại khu vực bến xe thì có một quán bắt đầu mở cửa, anh em vào gọi 2 ly cà phê sữa, 2 phin cà phê đã nhỏ tới giọt cuối cùng mà không thấy chủ quán mang thêm nước sôi nên đành bắt đầu nhấm nháp cà phê đậm đặc trong lúc chờ chủ quán xuất hiện để xin nước sôi. Tuy có xin thêm nước sôi nhưng mãi vẫn không thấy có, 2 anh em tự hỏi uống cà phê sữa đậm đặc như vậy mới là đúng kiểu hay vì tiệm chưa kịp đun nước sôi; cả hai anh em, chưa ai từng uống một ly cà phê sữa đậm đặc như thế.
Những dây nho mang về nhà được cắt khúc, ươm vào các bịch ny-lông và có được 2, 3 khúc nẩy mầm, tôi chuẩn bị cho một kế hoạch………dang dở.
Rời Đức-minh đi Bmt và Nha-trang trong ngày, tôi ghé vào TGM Nha-trang thăm mấy đứa bạn còn tu học tại đó, buổi tối nằm ngủ trong cái nhà ngủ thênh thang nay chỉ cho dành cho một tiểu đội. Ngày hôm sau bắt xe đi Phan-rang, hình như cái xe khách nhỏ chạy bằng than vì xăng dầu khá khan hiếm trong giai đoạn này. Ghé thăm và ở lại với Phong vài ngày tại Tháp Chàm, có buổi đi vào vườn hái ổi, có ngày đạp xe đạp cùng với mấy bạn của Phong đi tắm biển và còn có đi rạp xem phim nữa. Đôi lúc nghe Phong kể toàn những chuyến ghe vượt biển không thành : nào là cả tàu bị say sóng nằm liệt rồi bị trôi vào bờ, nào là đi lạc đường lòng vòng rồi lại quay về bến cũ…
Sau mấy hôm ở Phan-rang, chặng tiếp theo là Phan-thiết; tới PT vào lúc quá trưa, ghé nơi nhà bạn ở đối diện nhà thờ Lạc Đạo, hỏi thăm giờ giấc xe lửa và được biết có chuyến tàu chợ vào lúc 9 giờ tối nên nghỉ ngơi, ăn chiều và đón xe đi Mường Mán. Xe lam chỉ đi tới cây số 7 nên phải cuốc bộ thêm 7 cây số nữa mới tới ga xe lửa Mường Mán. Tới nơi thì có tin chuyến tàu chợ bị hủy vì tàu hư, thông tin là thế mà chẳng thấy ai rục rịch tan hàng, tôi hơi thắc mắc nên lân la hỏi thăm thì biết được khoảng nửa đêm sẽ có chuyến tàu Thống Nhất từ Hà Nội vào và còn có thêm chuyến tàu chở đá vào lúc 2 giờ sáng. Thế là tôi cũng lang thang nơi nhà ga, ngấm ngầm chú ý để biết cách xoay sở khi tàu tới. Gần nửa đêm thì tàu TN tới ga, không thấy người xuống nhưng cũng chẳng có người được lên, dù có năn nỉ xin mua vé, dường như tàu chỉ dừng cho đúng thời hạn. Tàu hụ còi báo giờ chuyển bánh sau 20 phút dừng ở ga, nhìn tới nhìn lui tôi thấy có nhiều bóng người thấp thoáng, tôi cũng tiến tới gần đường xe lửa, kiếm một chỗ khuất ánh đèn điện, nấp sau một cái cột. Tàu xình xịch chuyển bánh thì, lập tức, nhiều bóng người túa ra, lần lượt nhảy lên bám vào các khoảng nối giữa hai toa tàu, tôi cũng tìm được một khoảng chỉ mới có một người bám, nhảy lên, đứng trên khúc nối, tay bám toa trước, lưng dựa toa sau. Sau khoảng 20 phút, tàu đã chạy đều, tình hình có vẻ yên ổn, người bạn cùng bám tàu rủ tôi leo lên mui đi về toa cuối kiếm chỗ nằm vì toa cuối là toa hành lý, thấp hơn những toa hành khách nên không có gió; tôi cũng mon men đi về cuối, mới thấy có đến cả mười mấy người đang trải mền trên mui toa cuối, chuẩn bị chỗ nằm một cách rất thành thuộc. Không muốn nhập bọn, tôi vượt vài toa để trở lại phía trước, kiếm một chỗ ngồi trên mui toa sau, gập mình gác trán lên mui toa trước, dùng hai cánh tay làm gối, cứ thế để chờ cho quãng đường từ từ rút ngắn.
Hành trang của tôi không có gì ngoài « bửu bối » đi đường và một bộ đồ để trong cái túi vải nhỏ tròng vào cổ, trên mình khoác cái áo pạc-đờ-suy (pardessus) của anh Sơn để lại để che đỡ mưa gió. Ngồi vừa ngủ lơ mơ vừa phải cảnh giác, suốt đêm còn phải hứng mấy cơn mưa rào, đủ lớn để làm ướt đẫm áo khoác, may là ngồi trên mui có gió quạt phần phật nên nửa giờ sau cơn mưa là quần áo lại khô ráo trở lại. Khoảng 6 giờ sáng thì tàu tới ngang Long Khánh, cảm thấy hơi dị hợm trên mui xe lửa, tôi tụt xuống đứng giữa hai toa tàu cho tới khi tàu hụ còi giảm tốc độ để từ từ tiến vào ga Bình Triệu, vào khoảng 8 giờ sáng.
Tôi nhảy xuống khỏi xe lửa trước khi đoàn tàu tiến vào phạm vi nhà ga, bên ngoài hàng rào lưới thép, để tránh bị xét vé lúc ra cổng. Vòng ra đường cái, tôi bắt xe tiếp tục con đường xuống Bến Lội. Tới nhà cậu Hải khoảng 4 giờ chiều, tôi tranh thủ lúc trời còn sáng để xem xét những gì cần thu hồi, cuối cùng thì hình như tôi không có thêm đồ đạc gì khi rời nhà cậu Hải. Ý tôi cũng chỉ muốn ghé chào cậu để báo cho cậu biết anh Sơn đã ra đi và tôi cũng sẽ không trở lại nữa. Buổi tối ngồi hút thuốc lào nói chuyện với cậu Hải, cậu lấy làm tiếc khi hai anh em đã góp phần vào gia đình cậu trong lúc khó khăn nhất, để đến lúc thấy một chút tương lai tươi sáng hơn thì không còn ở lại để hưởng. Cậu rủ rê tôi ở lại thêm vài ngày nhưng tôi nhất định chỉ tới rồi đi nên cậu cháu cùng bảo nhau lên giường nhắm mắt vài tiếng cho có sức. Chẳng ai có đồng hồ, tôi dự đoán : trăng 17 sẽ treo ở đỉnh đầu vào khoảng 2 giờ sáng, là giờ tôi cần phải ra đi cho kịp chuyến xe. Sau vài tiếng đồng hồ ngủ chập chờn, tôi giật mình thức giấc lúc trăng vừa lên giữa đỉnh đầu, nhẹ nhàng bước xuống nhưng cũng làm cậu Hải thức giấc, tôi từ giã cậu, trở bước lần cuối cùng trên con đường cát 4 cây số ngoằn ngoèo dẫn ra Thị Tính, giữa những bụi cỏ cao còn đẫm sương. (Sơn : Anh có cơ duyên được quen biết và gần gũi với các cậu nhiều hơn chị Tuyết và các em. Với cậu Trực thì đã đành, vì cậu Trực ở ngay trong nhà, nhưng với cậu Hải và cậu Phan, anh cũng có nhiều kỷ niệm thân quen, có lẽ do hoàn cảnh, do lứa tuổi, hay do tính cách thân thiện và thích làm quen của anh. Anh với cậu Hải có nhiều thân tình. Lần đầu cậu ghé thăm, đó là vào khoảng 1960, cậu vừa mới lớn, như cháu Minh Kha nhà mình bây giờ vậy, cao dong dỏng, mặc quần áo đơn sơ. Đó là lần đầu tiên anh gặp cậu. Hai cậu cháu bắt đầu làm quen với nhau. Kỷ niệm vui vui, đó là sau khi chào hỏi cha mẹ xong thì cậu mới hỏi anh : « Sơn có muốn ăn kẹo không ». Trời, kẹo mà đứa con nít nào lại không thèm. Anh liền nhanh nhẩu trả lời rằng « cháu thích ăn, mà có 1 loại kẹo ngon lắm, có bán ngoài hàng của ông bà Lịch, kêu bằng kẹo dứa (kẹo có mùi trái thơm). Cậu muốn ăn thử không ? Cháu dẫn cậu đi mua ». Lúc đó nhà mình còn ở căn nhà phía sau, chưa dời ra phía ngoài đường cái. Từ lúc biết đi mua kẹo cho tới khi đó, chưa bao giờ anh có tiền mua một lần nhiều kẹo dứa như vậy. Cậu mua cho anh không biết bao nhiêu tiền mà được một nắm kẹo thiệt bự, bỏ đầy 2 túi, cầm đầy trong tay mà vẫn còn dư. Anh thích quá, ăn liền tù tì gần chục cái, nhưng còn dư không biết cất đâu, anh bèn dấu nó trong hốc kẹt, ngoài thềm sau cửa nhà. Mua kẹo buổi trưa, chiều ra tìm kẹo thì thấy kiến bu một đống ! Lần thứ hai cậu ghé thăm thì nhà mình đã dọn ra phía trước đường cái, ngay trước mặt lao xá. Khi đó anh đang đi học lớp nhất tại Ba Làng (Thanh Hải). Lần này cậu đã thành một người thanh niên chững chạc, đầu chải bóng láng, mặc áo sơmi bỏ vô quần, đi giày, xức dầu thơm. Cũng trong lần ghé thăm thứ hai này mà cậu đã dẫn anh đi uống cafe trên tỉnh. Uống xong, định ra đón xe lam về, nhưng chiều tối đâu còn xe nữa, cậu cháu đành phải lon ton đi bộ về.
Cậu Hải rất quý mến cha mẹ, và đặc biệt là rất cảm phục tính cách của cha. Cậu rất khéo tay và giỏi về nhiều nghề. Thời gian ở Bến Lội hơn 6 tháng với cậu, chia sẻ gian khổ với nhau đã cho anh thấy nơi cậu hình ảnh của một người quân tử “tiết trực tâm hư” luôn giữ lòng yêu mến dịu dàng với vợ con, với cháu cũng như với mọi người.)
Tới thị xã Thủ Dầu Một vào khoảng giữa buổi sáng, tôi ghé cừa hàng ăn uống kêu một dĩa thịt bò xào và một chai bia lớn (hiếm lắm mới thấy có cửa hàng ăn uống bán bia vào thời điểm này), ngồi nhâm nhi tính toán quãng đường tiếp theo. Theo lẽ thì tôi trở lại PT, ghé cha Báu trả món nợ là có thể xuôi đường về nhà vì công tác hoàn tất nhưng tôi vẫn còn tiếc những ngày rong ruổi, có thể đây là chuyến đi xa cuối cùng trước khi về chôn chân nơi xóm làng Đức Minh. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu : sao không nhân cơ hội ghé thăm chị Tuyết, chị ở Cà Mau nhưng chưa bao giờ biết nơi đó ra sao.
Về tới SG, không còn nhớ đã qua đêm tại đâu nhưng chỉ còn nhớ đã đi mua vé xe đi Cần-thơ cho ngày hôm sau và có ghé qua khu Tân-định thăm Thảo (con ông bà Thư), đang đi học may ở SG. Chẳng biết mô tê gì về đường xuống Cà-mau nhưng, như mẹ thường nói : « đường nằm nơi lỗ miệng », tôi mạnh dạn đáp xe xuống Cần-thơ, ghé tới nhà thờ Cần-thơ, nơi anh Sơn đã dẫn tôi tới một năm trước đó, gặp chị Chín và hỏi thăm đường đi nước bước để đi tìm chị Tuyết, trong khi trong tay chỉ có vỏn vẹn cái địa chỉ để gửi thư. Chị Chín đi tìm chị Tơ để hỏi thăm dùm tôi nhưng chị Tơ cũng chẳng biết làm sao để đi Cái Rắn, chỉ cho biết đi Cà-mau có thể đi xe hoặc đi tàu và khuyên nên đi tàu vì tuy tốn thời giờ nhưng rẻ tiền hơn. Tôi có dư thì giờ và cũng muốn đi tàu cho biết nên quyết định sẽ đi Cà-mau bằng tàu, chị Tơ hẹn sáng sớm hôm sau sẽ tới đưa tôi ra bến Ninh Kiều.
Tàu từ Cần-thơ đi Cà-mau là loại ghe bầu đi trên sông, có thể chứa đến hơn trăm khách. Mỗi người trả tiền để bước lên ghe rồi là tự ai nấy lo, trời còn tối nên có nhiều người trải chiếu để hoàn tất giấc ngủ dở dang, kẻ đứng, người ngồi, kẻ bán, người mua… ôi thôi, đủ mọi thứ và đủ mọi loại người. Sau khi dạo lòng vòng cho biết, tôi tìm một chỗ đứng gần đầu mũi để tiện quan sát; giờ khởi hành đã đến, ghe nổ máy chuyển mình, tà tà gặm từng khúc sông quanh co. Một giờ, hai giờ rồi ba giờ sau khi ghe rời bến, tôi cũng chỉ thấy một khung cảnh : dòng sông quanh co, nhiều tảng lục bình lờ lững trôi trong dòng nước ngả màu vàng đục, hai bờ sông rợp cây cối ẩn hiện vài mái nhà lặng lẽ, thỉnh thoảng có vài điểm quang đãng trên bờ sông, là những tụ điểm chợ búa của xóm làng miền Nam. Sông không rộng, chắc chỉ hơn 200 thước, ghe lại chạy chậm, lúc ghé bờ này bỏ hàng, lúc tạt vào bờ kia đón khách nên tôi có cảm tưởng như đang đi dạo chơi trong một cái làng nhỏ chứ không có cảm giác của một chuyến đi đường dài. Hành trình hơn 10 tiếng đồng hồ trên sông đưa tôi tới thành phố tận cùng phía Nam của đất nước, bước lên bến, tôi bắt xe ôm xin tới nhà thờ theo địa chỉ gửi thư cho chị Tuyết (có phải là nhà thờ Quản Long?), đi vào khuôn viên nhà xứ tôi gặp mấy em bé đang sinh hoạt đoàn thể nên hỏi thăm và được chỉ tới nhà của mấy xơ.
Bước vào nhà, tôi vào đề ngay lập tức : « Lần đầu tiên tới Cà-mau, nhờ mấy xơ chỉ đường cho đi Cái Rắn để thăm chị Tuyết, dòng CQP ». Mấy xơ chưa hết ngỡ ngàng thắc mắc thì có một chị (không nhớ rõ tên, có phải là chị Thắm?), cùng học với chị Tuyết, bỏ việc dở dang trong bếp, chạy lên la mừng rối rít : « A, Thạch này, em chị Tuyết đó. Đi đâu tận tới đây? ». Không khí nghi ngại đã tan biến, tôi trở thành vị khách mà các xơ phải đùm bọc; lúc này tôi mới biết không dễ gì đi tới giang sơn của chị Tuyết, chỉ còn cầu may chị Tuyết có việc phải chèo xuồng ra thành phố thì mới gặp được. Trong khi chờ bữa cơm chiều, tôi ngồi nhìn mấy xơ làm bánh lễ, sau đó được mời ngủ đêm lại trên chiếc ghế bố kê thêm nơi phòng khách.
Sáng hôm sau, chị T cho biết : xuồng máy chở khách đi Cái Rắn (cách Cà-mau gần 20 cây số) đang ngưng hoạt động, chưa biết khi nào chạy trở lại. Chị T đề nghị ở lại Cà-mau chơi ít hôm để xem có liên lạc được với chị Tuyết không, và chị ấy chỉ đường để đi bộ khoảng 7 cây số tới gia đình chị ấy ở Hòa-Thành để ở đó chơi và nhờ mấy đứa em của chị ấy dẫn đi thăm nhà bác Năm (ông Phước). Rời thành phố, rảo bộ trên con đường đất dẫn đến Hòa Thành, vừa ngắm đồng nước vừa quan sát sinh hoạt của các nông dân, tôi phát giác ra được nhiều cái mới lạ : ruộng đồng miền Nam nước ngập đến ngang hông chứ không cạn như những đồng lúa mà tôi đã gặp ở Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang hay Ban Mê Thuột, thành ra cây mạ miền Nam cũng dài gần cả thước chứ không ngắn đụt 3 tấc như ở những vùng khác; những người đi cấy lúa đều đeo theo bên hông một cái dùi gỗ, dài hơn nửa thước, lớn bằng cổ tay mà lúc đó tôi chưa biết dùng để làm gì, sau này nhờ người giải thích tôi mới biết được công dụng của nó. (Sơn: Công dụng của nó là gì, Thạch nói thêm cho rõ đi. Hay là ra câu đố coi ai đoán trúng công dụng của cái dùi thì sẽ được anh Thạch thưởng !! Giang: Chắc cái đó dùng làm ghế ngồi nghỉ ngay giữa ruộng!? )
Tới Hòa Thành vào khoảng hơn 9 giờ sáng, tôi theo chỉ dẫn của chị T và tìm được tới nhà chị ấy không mấy khó khăn, theo lời dặn để mở lời nên được niềm nở mời vào nhà ngay, tôi bắt đầu thực sự tiếp xúc với con người và sông nước miền Nam. Sau khi trò truyện một lát thì em chị T mới dẫn tôi tới nhà bác Năm, trước sự kinh ngạc của mấy người con ông Phước đang ở trông nhà trong lúc những người khác trong gia đình đã lên đường đi làm củi, làm cá cả tuần lễ. Mấy ngày ở Hòa Thành, tôi lúc ở nhà này lúc chơi nhà kia, cho tới một buổi tối kia thì thấy chị Tuyết tới. Qua hôm sau tôi được chị Tuyết và một chị khác nữa chèo xuồng chở tôi đi Cái Rắn, quả là một vùng khỉ ho cò gáy, nghèo khổ và thiếu thốn.
Sau mấy hôm thăm Cái Rắn, tôi trở lại Hòa Thành, nơi nhà ông Phước và ở đó chờ gặp ông bà ấy theo lời đề nghị của chị Nghĩa (con ông Phước). Trở về sau hơn 1 tuần lễ rong ruổi nơi vùng Năm Căn, ông bà Phước cũng rất ngạc nhiên khi thấy tôi mò được tới tận cùng đất nước; qua nhiều thăm dò, trao đổi, cuối cùng thì mọi người cũng đi tới một thỏa hiệp hợp tác cho tương lai. Tôi từ giã Cà-mau sau 2 tuần làm quen với sông nước.
Trên đường từ Sài Gòn ra Phan Thiết, tôi ghé lại nhà chú Bích nơi cây số 18 trước khi ghé tới cha Báu để thanh toán món nợ, và còn phải quay lại cơ sở của mấy xơ dòng MTG ở Thuận Nghĩa để lấy lại cái xách hành lý của anh Sơn mà cha Báu cho xơ Lý mượn. Công việc xong xuôi, tôi trở lại Tháp Chàm để cùng Phong về nhà (hình như Phong đang chuẩn bị khăn gói đi Tuy Hòa).
Một buổi sáng sớm, hai anh em bắt xe lửa đi Nha Trang, mang thêm mấy khúc dây nho trong hành lý. Lần tới bến xe, lúc ấy vẫn còn trước nhà thờ Phước Hải, chúng tôi thấy người chờ thì đông nhưng quầy vé vẫn đóng cửa kín mít, mọi người kiên nhẫn sắp hàng chờ đợi, cùng ngồi bệt xuống đất cho khỏi mỏi chân. Thỉnh thoảng có vài em bé bán dạo lướt qua chào mời thuốc lá, kẹo cao-su, ngồi rảnh rỗi nên gặp lúc có 2 cô bé khoảng 14-15 tuổi mời mua hàng Phong bắt đầu mở miệng ghẹo, không hiểu cái giọng lai Nam của Phong hấp dẫn thế nào mà 2 cô bé cứ lượn đi lượn lại hoài. Chờ tới quá trưa thì thấy có thông báo phòng vé không mở cửa hôm đó, anh em đành rời phòng vé. Tới đây thì tôi không còn nhớ đã làm gì trong buổi chiều và đêm hôm đó, ngủ ở đâu cũng không còn ấn tượng nhưng chắc là trở lại TGM.
Ngày hôm sau anh em trở lại bến xe, lại tiếp tục sắp hàng ngồi đợi, hy vọng phòng vé mở cửa; 2 cô bé ngày hôm trước lại sà tới, thân thiện hơn và cùng ngồi luôn lại đó trò truyện, quên luôn chuyện phải đi rong bán hàng, cho mãi tới trưa, lúc quầy vé mở cửa mới chịu rời bước. Hình như vé mua được để đi ngày hôm sau nên còn phải ở lại Nha Trang thêm một đêm nữa. Không biết Phong có còn nhớ chi tiết chuyến về nhà này không, còn tôi chỉ còn nhớ mang máng. Chỉ còn nhớ hai anh em đã ra bến xe thật sớm, quán sá chưa mở cửa; sau khi rảo qua rảo lại khu vực bến xe thì có một quán bắt đầu mở cửa, anh em vào gọi 2 ly cà phê sữa, 2 phin cà phê đã nhỏ tới giọt cuối cùng mà không thấy chủ quán mang thêm nước sôi nên đành bắt đầu nhấm nháp cà phê đậm đặc trong lúc chờ chủ quán xuất hiện để xin nước sôi. Tuy có xin thêm nước sôi nhưng mãi vẫn không thấy có, 2 anh em tự hỏi uống cà phê sữa đậm đặc như vậy mới là đúng kiểu hay vì tiệm chưa kịp đun nước sôi; cả hai anh em, chưa ai từng uống một ly cà phê sữa đậm đặc như thế.
Những dây nho mang về nhà được cắt khúc, ươm vào các bịch ny-lông và có được 2, 3 khúc nẩy mầm, tôi chuẩn bị cho một kế hoạch………dang dở.
Tin vịt
Hình như trong thời gian cha đi tu nghiệp mấy tháng ở Vũng Tàu, một sáng kia, có hai người bận quân phục ghé qua nhà, hỏi mẹ có phải đây là nhà ông Phan Văn Trực và báo tin ông Trực đã tử thương.
Mẹ bán tin bán nghi nhưng 2 người mang thông điệp tới cũng không thể cung cấp thêm tin tức gì rồi từ giã. Mẹ không biết phải làm sao, tuy đưa ra lập luận chuyện không thể nào có vì tên tuổi không chính xác nhưng mẹ cũng không thể nào yên tâm.
Tôi còn nhớ mẹ bàng hoàng, không còn làm được việc gì, chỉ nằm trên võng khóc suốt cả buổi. Không biết nhờ đâu, và tới khi nào thì mẹ biết được là tin báo không chính xác.
Mẹ bán tin bán nghi nhưng 2 người mang thông điệp tới cũng không thể cung cấp thêm tin tức gì rồi từ giã. Mẹ không biết phải làm sao, tuy đưa ra lập luận chuyện không thể nào có vì tên tuổi không chính xác nhưng mẹ cũng không thể nào yên tâm.
Tôi còn nhớ mẹ bàng hoàng, không còn làm được việc gì, chỉ nằm trên võng khóc suốt cả buổi. Không biết nhờ đâu, và tới khi nào thì mẹ biết được là tin báo không chính xác.
22/4/10
Cất te - Câu cá
Những năm cuối thập niên 70 qua đầu thập niên 80 chắc là những năm đói khổ nhất cho mọi nhà. Ở Đức-minh không quá đói gạo nhưng ngoài những nông phẩm sản xuất tại chỗ ra thì không còn gì nữa cả.
Qua những lần đổi tiền, đánh tư sản, quốc hữu hóa doanh nghiệp, thành lập hợp tác xã, nhà nhà chỉ còn nước tự lực cánh sinh. Tuy nhà có gạo, có ngô khoai nhưng đồ ăn thì hầu như chẳng có gì; đi làm hợp tác xã chỉ có điểm nên thỉnh thoảng phải bán một con gà hay giết lén một con heo mang thịt đi bán để có chút tiền tiêu dùng (thịt mang đi bán nên người nhà chỉ được hưởng mấy món lòng và tiết canh). Bởi vậy, món ăn thường thấy nhất trong các bữa ăn trong những năm tháng này là món đu-đủ. Nhà mình hồi đó có một cây đu đủ ngay ở cửa sổ trên gác nhìn xuống, cây không tốt lắm nhưng lại rất sai trái, cây càng ngày càng cao cho tới ngang tầm cửa sổ căn gác. Từ cây này sinh ra các món : đu đủ ngâm mắm, canh đu đủ, đu đủ xào, đu đủ luộc,…. (Sơn : dầu chỉ ở nhà có 1 năm, từ mùa hè 1977 đến mùa hè 1978, anh cũng không quên được cây đu đủ bên hông nhà, và những bữa cơm mà đu đủ là món chủ lực, do Trinh xào nấu)
Trứng gà, chứ chưa nói thịt gà, thuộc loại hàng xa xí phẩm, phải cất dành để cho ấp hay đem ra chợ bán hầu có tiền mua ít đường, dầu ăn. Mẹ nuôi heo nái, mỗi lứa thường có một, hai chú heo con còi cọt; vào một ngày đẹp trời nào đó, tự nhiên bữa cơm thấy có thịt và trong chuồng cũng vắng bóng luôn chú heo con còi cọt, cha là người giải quyết rất gọn các trường hợp này. (Sơn : lễ Phục sinh 1978, cha ở nhà làm thịt chó. Đó là con chó của nhà, anh không nhớ nó màu gì, mập ốm ra sao. Chỉ còn nhớ là cha không đi lễ buổi tối mà ở nhà làm thịt chó với mẹ. Lễ về thì thấy đã có nồi rựa mận tổ bố).
Những bữa tiệc này là điều hiếm hoi, lâu lâu mới có. Những người có công cải thiện các bữa cơm hằng ngày trong thời gian này là Nguyên, Thủy và Quang, nhất là Nguyên.
(Chị Tuyết : Chị đi tu xa nhà vậy mà cũng biết tài câu cá đặc biệt của Nguyên đó. Người miền Nam gọi là « sát cá». Không biết nơi người ấy có một mãnh lực thế nào mà cá cứ đâm vào lưỡi câu hoặc tấm lưới của người ấy thôi. Trong các sơ cũng có những người có khả năng đặc biệt như vậy. Còn chị Tuyết thì cá vừa thoáng thấy bóng là đã chạy mất hết rồi. Hoặc có đút mồi tận miệng nó cũng không thèm đớp !
Lần ấy chị Tuyết về thăm nhà, nghe mẹ nói Nguyên câu giỏi lắm. Nhờ có Nguyên mà cả nhà lâu lâu được những bữa cơm với cá tươi ngon tuyệt.
Vậy là với gợi ý của mẹ, hôm ấy Nguyên đi câu, trổ tài để đãi chị Tuyết một bữa. Lâu lâu chị Tuyết mới về nhà một lần mà, tới hai năm lận. Hôm đó Nguyên chuẩn bị đồ nghề rất sớm, từ sáng là đã vác mồi và cần câu ra đập Tây rồi ! Mẹ cũng đi chợ mua sẵn đồ để nấu món cá lóc canh chua hay gì đó …
Chiều đến, chờ mãi mà không thấy bóng dáng Nguyên đâu cả. Mẹ đành phải đổi món ăn thôi. Cuối cùng thì Nguyên cũng về tới. Không biết « tổ trác » hay sao mà mất toi công cả ngày ! Ngồi chờ mãi không thấy tăm hơi chú cá nào bén mảng tới nạp mạng cả nên Nguyên đành lầm lũi trở về với giỏ không !
Thương em quá, hôm ấy phải giầm mưa nữa… ! Có lẽ nhờ ơn « Cách mạng » mới có cơ hội cầm cần câu ! Câu để kiếm sống theo một nghĩa nào đó chứ không phải để giải trí như những người ở đất nước văn minh Âu châu. Họ câu cá không phải để kiếm cá ăn mà để thư giãn nên câu lên rồi lại thả xuống.
Lần ấy thì Nguyên hơi bị « xui» nhưng những lần khác thì cá xui, bị Nguyên chộp. Chị Tuyết cũng ít nhiều được hưởng lộc của Nguyên mỗi khi có dịp về thăm nhà đó chứ. Cám ơn Nguyên với tài câu cá.)
Thủy, Quang thay nhau (và đôi lúc giành nhau nữa!) đi cất te ở đập Tây để kiếm thêm bát tép, thường thì rời nhà lúc giữa chiều và tới sập tối mới về. Nguyên thì mỗi chiều đều vác cần câu đi câu rê trong mấy đám ruộng gần nghĩa địa. Số Nguyên hình như rất sát cá nên hầu như ngày nào cũng kiếm được chút gì, đôi bữa ở nhà nấu cơm sẵn, chờ Nguyên về để có cá làm thức ăn. Nhưng cũng có những ngày Nguyên vác cần câu về nhà mà chẳng có gì cả, những lúc đó Nguyên thường bị ghẹo là bị sẩy con cá lớn lắm làm cho Nguyên tức anh ách. (Quang : Hồi đó em một buổi đi học, buổi chiều về rang thính (cám) làm mồi đi cất tép. Điểm đi thường là đập bà Khoan, hay đi chung với Ngân con ông Nhàn. Cứ đi từ chiều đến tối mới về, hôm nào được thì khoảng nửa oi (đồ đựng tép, cá), hôm nào ít khoảng 1 chén (bát). Nhiều hôm mẹ không muốn cho đi cũng trốn đi, vì đi cất tép được chèo xuồng dưới nước thích hơn là làm những việc khác.)
(Trinh : Quang hồi nhỏ rất ham chơi và không thích làm việc nhà, chị nhớ là khoảng năm 86 trước thời gian chị học cao đẳng, lúc đó Quang học lớp 10, học buổi sáng, buổi chiều nghỉ thế nhưng buổi chiều Quang vẫn hay đi lên trường, lúc thì đi tập văn nghệ, lúc thì chuyện nọ, chuyện kia. Có hôm Quang ở nhà, chị mừng quá vì chiều nay sẽ có người đi làm cỏ lúa với mình cho vui ai ngờ Quang đã hẹn đi làm đổi công cho con Uyển, ngày mai cũng làm cho nó vì làm chưa xong, ngày mốt lại làm cho nhà con Thanh, ngày kia lại làm cho nhà con Ái, thế là hết tuần, cỏ nhà mình cũng đã làm xong và chẳng có đứa bạn nào trả công lại cho Quang cả.)
Qua những lần đổi tiền, đánh tư sản, quốc hữu hóa doanh nghiệp, thành lập hợp tác xã, nhà nhà chỉ còn nước tự lực cánh sinh. Tuy nhà có gạo, có ngô khoai nhưng đồ ăn thì hầu như chẳng có gì; đi làm hợp tác xã chỉ có điểm nên thỉnh thoảng phải bán một con gà hay giết lén một con heo mang thịt đi bán để có chút tiền tiêu dùng (thịt mang đi bán nên người nhà chỉ được hưởng mấy món lòng và tiết canh). Bởi vậy, món ăn thường thấy nhất trong các bữa ăn trong những năm tháng này là món đu-đủ. Nhà mình hồi đó có một cây đu đủ ngay ở cửa sổ trên gác nhìn xuống, cây không tốt lắm nhưng lại rất sai trái, cây càng ngày càng cao cho tới ngang tầm cửa sổ căn gác. Từ cây này sinh ra các món : đu đủ ngâm mắm, canh đu đủ, đu đủ xào, đu đủ luộc,…. (Sơn : dầu chỉ ở nhà có 1 năm, từ mùa hè 1977 đến mùa hè 1978, anh cũng không quên được cây đu đủ bên hông nhà, và những bữa cơm mà đu đủ là món chủ lực, do Trinh xào nấu)
Trứng gà, chứ chưa nói thịt gà, thuộc loại hàng xa xí phẩm, phải cất dành để cho ấp hay đem ra chợ bán hầu có tiền mua ít đường, dầu ăn. Mẹ nuôi heo nái, mỗi lứa thường có một, hai chú heo con còi cọt; vào một ngày đẹp trời nào đó, tự nhiên bữa cơm thấy có thịt và trong chuồng cũng vắng bóng luôn chú heo con còi cọt, cha là người giải quyết rất gọn các trường hợp này. (Sơn : lễ Phục sinh 1978, cha ở nhà làm thịt chó. Đó là con chó của nhà, anh không nhớ nó màu gì, mập ốm ra sao. Chỉ còn nhớ là cha không đi lễ buổi tối mà ở nhà làm thịt chó với mẹ. Lễ về thì thấy đã có nồi rựa mận tổ bố).
Những bữa tiệc này là điều hiếm hoi, lâu lâu mới có. Những người có công cải thiện các bữa cơm hằng ngày trong thời gian này là Nguyên, Thủy và Quang, nhất là Nguyên.
(Chị Tuyết : Chị đi tu xa nhà vậy mà cũng biết tài câu cá đặc biệt của Nguyên đó. Người miền Nam gọi là « sát cá». Không biết nơi người ấy có một mãnh lực thế nào mà cá cứ đâm vào lưỡi câu hoặc tấm lưới của người ấy thôi. Trong các sơ cũng có những người có khả năng đặc biệt như vậy. Còn chị Tuyết thì cá vừa thoáng thấy bóng là đã chạy mất hết rồi. Hoặc có đút mồi tận miệng nó cũng không thèm đớp !
Lần ấy chị Tuyết về thăm nhà, nghe mẹ nói Nguyên câu giỏi lắm. Nhờ có Nguyên mà cả nhà lâu lâu được những bữa cơm với cá tươi ngon tuyệt.
Vậy là với gợi ý của mẹ, hôm ấy Nguyên đi câu, trổ tài để đãi chị Tuyết một bữa. Lâu lâu chị Tuyết mới về nhà một lần mà, tới hai năm lận. Hôm đó Nguyên chuẩn bị đồ nghề rất sớm, từ sáng là đã vác mồi và cần câu ra đập Tây rồi ! Mẹ cũng đi chợ mua sẵn đồ để nấu món cá lóc canh chua hay gì đó …
Chiều đến, chờ mãi mà không thấy bóng dáng Nguyên đâu cả. Mẹ đành phải đổi món ăn thôi. Cuối cùng thì Nguyên cũng về tới. Không biết « tổ trác » hay sao mà mất toi công cả ngày ! Ngồi chờ mãi không thấy tăm hơi chú cá nào bén mảng tới nạp mạng cả nên Nguyên đành lầm lũi trở về với giỏ không !
Thương em quá, hôm ấy phải giầm mưa nữa… ! Có lẽ nhờ ơn « Cách mạng » mới có cơ hội cầm cần câu ! Câu để kiếm sống theo một nghĩa nào đó chứ không phải để giải trí như những người ở đất nước văn minh Âu châu. Họ câu cá không phải để kiếm cá ăn mà để thư giãn nên câu lên rồi lại thả xuống.
Lần ấy thì Nguyên hơi bị « xui» nhưng những lần khác thì cá xui, bị Nguyên chộp. Chị Tuyết cũng ít nhiều được hưởng lộc của Nguyên mỗi khi có dịp về thăm nhà đó chứ. Cám ơn Nguyên với tài câu cá.)
Thủy, Quang thay nhau (và đôi lúc giành nhau nữa!) đi cất te ở đập Tây để kiếm thêm bát tép, thường thì rời nhà lúc giữa chiều và tới sập tối mới về. Nguyên thì mỗi chiều đều vác cần câu đi câu rê trong mấy đám ruộng gần nghĩa địa. Số Nguyên hình như rất sát cá nên hầu như ngày nào cũng kiếm được chút gì, đôi bữa ở nhà nấu cơm sẵn, chờ Nguyên về để có cá làm thức ăn. Nhưng cũng có những ngày Nguyên vác cần câu về nhà mà chẳng có gì cả, những lúc đó Nguyên thường bị ghẹo là bị sẩy con cá lớn lắm làm cho Nguyên tức anh ách. (Quang : Hồi đó em một buổi đi học, buổi chiều về rang thính (cám) làm mồi đi cất tép. Điểm đi thường là đập bà Khoan, hay đi chung với Ngân con ông Nhàn. Cứ đi từ chiều đến tối mới về, hôm nào được thì khoảng nửa oi (đồ đựng tép, cá), hôm nào ít khoảng 1 chén (bát). Nhiều hôm mẹ không muốn cho đi cũng trốn đi, vì đi cất tép được chèo xuồng dưới nước thích hơn là làm những việc khác.)
(Trinh : Quang hồi nhỏ rất ham chơi và không thích làm việc nhà, chị nhớ là khoảng năm 86 trước thời gian chị học cao đẳng, lúc đó Quang học lớp 10, học buổi sáng, buổi chiều nghỉ thế nhưng buổi chiều Quang vẫn hay đi lên trường, lúc thì đi tập văn nghệ, lúc thì chuyện nọ, chuyện kia. Có hôm Quang ở nhà, chị mừng quá vì chiều nay sẽ có người đi làm cỏ lúa với mình cho vui ai ngờ Quang đã hẹn đi làm đổi công cho con Uyển, ngày mai cũng làm cho nó vì làm chưa xong, ngày mốt lại làm cho nhà con Thanh, ngày kia lại làm cho nhà con Ái, thế là hết tuần, cỏ nhà mình cũng đã làm xong và chẳng có đứa bạn nào trả công lại cho Quang cả.)
Đám cưới Vân
Trong số những đứa con lập gia đình thì Vân chắc là người chịu thiệt thòi nhất, vì đám cưới ở một thời điểm khó khăn nhất của gia đình và cũng là thời điểm thiếu thốn nghèo khổ của toàn xã hội miền Nam.
Chuyện kết hợp hai gia đình thật đơn sơ qua một hai lần xã giao, rồi qua trung gian anh chị Phúc để bàn bạc và đám cưới tới ngay sau đó.
Lúc đó, xứ Xã-đoài vắng linh mục, đám cưới phải làm trong nhà thờ Vinh An, vào một buổi sáng sớm, cô dâu trong áo dài, không trang điểm, không hoa hòe. Đơn sơ và thầm lặng như bản chất của Vân.
Tiệc cưới không có khách mời nên không cần khiêng bàn, dựng rạp, chỉ quây mấy cái bàn thành hình chữ L trong nhà là đủ chỗ cho mọi người. Nấu nướng cũng không rườm rà nhiêu khê : mẹ làm món chả rán (chả giò), dượng Anh thủ vai bếp chính để ướp thịt gà làm mấy món gì đó, có thêm dì Hạ, cậu mợ Phan và hai cô bạn của Vân.
(Phong : Ngoài ra còn có món bánh ít. Nhà mình tự xay bột bằng cối đá và mẹ gói. Bánh nấu xong khi lột ra thì bột dính chặt vào lá, cái bánh bị nát tương. Cũng tại vì không có kinh nghiệm : mình làm bánh hoàn toàn bằng bột nếp, đáng lẽ phải pha thêm ít bột gạo, đồng thời khi gói phải thoa dầu trên lá chuối.)
Ngày đưa dâu cũng đơn sơ không kém, đoàn đưa dâu trên dưới mười người, cùng leo lên Honda chạy qua nhà trai. Khởi đầu một chặng đường mới của Vân thật gọn gàng, không nước mắt ỉ ôi.
(Sơn : Vân có tính cách giống mẹ, âm thầm, nhịn nhục và chấp nhận tất cả, chịu đựng tất cả với lòng bình an. Trong nhà, các anh chị cũng như các em, ai cũng thương Vân vì tính tình hiền lãnh nhũn nhặn và có lẽ cũng vì những lao nhọc vất vả hy sinh cho các em. Điều đặc biệt là ra khỏi gia đình, Vân được rất nhiều yêu thương mến mộ, vì cách ăn ở khéo léo, trọn nghĩa trọn tình).
Chuyện kết hợp hai gia đình thật đơn sơ qua một hai lần xã giao, rồi qua trung gian anh chị Phúc để bàn bạc và đám cưới tới ngay sau đó.
Lúc đó, xứ Xã-đoài vắng linh mục, đám cưới phải làm trong nhà thờ Vinh An, vào một buổi sáng sớm, cô dâu trong áo dài, không trang điểm, không hoa hòe. Đơn sơ và thầm lặng như bản chất của Vân.
Tiệc cưới không có khách mời nên không cần khiêng bàn, dựng rạp, chỉ quây mấy cái bàn thành hình chữ L trong nhà là đủ chỗ cho mọi người. Nấu nướng cũng không rườm rà nhiêu khê : mẹ làm món chả rán (chả giò), dượng Anh thủ vai bếp chính để ướp thịt gà làm mấy món gì đó, có thêm dì Hạ, cậu mợ Phan và hai cô bạn của Vân.
(Phong : Ngoài ra còn có món bánh ít. Nhà mình tự xay bột bằng cối đá và mẹ gói. Bánh nấu xong khi lột ra thì bột dính chặt vào lá, cái bánh bị nát tương. Cũng tại vì không có kinh nghiệm : mình làm bánh hoàn toàn bằng bột nếp, đáng lẽ phải pha thêm ít bột gạo, đồng thời khi gói phải thoa dầu trên lá chuối.)
Ngày đưa dâu cũng đơn sơ không kém, đoàn đưa dâu trên dưới mười người, cùng leo lên Honda chạy qua nhà trai. Khởi đầu một chặng đường mới của Vân thật gọn gàng, không nước mắt ỉ ôi.
(Sơn : Vân có tính cách giống mẹ, âm thầm, nhịn nhục và chấp nhận tất cả, chịu đựng tất cả với lòng bình an. Trong nhà, các anh chị cũng như các em, ai cũng thương Vân vì tính tình hiền lãnh nhũn nhặn và có lẽ cũng vì những lao nhọc vất vả hy sinh cho các em. Điều đặc biệt là ra khỏi gia đình, Vân được rất nhiều yêu thương mến mộ, vì cách ăn ở khéo léo, trọn nghĩa trọn tình).
Dọn nhà đi Đức-Minh
Ngày 25 tháng 12 năm 1975, trời vừa đủ sáng là cả nhà đã bắt tay vào việc ngay cho kịp thời gian : dỡ nhà để chuyển về Đức-minh.
Năm 1972, lúc gia đình chuyển tới miền cao nguyên đất đỏ để lập nghiệp thì cậu Phan là người đã dựng nhanh cho gia đình căn nhà gỗ để ở tạm. Với tính tháo vát và tay nghề thợ mộc của cậu, căn nhà được góp dựng toàn bằng những cây gỗ nhỏ, cột trụ nào cần chắc thì cậu ghép 2-3 cây cho chắc. Nếu tháo rời tất cả thì không ai nghĩ đó là bộ xương của một căn nhà cho cả chục người sinh sống, vì chẳng thấy cột cái, cột con đâu cả.
Năm 1975, sau khi cha đi học tập về, thấy hoàn cảnh bị cô lập ở một nơi không người quen biết, lại có tin phong phanh thu đất, phóng đường nên cha bèn đi một chuyến thăm dò Đức-minh, từ đó quyết định thêm một lần nữa di cư lập nghiệp. Cô Nhuận và anh Canh, mỗi người tặng cho gia đình mình nửa miếng đất dính nhau thành ra mảnh vườn bây giờ.
Có mặt ở nhà, ngoài cha mẹ, có tôi 18, Vân 16, Trinh 12, Nguyên 11, Thủy 8, Quang 6, Giang 3 và bé Vũ 4 tháng. Khỏi cần phải phân chia vì ai cũng biết mình phải làm gì, thế là từ sáng sớm mọi người đã bắt tay vào công tác : cha và tôi lo leo trèo tháo dỡ, Nguyên chạy lon ton ở dưới để được sai vặt lượm đinh, đưa kềm búa, những em khác chắc núp chơi trong nhà bếp. Đồ đạc trong nhà đã gom lại hết cả, chuyển ra để ở khoảnh sân xi-măng nho nhỏ trước nhà bếp.
Khởi đầu bằng việc tháo mái tôn, rồi đến những tấm ván tường. Sau khi căn nhà chỉ còn là bộ khung mới là lúc căng nhất : tuy đã có đánh dấu nhưng 2 cha con phải rán làm sao nhớ những mấu chốt để có thể ráp nối lại được căn nhà như cũ. Có một lúc, ngồi trên cao, thoáng thấy có bóng người tạt qua, sau đó thấy Nguyên chuyển lại một lá thư, không nhìn cũng biết là của cô bé Nga, cô bé mà có lần mẹ thắc mắc khi thấy có người cứ lấp ló, thấp thoáng trong vườn nhà mình, là tác giả của những chữ tắt để lại trên những tảng đá, những gốc cây trong vườn.
Hơn nửa ngày thì căn nhà đã được tháo dỡ xong, cha đã thuê một chiếc xe tải lớn để chở tất cả đồ đạc trực chỉ Đức-minh. Chuyện cả gia đình di chuyển về Đức-minh cách nào thì tôi không còn một chút ký ức gì cả, hình như hai cha con cùng theo xe tải về Đức-minh thì phải?
Xe về tới Đức-minh lúc trời đã về chiều, đồ đạc được đổ xuống ngay tại vườn, giữa những hàng cây cà-phê. Tối hôm đó, cha và tôi phải ngủ lại trong vườn để canh giữ đồ đạc, đêm cuối tháng 12 khá buốt, hai cha con dùng mấy tấm tôn gác giữa hai đầu giường để che sương mà ngủ, quấn mấy tấm mền mà vẫn rét run.
(Trinh : Em còn nhớ hôm đó là ngày 26 tháng 12, đêm trước ngày dời nhà anh Thạch và anh Mỹ bạn anh Thạch thức suốt đêm ở dưới vườn cà phê, em có cảm giác anh Thạch đang rất quyến luyến vùng đất này. Còn Giang thì không chịu đi, trong thời gian dọn nhà Giang cứ nói là em ở lại một mình, em sẽ ở với Chúa, khi nào trời thấp xuống thì em sẽ cạy trời để lên ở với Chúa. Nhưng rồi cuối cùng thì cả nhà cũng đã lên xe, em không nhớ giờ khởi hành nhưng biết là chiều thì tới nơi , xe dừng lại trước nhà thờ, một lát sau em thấy cha lúc đó mặc áo pyraket và đi chân không cùng với một người nào đó vội vã đi lên phía trên dốc, một lúc sau quay lại thì ra là trước nhà thờ có cái cổng chào MỪNG CHÚA GIÁNG SINH nên xe không đi qua được, cha phải đi lên nhà ông Giáo (lúc đó là chủ tịch hôi đồng giáo xứ) xin hạ cái cổng xuống. Lúc đó em mới hiểu vì sao cha phải vội vã như vậy đến nỗi không kịp mang dép vì nếu không được phép hạ cái cổng chào xuống thì sẽ phải dỡ đồ đạc xuống ngay tại đó lại phải thêm một khâu di dời đồ đạc nữa rất vất vả).
Qua hôm sau, những người quen biết tập trung lại, bắt đầu dọn dẹp chỗ để dựng lại căn nhà. Ai nhìn đống gỗ cũng phì cười và không nghĩ căn nhà sẽ đứng được lâu. Nhờ đã đánh dấu và ghi nhớ các cấu trúc nên công việc khá trôi chảy, khởi đầu cho một chuỗi ngày nơi vùng đất mới, căn nhà vẫn tồn tại cho tới lúc xây nhà mới.
Năm 1972, lúc gia đình chuyển tới miền cao nguyên đất đỏ để lập nghiệp thì cậu Phan là người đã dựng nhanh cho gia đình căn nhà gỗ để ở tạm. Với tính tháo vát và tay nghề thợ mộc của cậu, căn nhà được góp dựng toàn bằng những cây gỗ nhỏ, cột trụ nào cần chắc thì cậu ghép 2-3 cây cho chắc. Nếu tháo rời tất cả thì không ai nghĩ đó là bộ xương của một căn nhà cho cả chục người sinh sống, vì chẳng thấy cột cái, cột con đâu cả.
Năm 1975, sau khi cha đi học tập về, thấy hoàn cảnh bị cô lập ở một nơi không người quen biết, lại có tin phong phanh thu đất, phóng đường nên cha bèn đi một chuyến thăm dò Đức-minh, từ đó quyết định thêm một lần nữa di cư lập nghiệp. Cô Nhuận và anh Canh, mỗi người tặng cho gia đình mình nửa miếng đất dính nhau thành ra mảnh vườn bây giờ.
Có mặt ở nhà, ngoài cha mẹ, có tôi 18, Vân 16, Trinh 12, Nguyên 11, Thủy 8, Quang 6, Giang 3 và bé Vũ 4 tháng. Khỏi cần phải phân chia vì ai cũng biết mình phải làm gì, thế là từ sáng sớm mọi người đã bắt tay vào công tác : cha và tôi lo leo trèo tháo dỡ, Nguyên chạy lon ton ở dưới để được sai vặt lượm đinh, đưa kềm búa, những em khác chắc núp chơi trong nhà bếp. Đồ đạc trong nhà đã gom lại hết cả, chuyển ra để ở khoảnh sân xi-măng nho nhỏ trước nhà bếp.
Khởi đầu bằng việc tháo mái tôn, rồi đến những tấm ván tường. Sau khi căn nhà chỉ còn là bộ khung mới là lúc căng nhất : tuy đã có đánh dấu nhưng 2 cha con phải rán làm sao nhớ những mấu chốt để có thể ráp nối lại được căn nhà như cũ. Có một lúc, ngồi trên cao, thoáng thấy có bóng người tạt qua, sau đó thấy Nguyên chuyển lại một lá thư, không nhìn cũng biết là của cô bé Nga, cô bé mà có lần mẹ thắc mắc khi thấy có người cứ lấp ló, thấp thoáng trong vườn nhà mình, là tác giả của những chữ tắt để lại trên những tảng đá, những gốc cây trong vườn.
Hơn nửa ngày thì căn nhà đã được tháo dỡ xong, cha đã thuê một chiếc xe tải lớn để chở tất cả đồ đạc trực chỉ Đức-minh. Chuyện cả gia đình di chuyển về Đức-minh cách nào thì tôi không còn một chút ký ức gì cả, hình như hai cha con cùng theo xe tải về Đức-minh thì phải?
Xe về tới Đức-minh lúc trời đã về chiều, đồ đạc được đổ xuống ngay tại vườn, giữa những hàng cây cà-phê. Tối hôm đó, cha và tôi phải ngủ lại trong vườn để canh giữ đồ đạc, đêm cuối tháng 12 khá buốt, hai cha con dùng mấy tấm tôn gác giữa hai đầu giường để che sương mà ngủ, quấn mấy tấm mền mà vẫn rét run.
(Trinh : Em còn nhớ hôm đó là ngày 26 tháng 12, đêm trước ngày dời nhà anh Thạch và anh Mỹ bạn anh Thạch thức suốt đêm ở dưới vườn cà phê, em có cảm giác anh Thạch đang rất quyến luyến vùng đất này. Còn Giang thì không chịu đi, trong thời gian dọn nhà Giang cứ nói là em ở lại một mình, em sẽ ở với Chúa, khi nào trời thấp xuống thì em sẽ cạy trời để lên ở với Chúa. Nhưng rồi cuối cùng thì cả nhà cũng đã lên xe, em không nhớ giờ khởi hành nhưng biết là chiều thì tới nơi , xe dừng lại trước nhà thờ, một lát sau em thấy cha lúc đó mặc áo pyraket và đi chân không cùng với một người nào đó vội vã đi lên phía trên dốc, một lúc sau quay lại thì ra là trước nhà thờ có cái cổng chào MỪNG CHÚA GIÁNG SINH nên xe không đi qua được, cha phải đi lên nhà ông Giáo (lúc đó là chủ tịch hôi đồng giáo xứ) xin hạ cái cổng xuống. Lúc đó em mới hiểu vì sao cha phải vội vã như vậy đến nỗi không kịp mang dép vì nếu không được phép hạ cái cổng chào xuống thì sẽ phải dỡ đồ đạc xuống ngay tại đó lại phải thêm một khâu di dời đồ đạc nữa rất vất vả).
Qua hôm sau, những người quen biết tập trung lại, bắt đầu dọn dẹp chỗ để dựng lại căn nhà. Ai nhìn đống gỗ cũng phì cười và không nghĩ căn nhà sẽ đứng được lâu. Nhờ đã đánh dấu và ghi nhớ các cấu trúc nên công việc khá trôi chảy, khởi đầu cho một chuỗi ngày nơi vùng đất mới, căn nhà vẫn tồn tại cho tới lúc xây nhà mới.
(Vân: Cuộc dọn nhà không ghi nhiều dấu ấn, em chỉ biết lễ Giáng Sinh xong cả nhà mình được chuyển về Đức Minh trên một chiếc xe tải lớn. Điều nhớ nhất là cái lạnh thấu xương (đắp chiếu mới chịu nổi) khi về tạm trú chỗ nhà anh Thái (ông Đào). Từ đâu em trở thành một lao động thực thụ. Ông Hảo cho một số đất, thế là cha mẹ và em đi dọn đất để làm hoa màu. Vì là đất mới còn cây lớn ngổn ngang nên ngày nào cũng đốt (không có cưa như bây giờ) cứ bẩy cây sát nhau rồi kiếm mồi đốt và bữa ăn trưa là một nồi cơm nếp xéo khoai (10 bữa như 1) mà trời thì nắng (dọn rẫy vào mùa nắng) và ăn cơm nếp nữa thành ra khát nước dữ dội đến nỗi cha phải nói với em “muốn uống nước thì cứ im lặng mà đi” vì mỗi lần uống nước em lại hỏi cha có uống không? (chỉ có cha và em là hay uống nước còn mẹ thì ít uống hơn). Đến thời kỳ có bắp ăn thì đi rẫy đỡ đưa cơm và ăn bắp luộc, khi bắp bắt đầu già thì lại đưa chảo đi để rang, bữa ăn thật đơn giản nhưng đượm tình gia đình.
Khi công việc nhà làm xong thì lại đi làm cho Ô (dượng) Phúc , hái cà phê cho Ô. Canh, Ô Hòa, bà Nhuận. Khi đó chỉ biết đi làm chứ không biết có được tiền hay chỉ là để đền ơn. Cũng có thời gian đi làm cho cậu Phan, cậu Hải, ở suốt cả tuần ngoài đó, về nhà ru em cho cậu Hải, không biết em đã hát bài gì mà chỉ nhớ bà Kính vô nói là “tau tưởng máy hát”.)
Sữa nắng sữa gió
Năm 1975, sau khi mẹ sinh Vũ được một thời gian thì chị Tuyết trở lại nhà dòng và anh Sơn cũng trở lại GHHV. Ở nhà, tuy mới sinh em Vũ nhưng mẹ vẫn là lao động chính để cáng đáng mọi việc.
Trong vườn thì trỉa đậu lạc, thêm vào miếng rẫy lúa cách nhà không xa và mấy sào ruộng bên bờ suối. Tháng 6, tháng 7 là lúc phải cật lực làm cỏ, vun gốc. Mỗi sáng, mấy anh em (Thạch, Vân, Phong, Trinh) vác cuốc ra vườn làm cỏ, mỗi đứa lãnh một hàng đậu phụng và bắt đầu trò chơi đua xe, nào là Kim Long, Tiến Lực, Hiệp Phát, Thuận Thành... thi nhau chạy để rán qua mặt nhau.
Vì mải chơi nên hiệu quả không được cao lắm, bắt buộc mẹ phải để em Vũ ở nhà để ra tay cho được việc. Mỗi khi Vũ khóc thì có đứa phải đi kêu mẹ về cho em bú, mẹ vẫn thường than thở : « Tội nghiệp em, cứ phải bú sữa nắng, sữa gió! ». Không biết có phải vì vậy mà Vũ rất thường bị đau bụng lúc nhỏ, sau khi bú xong, thỉnh thoảng Vũ khóc xoắn người lên, không sao dỗ được. Phong chợt nhớ một loại thuốc trị đau bụng nên hai anh em đi lên tiệm thuốc ở cây số 3 (gần bến xe) và tìm mua được. Có vẻ Vũ chịu thuốc này nên mỗi lần Vũ lên cơn đau mà có thuốc vào thì bớt ngay. Phải đi mua mấy lần như thế và không nhớ tới lúc nào thì Vũ không cần thuốc nữa.
Trong vườn thì trỉa đậu lạc, thêm vào miếng rẫy lúa cách nhà không xa và mấy sào ruộng bên bờ suối. Tháng 6, tháng 7 là lúc phải cật lực làm cỏ, vun gốc. Mỗi sáng, mấy anh em (Thạch, Vân, Phong, Trinh) vác cuốc ra vườn làm cỏ, mỗi đứa lãnh một hàng đậu phụng và bắt đầu trò chơi đua xe, nào là Kim Long, Tiến Lực, Hiệp Phát, Thuận Thành... thi nhau chạy để rán qua mặt nhau.
Vì mải chơi nên hiệu quả không được cao lắm, bắt buộc mẹ phải để em Vũ ở nhà để ra tay cho được việc. Mỗi khi Vũ khóc thì có đứa phải đi kêu mẹ về cho em bú, mẹ vẫn thường than thở : « Tội nghiệp em, cứ phải bú sữa nắng, sữa gió! ». Không biết có phải vì vậy mà Vũ rất thường bị đau bụng lúc nhỏ, sau khi bú xong, thỉnh thoảng Vũ khóc xoắn người lên, không sao dỗ được. Phong chợt nhớ một loại thuốc trị đau bụng nên hai anh em đi lên tiệm thuốc ở cây số 3 (gần bến xe) và tìm mua được. Có vẻ Vũ chịu thuốc này nên mỗi lần Vũ lên cơn đau mà có thuốc vào thì bớt ngay. Phải đi mua mấy lần như thế và không nhớ tới lúc nào thì Vũ không cần thuốc nữa.
1975 phiêu lưu ký
Tháng 3 năm 1975, chiến sự bùng nổ ở Ban-mê-thuột nối tiếp bằng tin di tản chiến thuật chẳng bao lâu sau đó. Bạn bè nhìn tôi thông cảm vì biết tôi đã bị cắt đứt liên lạc với gia đình. Giữa tháng 3, chính phủ thu hồi quyền hoãn dịch và ban bố lệnh tổng động viên cho mọi thanh niên sinh năm 1957 trở về trước : nhiều người trong đám chủng sinh chúng tôi thuộc vào diện phải nhập ngũ, không còn tâm trí học hành, chỉ còn bàn tán xôn xao....
Buổi sáng ngày lễ thánh Giuse, 19 tháng 3, cha bề trên chủng viện tập trung học sinh và tuyên bố giải tán, không quên nhắc các chú trong hạn nhập ngũ tập trung lại chủng viện trước khi ra Đồng Đế trình diện. Mọi người thu xếp đồ đạc, ra về trong hoang mang vô tả. Tôi không có chỗ để về nên theo lời rủ rê của bạn (Phan), ghé về nhà nó ở Bình-Tuy.
Chơi ở Bình-Tuy mấy hôm rồi khăn gói về Phan-Thiết, đóng đô ở nhà chú Điều bên Vinh-Phú. Tại đây tôi được biết anh Sơn cũng đã về bên Vinh-Thủy, thế là anh em gặp nhau và cùng kéo về Vinh-Thủy. Lúc đó nhiều người đã rục rịch chạy vào Vũng-Tàu lánh nạn, còn vài gia đình trong xóm Thuận-Nghĩa trong đó có gia đình ông Chinh và gia đình chị Chức thương cảm cảnh lạc lõng của hai anh em nên đều rủ tá túc nơi gia đình họ. Mọi nhà lần lượt ra đi và hai anh em cuối cùng cũng đi theo gia đình chị Chức ra bến ghe Phú-Hài để chờ phương tiện xuôi Vũng Tàu vì đường bộ vào Bình-Tuy không còn thông thương được nữa.
Người đổ tới mỗi ngày một đông nên nằm mấy ngày vẫn chưa kiếm được chỗ. Rồi Nha-Trang bỏ ngỏ, Phan-Rang náo loạn theo dòng người từ miền Trung đổ vào, Phan-Thiết trở thành đáy con ngõ cụt quốc lộ 1, người càng đông thêm, đủ mọi tầng lớp, tạo nên cảnh hỗn loạn mất trật tự. Thời gian nằm tại Phú-Hài đã có lúc thấy một người bị bắn chết vì ỷ có vũ khí dành chỗ lên ghe, xác nằm đó không người chôn cất. Một đêm kia, hai anh em ngồi trò truyện với một người trong dòng người xuôi từ Nha-Trang đến, anh ta kể lại tình trạng hỗn loạn xảy ra tại Nha-Trang, Phan-Rang và ngao ngán về cái viễn ảnh không mấy sáng sủa. Sau buổi trò truyện thì anh ta cũng thảy luôn xuống sông vũ khí tự vệ còn dấu lại trong người, như một dấu muốn cắt đứt dĩ vãng đau thương, đó là một khấu súng ngắn. Anh Sơn sau đó cởi đồ, xuống sông mò lại khẩu súng, có lúc bận áo giáp, lận khẩu súng bên trong, trở lại xóm Thuận-Nghĩa đi chơi, hình như có bắn thử một phát trong mấy đồi cát, gần nhà thờ ngoài.
Thấy tình hình không dễ dàng và chắc là cũng không muốn chịu ơn gia đình chị Chức nhiều nên hai anh em quyết định không đi nữa, anh Sơn trở về ở nơi nhà cha già Khiêm, với thầy sáu Cung (Nguyễn Thiên Cung) còn tôi vào ở trong nhà xứ cha Hiên với Nguyễn Vĩnh Long là bạn thời lớp nhì, sau này đi tu muộn ở Lâm Bích. Thời gian này, cha Hiên tổ chức một ban cứu trợ cho các người chạy nạn, anh Sơn và thầy Cung được giao việc đi lập danh sách, có lúc qua tận bên Vinh-Phú, tôi không còn nhớ đã được giao việc gì nữa. Ở trong nhà xứ, sáng sáng lo theo Long đi giật chuông, dọn đồ lễ, mở và đóng cửa nhà thờ. Những người sống hai bên tỉnh lộ, còn ở lại, vẫn sinh hoạt trong ngày như bình thường nhưng tối đến thì cùng nhau gồng gánh vào khu nhà thờ trong để ngủ qua đêm nên buổi tối chung quanh nhà thờ có rất nhiều người trải chiếu, giăng mùng; Long vẫn chọc tôi vì đôi lúc thấy tôi trò chuyện với Sách (bạn của Vân), lại còn được cung cấp bánh trái lai rai.
Một tối tháng 4 năm 1975, đứng trên dốc nhà thờ, mọi người đều đổ mắt về hướng xa xa, phía nhiều ruộng muối, tai nghe tiếng súng nổ, mắt nhìn các vệt đạn đan chéo nhau trong đêm, ai cũng biết chuyện gì đã tới. Sáng hôm sau nhiều xe lính kéo theo mấy khẩu 105 ly tiến vào khu vực hồ Vinh-Thủy và dàn mấy khẩu quay ra biển. Vài anh lính tập trung vào nhà xứ, thấy có đàn guitar nên xin được nghe vài bản nhạc vàng, tôi hơi lưỡng lự nhưng cuối cùng cũng đành cất tiếng...
.......... Lạy Trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
Mẹ ngồi ru con nước mắt nhục nhằn xót xa phận người……
Một, hai hôm sau, anh Sơn mượn xe Honda rủ tôi chạy lên cha Báu (xứ Thuận Nghĩa) xem tình hình ra sao, trước khi đi không quên mượn giấy xe mang theo vì nghe nói nếu bị du kích xét mà không có giấy thì xe có thể bị tịch thu. Ngang khoảng Vinh Lưu, du kích có chận lại hỏi giấy xe thật, nhưng đã chuẩn bị nên không hề hấn gì. Buổi trưa trở về, gặp thầy Cung càu nhàu vì tình hình chưa yên mà chạy đi bậy bạ.
Vài hôm sau, có tin đồn chính phủ cách mạng lâm thời sắp thu lại thẻ căn cước, hai anh em hội ý và nghĩ nên kiếm đường đi Vũng Tàu. Lúc anh Sơn đi lập danh sách cứu trợ, có quen biết một chị, nhà ở đối diện với bến cá, khu Thương Chánh; hai anh em chạy qua hỏi thăm và ngỏ ý định tìm đường vào Sài-gòn, chị ta nói hôm qua mới có ghe đi, bây giờ thì hơi khó nhưng khi nào có thì sẽ tin cho biết. Hình như không cần chờ đợi lâu vì 1,2 hôm sau, mới ngủ trưa dậy là thấy chị ta tới kiếm tôi trong nhà xứ và chở tôi ra tìm anh Sơn nơi nhà cha già Khiêm để thông báo là chiều hôm sau có chuyến đi, dặn dò là không nên mang theo đồ đạc nhiều. Chiều hôm sau, thầy Cung chở hai anh em qua điểm hẹn là nhà của chị ấy, tim bắt đầu đập nhịp lo âu. Trong nhà đã chuẩn bị cơm canh mời hai anh em nhưng không ai còn lòng dạ để ăn nên chỉ và qua loa vài miếng. Giờ đã đến, anh em vừa thò thụt đi từ nhà xuống xuồng để ra ghe vừa phập phồng lo sợ, vừa mới lên xuồng bơi ra thì thấy cách khoảng 50m có chiếc ghe nổ máy chạy, chị ta phải chỉ chỏ hô hoán cho ghe ngừng lại, vội vã chèo tấp xuồng vào cho anh em leo lên ghe. Sự việc diễn tiến thật nhanh chóng, trong vội vàng và trạng thái lo âu nên không còn nhớ có ai trong hai anh em kịp nói một lời cám ơn với người ân nhân, ngoài cái vẫy tay từ biệt. Cùng lúc ấy, mấy chiếc xuồng du kích ập tới lên ghe xét giấy tờ, chất vấn mọi người, có lẽ mọi người cùng có chung câu trả lời là đi về với thân nhân ở Sài-Gòn nên mấy anh du kích rời xuồng và còn chúc thượng lộ bằng an nữa. Thật là hú hồn!
Khoảng trưa hôm sau thì ghe cập bến Vũng Tàu, hai anh em ra bắt xe đò đi Sài-Gòn, đường VT-SG rất tốt, xe đò nối đuôi nhau chạy nhanh để giành khách. Có một lúc nhìn xe đò chạy phía trước, một anh lơ xe chỉ đứng bằng hai chân trên mui, tay lo cuộn dẹp mấy sợi dây chằng hành lý, ai cũng chỉ chỏ và đôi lúc hú lên khiếp đảm khi xe lắc lư như muốn hất anh chàng văng khỏi xe. Xuống xe ở Thủ-đức, hai anh em muốn đi tới chủng viện Phanxicô để tìm Phong, không còn nhớ đi tới đó bằng cách nào nhưng gặp Phong đang lang thang ở đó, dường như đang chơi chọc mấy con cóc trong vườn. Gom góp ít đồ đạc cá nhân, Phong theo anh Sơn và tôi vào SG. Trên đường ra đón xe, ba anh em có ghé vào quán nước, hình như anh Sơn gọi bia 33 , tôi và Phong thí nghiệm uống côca với muối vì có nghe người ta bày uống như thế sẽ không bị ợ, kết quả là cái bụng tôi cứ bị khó chịu suốt buổi tối vì anh ách hơi. Nhà o Lân là điểm đáp của ba anh em tại SG, ngoài gia đình anh Đăng 4 người sống tại đó, đã có thêm mấy người con chú Bích , nay lại thêm ba anh em chúng tôi nữa. Đối với tôi, nếu kể từ lúc đủ lớn để nhận thức được các sự việc, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi tới SG; đêm Sài-Gòn nóng bức trong căn nhà chật chội, tôi phải dỗ giấc ngủ bằng cách chui đầu xuống gầm bàn cho có cảm giác tránh được hơi nóng, từ trong nhà muốn ra ngoài đường cũng phải cẩn thận để khỏi dẫm trúng đồ đạc, ngay ngoài đầu hẻm có nhà vệ sinh công cộng, là nơi cho chúng tôi giải quyết nhu cầu thay vì dùng nhà vệ sinh bé tí trong nhà.
Thuở ấy, tôi không biết gì về SG nên dù có đi tới nhiều nơi cũng không biết chỗ đó là gì, chỉ nhớ mấy anh em có đi bộ từ nhà o Lân tới nhà sách Khai Trí, tới bùng binh công viên « Con Rùa » và đi tới một cơ sở của dòng Tên trên đường Yên-đổ, rất gần nhà o Lân, tại đây anh Sơn gặp lại người bạn học, từ Đà-lạt xuống tá túc lánh nạn và cũng tại đây anh Sơn được người chỉ vẽ đường đi nước bước để tìm tới nhà dòng Chúa Quan Phòng (Cần-Thơ).
Trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, gia đình ly tán chắc trong lòng ai cũng nghĩ 4 chị em sống xa gia đình là những thành viên gia đình lúc đó còn sống sót, cùng gom lại một lần cho biết tương lai phải ra sao, vả lại ai cũng một lần muốn biết thành phố Cần-thơ thế nào. Bạn anh Sơn, anh Liên, tứ cố vô thân nơi đất Sài thành, cũng muốn tháp tùng ba anh em cho qua ngày tháng, thế là 4 người trực chỉ Cần-Thơ.
Sau khi qua phà Hậu-giang, tới bến xe Cần-Thơ đã bị cảnh sát chiếu cố ngay : anh Sơn và anh Liên có giấy hoãn dịch tu sĩ, Phong còn nhỏ, chỉ có tôi bị hạch hỏi vì thuộc diện nhập ngũ, cũng may là tôi nắm chắc quy định ngày nhập ngũ vào tháng 6 cho những người sinh cuối năm 1957 nên tôi vẫn còn hạn tự do đi lại được hơn một tháng nữa. Thủ tục xong xuôi, chúng tôi bắt xe lôi để tới nhà dòng chị Tuyết; Cần-Thơ có dạng xe lôi đặc trưng để chở khách, chỗ khách ngồi tương tự xe xích lô nhưng lớn hơn một chút, phía trước có cái càng để móc dính lên yên một chiếc xe máy, tài xế cứ thế kéo đi, thời đó thường là Honda hay Suzuki 50 phân khối.
Sự xuất hiện của ba anh em có lẽ là một sự bất ngờ cho chị Tuyết và cả nhà dòng, bốn vị khách được tiếp đãi rất nồng hậu và được sắp đặt cho ở nơi nhà khách, cơm nước đưa tận nơi, chị Tuyết được đặc trách vào việc tiếp đãi, thăm hỏi. Nhờ chuyến đi này mới thấy được cái không khí thân tình ràng bó khắng khít như chị em một nhà của các nữ tu : mọi người trong dòng đều rành rẽ ngọn ngành về gia đình chị Tuyết. Có lẽ sự hiện diện của bốn người khác phái đã ít nhiều khuấy động khung cảnh và sinh hoạt bình thường của các chị.
Một vài hôm sau khi ghé dòng CQP, anh Sơn và anh Liên lên đường đi Phú Quốc thăm bạn. Phong và tôi, hoàn cảnh những đứa mồ côi, được mời ở tạm lại nhà dòng trong lúc chưa có tin tức gia đình; hai đứa không còn ở nhà khách nữa nhưng được dọn qua khu ký túc xá của trường trung học, ở đó cũng còn dăm ba đứa học sinh lớn nhỏ, không biết vì lý do gì, vẫn còn ở lại đó, ngày ngày chỉ thấy tụi nó cười giỡn và vạch lưng ra cạo gió. Trong thời gian ở lại này, hai anh em đã được chị Tuyết dẫn đi vòng vòng trong vườn, tham quan nhà bếp và những nơi làm việc, vườn của nhà dòng có rất nhiều cây mận xốp, trái rụng đầy.
Tình hình mỗi ngày một căng thẳng cho tới một sáng kia, lời tuyên bố chuyển giao quyền lực được lặp đi lặp lại nhiều lần trên đài phát thanh SG.
Chờ một vài ngày cho tình hình lắng dịu, hai anh em quyết định rời nhà dòng; để làm gì thì chưa biết nhưng hai anh em đồng ý là phải về tận nhà xem xét tình hình rồi mới tính tới đi đâu sau đó. Trước khi rời nhà dòng, tôi đã rất nhạc nhiên khi mẹ bề trên ưu ái tặng một số tiền khá lớn, dành làm lộ phí và để chi tiêu trong những ngày lưu lạc, 20 hay 40 ngàn gì đó. Không xuôi chảy nhưng anh em cũng về tới được nhà o Lân ở SG, thành phố đã nhộn nhịp trở lại, vỉa hè bày bán la liệt đủ thứ đồ dân chúng thu hoạch được trong những cuộc tảo thanh các cơ sở và nhà cửa bỏ trống. Hải (con chú Bích) kể về món bánh mì trét bơ, rắc thêm chút đường cát một cách thèm thuồng nên sẵn có tiền trong túi, tôi rủ cả bọn ra phố mua liền một cục bơ về nhà ăn cho đã thèm.
Mọi người từ xa chạy nạn đến SG nay lục đục thu xếp để trở về, xe cộ đều đầy nhóc người. Phong và tôi đi ra Thủ-Đức, thành phố vẫn còn ngổn ngang tàn tích , sau khi thu dọn đồ đạc, chúng tôi cũng hòa vào đám người đứng đón xe dọc bên đường, hy vọng nhảy lên được một chuyến xe để ra tới Nha-trang. Sau những chờ đợi và chờ đợi, chúng tôi chỉ hy vọng có xe để đi được đoạn nào hay đoạn đó. May mắn quá, có một chiếc xe trờ tới : “Đi Phan-thiết không?”, không lưỡng lự, chúng tôi nhảy liền lên xe, kiểu xe thùng nhỏ bít bùng, có hai dãy ghế hai bên như xe lam, chính giữa kê thêm vài băng ghế gỗ cho bà con có chỗ ngồi. Đoạn đường quốc lộ từ SG ra tới Bình-Tuy thật vất vả cho xe cũng như cho hành khách, nhiều lúc xe phải đánh vòng tránh những khúc đường hư hay phải lội sông vì cầu đã sập; mỗi lúc như thế mọi người đều phải xuống để xe bớt nặng, chạy bộ theo xe để phụ đẩy lúc cần thiết, mùa mưa chưa tới nên bụi ơi là bụi. Rốt cuộc thì xe đã vượt qua được mọi dốc đá và những lòng sông cạn để tiếp tục chặng đường. Không còn nhớ rõ có phải chuyến xe này, khi gần tới Phan-thiết, tài xế phải sử dụng hộp số để hãm xe vì hệ thống thắng bị trục trặc.
Xe tới PT thì trời đã tối, hai anh em tự hỏi không biết mình sẽ đi tìm ai, không biết những người nơi xóm Thuận-nghĩa đã trở về chưa và không biết phải làm gì nếu không tìm thấy ai quen. Xe ngang qua cổng chữ Y, là nơi bao nhiêu xe dừng lại cho hành khách ăn uống, cũng là nơi để xe lấy thêm dầu, nước trước khi tiếp tục cuộc hành trình, hai anh em quyết định xuống xe tìm chỗ ăn uống rồi mới tính tiếp. Vào quán có đèn sáng, hai anh em nhìn nhau mà không khỏi ngạc nhiên bật cười : mặt mũi đứa nào cũng lem luốc bụi bặm và đen như vừa ở lò than chui ra. Sau khi rửa ráy, anh em gọi cơm phần nhưng nhà hàng chỉ có cơm dĩa, đành kêu mỗi người một dĩa cơm và chai bia con cọp để mừng qua khỏi chặng đường gian khổ.
Mới bước ra khỏi quán ăn, đang phân vân chưa quyết định đi đâu thì một chiếc xe đò tấp tới kiếm khách đi Nha-trang, anh em lại leo lên; trong xe đã chật ních người, lơ xe bảo leo lên mui, thế là anh em lại leo lên mui kiếm chỗ đặt mình giữa các bao hành lý, phía đầu xe đã có nhiều người nên hai anh em phải tụt lại phía sau, có mấy chiếc xe đạp được cột trên mui nên anh em bảo nhau nằm móc tay vào bánh xe đạp cho khỏi bị rơi xuống. Có một lúc, ngang qua khoảng Sông Mao-Chợ Lầu, xe bỏ quốc lộ chạy vào con đường nhỏ, hai anh em rán nép đầu xuống sát để khỏi bị mấy tàn cây trên đường đập trúng, thế mà có lúc cũng bị vài cú đau điếng. Khoảng 5 giờ sáng xe tới Phan-Rang, tài xế dừng lại chuyện vãn với ai đó một lát rồi đi tiếp, tới Nha-trang vào buổi sáng sớm.
Hai anh em bắt xe qua tiểu chủng viện bên Đồng Đế, nói là để thu góp đồ đạc nhưng dường như cũng chẳng lấy gì. Trong thâm tâm, tôi nghĩ nhà cửa chắc đã tan nát hết, người chắc cũng chẳng ai còn, có về nhà chăng là để nhìn lại căn nhà xưa, để tự mình xác thực những mất mát, đổ vỡ; và chắc rồi lại sẽ cuốn gói ra đi nên chẳng muốn mang theo gì cả. Hai anh em thảnh thơi thay đồ đi tắm biển, biển Nha-trang vào đầu tháng 5 còn rất lặng, nhất là vào buổi sáng sớm. Tắm biển, ngắm trời chán chê rồi hai anh em mới thủng thỉnh trở lại bến xe, không quên ghé quán gọi cơm phần cho hai người trước khi tới quầy vé. Sinh hoạt tại Nha-trang lúc đó có vẻ bình thường hơn, không hỗn độn tấp nập như ở Sài-Gòn, hai anh em mua được vé trên một chuyến xe lô, loại xe lẽ ra chỉ chở 4 người nhưng đã cải tiến để nhét được tới 8-9 người : 2 người cùng hàng với tài xế, 4 người trên dãy ghế phía sau, 3 người nữa phải vào bằng cửa sau, ngồi trên một băng ghế tí xíu đặt thêm trong cốp xe.
Chặng đường Nha Trang – Banmê rất bình thường, như không hề có chiến tranh. Bốn tiếng đồng hồ sau thì hai anh em đã có mặt trên con đường đất đỏ dẫn từ đường lộ vào nhà. Khung cảnh không có gì thay đổi, từ đường lộ, ở cây số 5, dốc đổ nhẹ đến một cây cầu nhỏ, lại lên một dốc và hơi quanh về tay phải, khu gia binh vẫn còn y, thêm vài chục thước nữa thì căn nhà nho nhỏ của tôi đã hiện ra, lành lặn, bình yên. Hai anh em bước vào nhà, chỉ thiếu bóng cha, tất cả đều bình yên, vô sự.
Buổi sáng ngày lễ thánh Giuse, 19 tháng 3, cha bề trên chủng viện tập trung học sinh và tuyên bố giải tán, không quên nhắc các chú trong hạn nhập ngũ tập trung lại chủng viện trước khi ra Đồng Đế trình diện. Mọi người thu xếp đồ đạc, ra về trong hoang mang vô tả. Tôi không có chỗ để về nên theo lời rủ rê của bạn (Phan), ghé về nhà nó ở Bình-Tuy.
Chơi ở Bình-Tuy mấy hôm rồi khăn gói về Phan-Thiết, đóng đô ở nhà chú Điều bên Vinh-Phú. Tại đây tôi được biết anh Sơn cũng đã về bên Vinh-Thủy, thế là anh em gặp nhau và cùng kéo về Vinh-Thủy. Lúc đó nhiều người đã rục rịch chạy vào Vũng-Tàu lánh nạn, còn vài gia đình trong xóm Thuận-Nghĩa trong đó có gia đình ông Chinh và gia đình chị Chức thương cảm cảnh lạc lõng của hai anh em nên đều rủ tá túc nơi gia đình họ. Mọi nhà lần lượt ra đi và hai anh em cuối cùng cũng đi theo gia đình chị Chức ra bến ghe Phú-Hài để chờ phương tiện xuôi Vũng Tàu vì đường bộ vào Bình-Tuy không còn thông thương được nữa.
Người đổ tới mỗi ngày một đông nên nằm mấy ngày vẫn chưa kiếm được chỗ. Rồi Nha-Trang bỏ ngỏ, Phan-Rang náo loạn theo dòng người từ miền Trung đổ vào, Phan-Thiết trở thành đáy con ngõ cụt quốc lộ 1, người càng đông thêm, đủ mọi tầng lớp, tạo nên cảnh hỗn loạn mất trật tự. Thời gian nằm tại Phú-Hài đã có lúc thấy một người bị bắn chết vì ỷ có vũ khí dành chỗ lên ghe, xác nằm đó không người chôn cất. Một đêm kia, hai anh em ngồi trò truyện với một người trong dòng người xuôi từ Nha-Trang đến, anh ta kể lại tình trạng hỗn loạn xảy ra tại Nha-Trang, Phan-Rang và ngao ngán về cái viễn ảnh không mấy sáng sủa. Sau buổi trò truyện thì anh ta cũng thảy luôn xuống sông vũ khí tự vệ còn dấu lại trong người, như một dấu muốn cắt đứt dĩ vãng đau thương, đó là một khấu súng ngắn. Anh Sơn sau đó cởi đồ, xuống sông mò lại khẩu súng, có lúc bận áo giáp, lận khẩu súng bên trong, trở lại xóm Thuận-Nghĩa đi chơi, hình như có bắn thử một phát trong mấy đồi cát, gần nhà thờ ngoài.
Thấy tình hình không dễ dàng và chắc là cũng không muốn chịu ơn gia đình chị Chức nhiều nên hai anh em quyết định không đi nữa, anh Sơn trở về ở nơi nhà cha già Khiêm, với thầy sáu Cung (Nguyễn Thiên Cung) còn tôi vào ở trong nhà xứ cha Hiên với Nguyễn Vĩnh Long là bạn thời lớp nhì, sau này đi tu muộn ở Lâm Bích. Thời gian này, cha Hiên tổ chức một ban cứu trợ cho các người chạy nạn, anh Sơn và thầy Cung được giao việc đi lập danh sách, có lúc qua tận bên Vinh-Phú, tôi không còn nhớ đã được giao việc gì nữa. Ở trong nhà xứ, sáng sáng lo theo Long đi giật chuông, dọn đồ lễ, mở và đóng cửa nhà thờ. Những người sống hai bên tỉnh lộ, còn ở lại, vẫn sinh hoạt trong ngày như bình thường nhưng tối đến thì cùng nhau gồng gánh vào khu nhà thờ trong để ngủ qua đêm nên buổi tối chung quanh nhà thờ có rất nhiều người trải chiếu, giăng mùng; Long vẫn chọc tôi vì đôi lúc thấy tôi trò chuyện với Sách (bạn của Vân), lại còn được cung cấp bánh trái lai rai.
Một tối tháng 4 năm 1975, đứng trên dốc nhà thờ, mọi người đều đổ mắt về hướng xa xa, phía nhiều ruộng muối, tai nghe tiếng súng nổ, mắt nhìn các vệt đạn đan chéo nhau trong đêm, ai cũng biết chuyện gì đã tới. Sáng hôm sau nhiều xe lính kéo theo mấy khẩu 105 ly tiến vào khu vực hồ Vinh-Thủy và dàn mấy khẩu quay ra biển. Vài anh lính tập trung vào nhà xứ, thấy có đàn guitar nên xin được nghe vài bản nhạc vàng, tôi hơi lưỡng lự nhưng cuối cùng cũng đành cất tiếng...
.......... Lạy Trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
Mẹ ngồi ru con nước mắt nhục nhằn xót xa phận người……
Một, hai hôm sau, anh Sơn mượn xe Honda rủ tôi chạy lên cha Báu (xứ Thuận Nghĩa) xem tình hình ra sao, trước khi đi không quên mượn giấy xe mang theo vì nghe nói nếu bị du kích xét mà không có giấy thì xe có thể bị tịch thu. Ngang khoảng Vinh Lưu, du kích có chận lại hỏi giấy xe thật, nhưng đã chuẩn bị nên không hề hấn gì. Buổi trưa trở về, gặp thầy Cung càu nhàu vì tình hình chưa yên mà chạy đi bậy bạ.
Vài hôm sau, có tin đồn chính phủ cách mạng lâm thời sắp thu lại thẻ căn cước, hai anh em hội ý và nghĩ nên kiếm đường đi Vũng Tàu. Lúc anh Sơn đi lập danh sách cứu trợ, có quen biết một chị, nhà ở đối diện với bến cá, khu Thương Chánh; hai anh em chạy qua hỏi thăm và ngỏ ý định tìm đường vào Sài-gòn, chị ta nói hôm qua mới có ghe đi, bây giờ thì hơi khó nhưng khi nào có thì sẽ tin cho biết. Hình như không cần chờ đợi lâu vì 1,2 hôm sau, mới ngủ trưa dậy là thấy chị ta tới kiếm tôi trong nhà xứ và chở tôi ra tìm anh Sơn nơi nhà cha già Khiêm để thông báo là chiều hôm sau có chuyến đi, dặn dò là không nên mang theo đồ đạc nhiều. Chiều hôm sau, thầy Cung chở hai anh em qua điểm hẹn là nhà của chị ấy, tim bắt đầu đập nhịp lo âu. Trong nhà đã chuẩn bị cơm canh mời hai anh em nhưng không ai còn lòng dạ để ăn nên chỉ và qua loa vài miếng. Giờ đã đến, anh em vừa thò thụt đi từ nhà xuống xuồng để ra ghe vừa phập phồng lo sợ, vừa mới lên xuồng bơi ra thì thấy cách khoảng 50m có chiếc ghe nổ máy chạy, chị ta phải chỉ chỏ hô hoán cho ghe ngừng lại, vội vã chèo tấp xuồng vào cho anh em leo lên ghe. Sự việc diễn tiến thật nhanh chóng, trong vội vàng và trạng thái lo âu nên không còn nhớ có ai trong hai anh em kịp nói một lời cám ơn với người ân nhân, ngoài cái vẫy tay từ biệt. Cùng lúc ấy, mấy chiếc xuồng du kích ập tới lên ghe xét giấy tờ, chất vấn mọi người, có lẽ mọi người cùng có chung câu trả lời là đi về với thân nhân ở Sài-Gòn nên mấy anh du kích rời xuồng và còn chúc thượng lộ bằng an nữa. Thật là hú hồn!
Khoảng trưa hôm sau thì ghe cập bến Vũng Tàu, hai anh em ra bắt xe đò đi Sài-Gòn, đường VT-SG rất tốt, xe đò nối đuôi nhau chạy nhanh để giành khách. Có một lúc nhìn xe đò chạy phía trước, một anh lơ xe chỉ đứng bằng hai chân trên mui, tay lo cuộn dẹp mấy sợi dây chằng hành lý, ai cũng chỉ chỏ và đôi lúc hú lên khiếp đảm khi xe lắc lư như muốn hất anh chàng văng khỏi xe. Xuống xe ở Thủ-đức, hai anh em muốn đi tới chủng viện Phanxicô để tìm Phong, không còn nhớ đi tới đó bằng cách nào nhưng gặp Phong đang lang thang ở đó, dường như đang chơi chọc mấy con cóc trong vườn. Gom góp ít đồ đạc cá nhân, Phong theo anh Sơn và tôi vào SG. Trên đường ra đón xe, ba anh em có ghé vào quán nước, hình như anh Sơn gọi bia 33 , tôi và Phong thí nghiệm uống côca với muối vì có nghe người ta bày uống như thế sẽ không bị ợ, kết quả là cái bụng tôi cứ bị khó chịu suốt buổi tối vì anh ách hơi. Nhà o Lân là điểm đáp của ba anh em tại SG, ngoài gia đình anh Đăng 4 người sống tại đó, đã có thêm mấy người con chú Bích , nay lại thêm ba anh em chúng tôi nữa. Đối với tôi, nếu kể từ lúc đủ lớn để nhận thức được các sự việc, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi tới SG; đêm Sài-Gòn nóng bức trong căn nhà chật chội, tôi phải dỗ giấc ngủ bằng cách chui đầu xuống gầm bàn cho có cảm giác tránh được hơi nóng, từ trong nhà muốn ra ngoài đường cũng phải cẩn thận để khỏi dẫm trúng đồ đạc, ngay ngoài đầu hẻm có nhà vệ sinh công cộng, là nơi cho chúng tôi giải quyết nhu cầu thay vì dùng nhà vệ sinh bé tí trong nhà.
Thuở ấy, tôi không biết gì về SG nên dù có đi tới nhiều nơi cũng không biết chỗ đó là gì, chỉ nhớ mấy anh em có đi bộ từ nhà o Lân tới nhà sách Khai Trí, tới bùng binh công viên « Con Rùa » và đi tới một cơ sở của dòng Tên trên đường Yên-đổ, rất gần nhà o Lân, tại đây anh Sơn gặp lại người bạn học, từ Đà-lạt xuống tá túc lánh nạn và cũng tại đây anh Sơn được người chỉ vẽ đường đi nước bước để tìm tới nhà dòng Chúa Quan Phòng (Cần-Thơ).
Trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, gia đình ly tán chắc trong lòng ai cũng nghĩ 4 chị em sống xa gia đình là những thành viên gia đình lúc đó còn sống sót, cùng gom lại một lần cho biết tương lai phải ra sao, vả lại ai cũng một lần muốn biết thành phố Cần-thơ thế nào. Bạn anh Sơn, anh Liên, tứ cố vô thân nơi đất Sài thành, cũng muốn tháp tùng ba anh em cho qua ngày tháng, thế là 4 người trực chỉ Cần-Thơ.
Sau khi qua phà Hậu-giang, tới bến xe Cần-Thơ đã bị cảnh sát chiếu cố ngay : anh Sơn và anh Liên có giấy hoãn dịch tu sĩ, Phong còn nhỏ, chỉ có tôi bị hạch hỏi vì thuộc diện nhập ngũ, cũng may là tôi nắm chắc quy định ngày nhập ngũ vào tháng 6 cho những người sinh cuối năm 1957 nên tôi vẫn còn hạn tự do đi lại được hơn một tháng nữa. Thủ tục xong xuôi, chúng tôi bắt xe lôi để tới nhà dòng chị Tuyết; Cần-Thơ có dạng xe lôi đặc trưng để chở khách, chỗ khách ngồi tương tự xe xích lô nhưng lớn hơn một chút, phía trước có cái càng để móc dính lên yên một chiếc xe máy, tài xế cứ thế kéo đi, thời đó thường là Honda hay Suzuki 50 phân khối.
Sự xuất hiện của ba anh em có lẽ là một sự bất ngờ cho chị Tuyết và cả nhà dòng, bốn vị khách được tiếp đãi rất nồng hậu và được sắp đặt cho ở nơi nhà khách, cơm nước đưa tận nơi, chị Tuyết được đặc trách vào việc tiếp đãi, thăm hỏi. Nhờ chuyến đi này mới thấy được cái không khí thân tình ràng bó khắng khít như chị em một nhà của các nữ tu : mọi người trong dòng đều rành rẽ ngọn ngành về gia đình chị Tuyết. Có lẽ sự hiện diện của bốn người khác phái đã ít nhiều khuấy động khung cảnh và sinh hoạt bình thường của các chị.
Một vài hôm sau khi ghé dòng CQP, anh Sơn và anh Liên lên đường đi Phú Quốc thăm bạn. Phong và tôi, hoàn cảnh những đứa mồ côi, được mời ở tạm lại nhà dòng trong lúc chưa có tin tức gia đình; hai đứa không còn ở nhà khách nữa nhưng được dọn qua khu ký túc xá của trường trung học, ở đó cũng còn dăm ba đứa học sinh lớn nhỏ, không biết vì lý do gì, vẫn còn ở lại đó, ngày ngày chỉ thấy tụi nó cười giỡn và vạch lưng ra cạo gió. Trong thời gian ở lại này, hai anh em đã được chị Tuyết dẫn đi vòng vòng trong vườn, tham quan nhà bếp và những nơi làm việc, vườn của nhà dòng có rất nhiều cây mận xốp, trái rụng đầy.
Tình hình mỗi ngày một căng thẳng cho tới một sáng kia, lời tuyên bố chuyển giao quyền lực được lặp đi lặp lại nhiều lần trên đài phát thanh SG.
Chờ một vài ngày cho tình hình lắng dịu, hai anh em quyết định rời nhà dòng; để làm gì thì chưa biết nhưng hai anh em đồng ý là phải về tận nhà xem xét tình hình rồi mới tính tới đi đâu sau đó. Trước khi rời nhà dòng, tôi đã rất nhạc nhiên khi mẹ bề trên ưu ái tặng một số tiền khá lớn, dành làm lộ phí và để chi tiêu trong những ngày lưu lạc, 20 hay 40 ngàn gì đó. Không xuôi chảy nhưng anh em cũng về tới được nhà o Lân ở SG, thành phố đã nhộn nhịp trở lại, vỉa hè bày bán la liệt đủ thứ đồ dân chúng thu hoạch được trong những cuộc tảo thanh các cơ sở và nhà cửa bỏ trống. Hải (con chú Bích) kể về món bánh mì trét bơ, rắc thêm chút đường cát một cách thèm thuồng nên sẵn có tiền trong túi, tôi rủ cả bọn ra phố mua liền một cục bơ về nhà ăn cho đã thèm.
Mọi người từ xa chạy nạn đến SG nay lục đục thu xếp để trở về, xe cộ đều đầy nhóc người. Phong và tôi đi ra Thủ-Đức, thành phố vẫn còn ngổn ngang tàn tích , sau khi thu dọn đồ đạc, chúng tôi cũng hòa vào đám người đứng đón xe dọc bên đường, hy vọng nhảy lên được một chuyến xe để ra tới Nha-trang. Sau những chờ đợi và chờ đợi, chúng tôi chỉ hy vọng có xe để đi được đoạn nào hay đoạn đó. May mắn quá, có một chiếc xe trờ tới : “Đi Phan-thiết không?”, không lưỡng lự, chúng tôi nhảy liền lên xe, kiểu xe thùng nhỏ bít bùng, có hai dãy ghế hai bên như xe lam, chính giữa kê thêm vài băng ghế gỗ cho bà con có chỗ ngồi. Đoạn đường quốc lộ từ SG ra tới Bình-Tuy thật vất vả cho xe cũng như cho hành khách, nhiều lúc xe phải đánh vòng tránh những khúc đường hư hay phải lội sông vì cầu đã sập; mỗi lúc như thế mọi người đều phải xuống để xe bớt nặng, chạy bộ theo xe để phụ đẩy lúc cần thiết, mùa mưa chưa tới nên bụi ơi là bụi. Rốt cuộc thì xe đã vượt qua được mọi dốc đá và những lòng sông cạn để tiếp tục chặng đường. Không còn nhớ rõ có phải chuyến xe này, khi gần tới Phan-thiết, tài xế phải sử dụng hộp số để hãm xe vì hệ thống thắng bị trục trặc.
Xe tới PT thì trời đã tối, hai anh em tự hỏi không biết mình sẽ đi tìm ai, không biết những người nơi xóm Thuận-nghĩa đã trở về chưa và không biết phải làm gì nếu không tìm thấy ai quen. Xe ngang qua cổng chữ Y, là nơi bao nhiêu xe dừng lại cho hành khách ăn uống, cũng là nơi để xe lấy thêm dầu, nước trước khi tiếp tục cuộc hành trình, hai anh em quyết định xuống xe tìm chỗ ăn uống rồi mới tính tiếp. Vào quán có đèn sáng, hai anh em nhìn nhau mà không khỏi ngạc nhiên bật cười : mặt mũi đứa nào cũng lem luốc bụi bặm và đen như vừa ở lò than chui ra. Sau khi rửa ráy, anh em gọi cơm phần nhưng nhà hàng chỉ có cơm dĩa, đành kêu mỗi người một dĩa cơm và chai bia con cọp để mừng qua khỏi chặng đường gian khổ.
Mới bước ra khỏi quán ăn, đang phân vân chưa quyết định đi đâu thì một chiếc xe đò tấp tới kiếm khách đi Nha-trang, anh em lại leo lên; trong xe đã chật ních người, lơ xe bảo leo lên mui, thế là anh em lại leo lên mui kiếm chỗ đặt mình giữa các bao hành lý, phía đầu xe đã có nhiều người nên hai anh em phải tụt lại phía sau, có mấy chiếc xe đạp được cột trên mui nên anh em bảo nhau nằm móc tay vào bánh xe đạp cho khỏi bị rơi xuống. Có một lúc, ngang qua khoảng Sông Mao-Chợ Lầu, xe bỏ quốc lộ chạy vào con đường nhỏ, hai anh em rán nép đầu xuống sát để khỏi bị mấy tàn cây trên đường đập trúng, thế mà có lúc cũng bị vài cú đau điếng. Khoảng 5 giờ sáng xe tới Phan-Rang, tài xế dừng lại chuyện vãn với ai đó một lát rồi đi tiếp, tới Nha-trang vào buổi sáng sớm.
Hai anh em bắt xe qua tiểu chủng viện bên Đồng Đế, nói là để thu góp đồ đạc nhưng dường như cũng chẳng lấy gì. Trong thâm tâm, tôi nghĩ nhà cửa chắc đã tan nát hết, người chắc cũng chẳng ai còn, có về nhà chăng là để nhìn lại căn nhà xưa, để tự mình xác thực những mất mát, đổ vỡ; và chắc rồi lại sẽ cuốn gói ra đi nên chẳng muốn mang theo gì cả. Hai anh em thảnh thơi thay đồ đi tắm biển, biển Nha-trang vào đầu tháng 5 còn rất lặng, nhất là vào buổi sáng sớm. Tắm biển, ngắm trời chán chê rồi hai anh em mới thủng thỉnh trở lại bến xe, không quên ghé quán gọi cơm phần cho hai người trước khi tới quầy vé. Sinh hoạt tại Nha-trang lúc đó có vẻ bình thường hơn, không hỗn độn tấp nập như ở Sài-Gòn, hai anh em mua được vé trên một chuyến xe lô, loại xe lẽ ra chỉ chở 4 người nhưng đã cải tiến để nhét được tới 8-9 người : 2 người cùng hàng với tài xế, 4 người trên dãy ghế phía sau, 3 người nữa phải vào bằng cửa sau, ngồi trên một băng ghế tí xíu đặt thêm trong cốp xe.
Chặng đường Nha Trang – Banmê rất bình thường, như không hề có chiến tranh. Bốn tiếng đồng hồ sau thì hai anh em đã có mặt trên con đường đất đỏ dẫn từ đường lộ vào nhà. Khung cảnh không có gì thay đổi, từ đường lộ, ở cây số 5, dốc đổ nhẹ đến một cây cầu nhỏ, lại lên một dốc và hơi quanh về tay phải, khu gia binh vẫn còn y, thêm vài chục thước nữa thì căn nhà nho nhỏ của tôi đã hiện ra, lành lặn, bình yên. Hai anh em bước vào nhà, chỉ thiếu bóng cha, tất cả đều bình yên, vô sự.
Bệnh thương hàn của Phong
Đi học ở Nha-trang, mỗi lần về nhà tôi đều kiếm mua cho mấy đứa em ở nhà một ít kẹo. Dạo đó kiếm được một loại kẹo mà mấy đứa em đều thích nên trước khi lên xe về nhà tôi đã mua mấy gói để làm quà cho em út. Đó là mùa hè năm 1974.
Đầu tháng năm là lúc vào mùa mưa, đồng nghĩa với công tác cật lực chuẩn bị cho vụ mùa trong năm. Tôi về tới nơi, thấy nhà cửa khá vắng vẻ, chỉ có Phong đang nằm ủ rũ trên gác. Phong về nhà trước tôi nhưng đang bị bệnh, nóng sốt nhưng chưa biết bệnh gì, được cho uống thuốc và nằm chèo queo ở nhà; có lẽ cha mẹ nghĩ chỉ là một cơn cảm cúm xoàng, uống thuốc, nghỉ ngơi rồi đâu lại vào đấy.
Ngày hôm sau, vào khoảng gần trưa, có cậu Phan ghé thăm, nhìn thấy Phong dật dờ nóng sốt, cậu bảo mẹ phải đưa đi nhà thương chứ không thể để vậy được và cậu kêu tôi cùng đưa Phong đi nhà thương trên chiếc xe Honda của cậu.
Tới nhà thương, làm giấy tờ và được người ta chỉ vào nằm trong một phòng có khoảng 20 cái giường, bệnh nhân khá đầy nên chỉ còn 1 hay 2 giường trống. Không còn nhớ có được y tá lấy nhiệt độ hay cho uống thuốc gì hay không nhưng từ trưa đến tối không thấy tăm hơi bác sĩ đâu cả. Từ nhỏ tôi đã biết Phong rất nhạy với nhiệt độ vì mỗi lần Phong bị sốt hơi cao (trên 39 độ) là thế nào cũng có màn mê sảng, tự nhiên ngồi dậy làm gì đó hay bật dậy đi một vòng mà hỏi han thì không hay biết gì cả. Phong lúc này khi tỉnh, khi mê, thỉnh thoảng mở mắt nói vài câu vô nghĩa như đang nói chuyện với bạn bè ở đâu đâu. Tôi chẳng biết làm gì hơn, lâu lâu tới gõ cửa phòng y tá trực để được trả lời là chờ tới giờ bác sĩ sẽ khám.
Khu bệnh viện lớn nhỏ ra sao thì tôi không rõ, chỉ biết được những gì trong tầm nhìn từ phòng bệnh trong mấy ngày ở đó. Phòng bệnh miễn phí (mà người ta còn gọi là nhà thương thí) dường như nằm ở một góc cuối cùng của bệnh viện, khu vực có dạng như chữ L, nét đứng là dãy nhà hộ sinh, nét nằm là căn phòng 20 giường đó dính với một căn phòng nhỏ của y tá, có một khoảng trống và tiếp đó là một dãy nhà khác, không dài lắm, rồi sau đó là hàng rào bệnh viện; nhà vệ sinh có 2 buồng nằm riêng ở ngoài, ngay đầu dãy nhà, nên mọi người phải ra khỏi phòng mới đi được tới nhà vệ sinh. Từ phòng bệnh nhìn ra, phía bên phải chỉ là khoảng đất trống rồi tới hàng rào phía xa xa, nhìn qua phía trái là dãy nhà hộ sinh.
Khoảng 7, 8 giờ tối (không còn nhớ rõ là ngày hôm đó hay qua ngày hôm sau) thì có cậu Trực vào thăm, khi biết được là chưa có bác sĩ ghé thăm từ lúc nhập viện, cậu hùng hổ tới đập cửa phòng y tá : không có ai trả lời, cậu đi ra ngoài loanh quanh, la lớn kiếm nhân viên trực. Cơn giận của cậu đã có hiệu quả ngay lập tức, khoảng 10 phút sau thì thấy y tá mang nước biển tới để chuyền cho Phong. Buổi tối hôm đó Phong vẫn sốt dật dờ, thỉnh thoảng nói nhảm và có một lúc đòi leo lên cái cọc mùng như người bị mộng du vậy.
Sáng hôm sau, Phong có vẻ khá hơn nhưng tại sao thấy cánh tay nối với chai nước biển sưng tấy lên, tôi đi kiếm y tá nhờ kiểm tra, họ bảo kim bị trệch ra ngoài ven vì cọ quậy nhiều quá nên phải đâm lại chỗ khác, y tá bắt đầu lần mò tìm chỗ đâm kim trên cách tay khác. Thuở nhỏ Phong có làn da trắng trẻo, mịn màng như con gái, thêm vào mấy ngày suy yếu nên mạch lặn đi đâu hết cả, y tá phải đâm mấy chỗ mới tìm ra được nhưng nửa tiếng sau thì chỗ mới lại có dấu hiệu sưng lên. Nhận thấy địa điểm thông thường nơi khuỷu tay không bảo đảm lắm, vì Phong không tỉnh táo để nằm yên, nên y tá phải thử qua chỗ khác, lại loanh hoay đâm tới đâm lui mấy chỗ quanh cổ tay và rốt cuộc thì thành công trên lưng bàn tay; cô y tá cũng không quên dán thêm mấy hàng băng keo và còn cho thêm một tấm ván nhỏ để quấn cả cánh tay vào đó cho cái kim được nằm yên vị trí. Ngày hôm đó có bác sĩ tới khám, chỉ thị cho y tá bơm thêm thuốc vào chai nước biển và dặn tôi phải canh chừng để cho nước biển xuống từ từ, đừng để xuống nhiều quá vì sẽ bị lạnh. Cơn bệnh của Phong bắt đầu thuyên giảm, riêng cánh tay bị sưng vì đọng nước biển thì cũng từ từ trở lại bình thường nhưng có nhiều chỗ tím tái và phải mất nhiều ngày sau mới mất hẳn dấu vết. (Sơn : Lúc Phong bị bệnh thì anh dù đã nghỉ hè nhưng chưa về nhà mà đang ở trong xứ Thuận Nghĩa, nơi cha Báu. Khi về đến nhà thì thấy Phong đã ở nhà mà người xanh xao và ốm tong teo, thật tội nghiệp. Hình như lúc này Phong còn yếu lắm, ăn uống chưa bình thường và đi đứng cũng chưa vững. Sau đó vài tuần thì anh đưa Phong lên Đà lạt với cha Đạt, 2 anh em đi bằng máy bay. Khí hậu mát mẻ và sự chăm sóc của các chị nấu bếp nơi cha Đạt đã là điều kiện rất thuận tiện để Phong dưỡng bệnh và bình phục mau chóng).
Tôi quên hẳn lúc đó ăn uống ra sao, Phong nằm viện bao lâu và về nhà và về bằng cách nào. Nhưng có một khung cảnh vẫn còn in rất rõ trong trí nhớ của tôi cho tới bây giờ : suốt ngày ngồi bên giường nhìn ra ngoài, sinh hoạt đập vào mắt tôi là các cô y tá đi đi lại lại trên hành lang của dãy nhà hộ sinh. Thoạt đầu, tôi cũng thấy hơi lạ vì các cô đi những bước như đang đi diễn hành, lúc nào tay cũng kẹp một cái gì ngang hông; nhìn nhiều lần vì cô nào cũng có một tư thế giống nhau, tôi mới thấy không phải họ kẹp cái gì nhưng chỉ là giữ cho cùi chỏ sát người trong khi cánh tay đưa ra phía trước để đỡ cái gì. Cuối cùng thì tôi biết các cô y tá đỡ những đứa trẻ sơ sanh trong tay để chuyển từ nơi này qua nơi khác, nhờ đó tôi học được một tư thế ẵm con rất an toàn, rất chuyên nghiệp mà mãi đến hơn 20 năm sau mới có dịp mang ra thử nghiệm.
(Phong : Mỗi khi xem số tử vi của em đều cho biết lúc nhỏ có qua cơn thập tử nhất sanh là em liên tưởng ngay đến cơn bạo bệnh này (ngoài ra còn một lần bị xe lam cán qua người nữa). Năm đó trong chủng viện có dịch sốt thương hàn, nhiều người đêm hôm lên cơn mê sảng chạy tứ tung trong chủng viện phải mang đi cấp cứu. Nhà trường đã cho chích ngừa toàn trường rồi mới cho nghỉ hè sớm để tránh lây lan. Không hiểu sao tuy đã chích ngừa nhưng về nhà em vẫn bị bệnh này. Có lẽ thời gian nằm ở bệnh viện khoảng 1 tuần lễ. Những ngày đầu mê man không biết gì nhưng khi đã tỉnh lại thì mới thấy cô quạnh. Nằm đếm từng giọt xi-rum nhỏ xuống mà thấy thời gian trôi qua thật chậm. Khi con người rơi vào hoàn cảnh đau yếu, mới thấy thèm được sự chăm sóc, lo lắng của người thân. Anh Thạch lúc đó chỉ hơn một thiếu niên, được cha mẹ phân công theo dõi, canh chừng chứ chưa thể làm một người nuôi bệnh được. Nhưng có anh là cả một niềm an ủi rất lớn với em. Những buổi chiều khi anh đạp xe về nhà ăn cơm, em nằm trên giường mà cứ ngóng ra cửa sổ xem anh đã lên chưa. Anh có đến thì cũng chẳng làm gì cả, nhưng sao em vẫn cứ trông cho có anh bên cạnh.
Một vài hình ảnh còn đọng lại trong trí nhớ của em khi nằm ở bệnh viện là : khi mới vào phòng thấy người ta đưa ra một người nằm trên xe đẩy, mặt che khăn, chung quanh tiếng người khóc than, em tỉnh lại và biết là có người vừa chết và mình được nằm vào cái giường của người mới chết nằm. Trong phòng bệnh lúc đó có một người bị bệnh gì mà la lối quậy phá, người ta phải trói tay chân lại, cả phòng náo loạn với bệnh nhân này. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chỉ còn xương và da. Em chỉ có thể nằm nghiêng, không thể nằm ngửa được vì mông đâu còn thịt, khi nằm ngửa bị cấn xương chậu. Vì bị bệnh thương hàn nên phải kiêng ăn trong một thời gian sau khi khỏi bệnh. Thấy ai ăn gì cũng thèm nhưng không được ăn. Có lẽ do ảnh hưởng thuốc nên buổi tối em không ngủ được. Cả nhà ngủ cả, một mình mình nằm thao thức trên giường. Có một đêm khi đang nằm thao thức như vậy, em nghe tiếng bước chân người đi ngay bên cạnh nhà mình, hướng đi từ dưới bếp, dọc bên hông nhà và ra phía trước đường cái. Tiếng bước đi của một người mang giày kèm theo là tiếng lách cách của chén bát va vào nhau, nghe như tiếng người đi mang theo một giỏ trong đựng chén bát.. Em nghe rất rõ, bởi chỉ cách có bức vách gỗ. Lúc đó em không sợ gì cả, chỉ cố lắng nghe. Tiếng động đó tiếp tục lập đi lập lại. Em rón rén đến bên giường cha, đánh thức cha dậy và nói hình như có ai vào nhà mình lấy đồ. Cha thức dậy, len lén xuống bếp để quan sát khá lâu rồi mở cả cửa ra xem. Lúc sau cha lên, nói không có gì cả và lên giường ngủ lại. Em vẫn không ngủ được và lại tiếp tục nghe tiếng động như ban nãy. Nếu trên đời này có ma, thì đây đích thị là ma vì lúc đó em rất tỉnh táo chứ không mộng mị hoặc bị ảnh hưởng tâm lý gì cả.) (Sơn: Khó mà xác định đó là ma hay chỉ là tưởng tượng. Điều chắc chắn là chỉ có Phong nghe, còn cha không nghe thấy gì cả. Nếu thực sự đó là hiện tượng ma quỷ thì sự xuất hiện của cõi âm phải có chủ đích, hoặc là để nhắn nhủ điều gì hoặc là đòi hỏi điều gì.) (Trinh : Theo em thì không phải là ma, mà do mình đang đau bệnh thì thường thấy những điều rất kỳ lạ. Em nhớ là khoảng năm 1977 em đang bị sốt rét nằm trên giường, trên vách nhà bằng ván có một lỗ hổng nhỏ bằng đầu ngón tay, đang giữa ban ngày tự nhiên em thấy như có ai cứ thổi phù phù vào cái lỗ đó tiếng thổi rất mạnh, cái mắc áo treo cái áo sơ mi của cha ở gần đó cũng bị lắc dữ dội nhưng lại không bị rơi xuống. Em kêu Nguyên hay Thủy vào xem sao thì nó không thấy gì cả và cứ cho là em đang mê sảng. Sau khi hết cơn sốt em dậy và quan sát rất kỹ nơi lỗ hổng thì chẳng có ai cao đủ để đứng thổi vào đó và cái áo vẫn được treo ngay ngắn trên mắc chẳng có dấu hiệu gì khác là cả. Lần thứ 2 là vào mùa hè năm 1997 khi chị Vân đi mổ ở bênh viện BMT, đêm ở lại bệnh viện. Lúc đó em đang bị bệnh cường giáp nên khó ngủ, đêm đó em không hề chợp mắt đến khoảng 4h30 sáng em thấy anh Thế đến đứng ở hành lang ngay bên cửa sổ, em thấy rõ anh Thế nhìn vào phòng và anh mặc cái áo thun sọc ngang màu xanh (áo thường hay mặc). Cửa sổ là cửa kính mà đèn thì sáng trưng. Em nghĩ là anh Thế không ngủ được nên dậy sớm lên thay cho em. Nhưng sao mãi không thấy anh Thế đi vào phòng, em cứ nghĩ là anh đi đâu đó. Đến gần 7h sáng anh Thế đến không mặc cái áo thun sọc ngang màu xanh nữa em mới hỏi hồi sáng sớm anh đến đây phải không, anh Thế trả lời là không, anh nói là anh mới thức dậy là tới bệnh viện liền đây và lúc đó em mới hiểu rằng do mệt nên em bị ảo giác. Anh Phong à , lúc đó anh mới đau dậy nên dẫu có đang tỉnh táo thì thần kinh mình cũng không khỏe mạnh bình thường, nên anh nghe thấy những điều đó cũng không có gì là khó hiểu cả và chắc chắn là không phải ma đâu anh ạ.)
Đầu tháng năm là lúc vào mùa mưa, đồng nghĩa với công tác cật lực chuẩn bị cho vụ mùa trong năm. Tôi về tới nơi, thấy nhà cửa khá vắng vẻ, chỉ có Phong đang nằm ủ rũ trên gác. Phong về nhà trước tôi nhưng đang bị bệnh, nóng sốt nhưng chưa biết bệnh gì, được cho uống thuốc và nằm chèo queo ở nhà; có lẽ cha mẹ nghĩ chỉ là một cơn cảm cúm xoàng, uống thuốc, nghỉ ngơi rồi đâu lại vào đấy.
Ngày hôm sau, vào khoảng gần trưa, có cậu Phan ghé thăm, nhìn thấy Phong dật dờ nóng sốt, cậu bảo mẹ phải đưa đi nhà thương chứ không thể để vậy được và cậu kêu tôi cùng đưa Phong đi nhà thương trên chiếc xe Honda của cậu.
Tới nhà thương, làm giấy tờ và được người ta chỉ vào nằm trong một phòng có khoảng 20 cái giường, bệnh nhân khá đầy nên chỉ còn 1 hay 2 giường trống. Không còn nhớ có được y tá lấy nhiệt độ hay cho uống thuốc gì hay không nhưng từ trưa đến tối không thấy tăm hơi bác sĩ đâu cả. Từ nhỏ tôi đã biết Phong rất nhạy với nhiệt độ vì mỗi lần Phong bị sốt hơi cao (trên 39 độ) là thế nào cũng có màn mê sảng, tự nhiên ngồi dậy làm gì đó hay bật dậy đi một vòng mà hỏi han thì không hay biết gì cả. Phong lúc này khi tỉnh, khi mê, thỉnh thoảng mở mắt nói vài câu vô nghĩa như đang nói chuyện với bạn bè ở đâu đâu. Tôi chẳng biết làm gì hơn, lâu lâu tới gõ cửa phòng y tá trực để được trả lời là chờ tới giờ bác sĩ sẽ khám.
Khu bệnh viện lớn nhỏ ra sao thì tôi không rõ, chỉ biết được những gì trong tầm nhìn từ phòng bệnh trong mấy ngày ở đó. Phòng bệnh miễn phí (mà người ta còn gọi là nhà thương thí) dường như nằm ở một góc cuối cùng của bệnh viện, khu vực có dạng như chữ L, nét đứng là dãy nhà hộ sinh, nét nằm là căn phòng 20 giường đó dính với một căn phòng nhỏ của y tá, có một khoảng trống và tiếp đó là một dãy nhà khác, không dài lắm, rồi sau đó là hàng rào bệnh viện; nhà vệ sinh có 2 buồng nằm riêng ở ngoài, ngay đầu dãy nhà, nên mọi người phải ra khỏi phòng mới đi được tới nhà vệ sinh. Từ phòng bệnh nhìn ra, phía bên phải chỉ là khoảng đất trống rồi tới hàng rào phía xa xa, nhìn qua phía trái là dãy nhà hộ sinh.
Khoảng 7, 8 giờ tối (không còn nhớ rõ là ngày hôm đó hay qua ngày hôm sau) thì có cậu Trực vào thăm, khi biết được là chưa có bác sĩ ghé thăm từ lúc nhập viện, cậu hùng hổ tới đập cửa phòng y tá : không có ai trả lời, cậu đi ra ngoài loanh quanh, la lớn kiếm nhân viên trực. Cơn giận của cậu đã có hiệu quả ngay lập tức, khoảng 10 phút sau thì thấy y tá mang nước biển tới để chuyền cho Phong. Buổi tối hôm đó Phong vẫn sốt dật dờ, thỉnh thoảng nói nhảm và có một lúc đòi leo lên cái cọc mùng như người bị mộng du vậy.
Sáng hôm sau, Phong có vẻ khá hơn nhưng tại sao thấy cánh tay nối với chai nước biển sưng tấy lên, tôi đi kiếm y tá nhờ kiểm tra, họ bảo kim bị trệch ra ngoài ven vì cọ quậy nhiều quá nên phải đâm lại chỗ khác, y tá bắt đầu lần mò tìm chỗ đâm kim trên cách tay khác. Thuở nhỏ Phong có làn da trắng trẻo, mịn màng như con gái, thêm vào mấy ngày suy yếu nên mạch lặn đi đâu hết cả, y tá phải đâm mấy chỗ mới tìm ra được nhưng nửa tiếng sau thì chỗ mới lại có dấu hiệu sưng lên. Nhận thấy địa điểm thông thường nơi khuỷu tay không bảo đảm lắm, vì Phong không tỉnh táo để nằm yên, nên y tá phải thử qua chỗ khác, lại loanh hoay đâm tới đâm lui mấy chỗ quanh cổ tay và rốt cuộc thì thành công trên lưng bàn tay; cô y tá cũng không quên dán thêm mấy hàng băng keo và còn cho thêm một tấm ván nhỏ để quấn cả cánh tay vào đó cho cái kim được nằm yên vị trí. Ngày hôm đó có bác sĩ tới khám, chỉ thị cho y tá bơm thêm thuốc vào chai nước biển và dặn tôi phải canh chừng để cho nước biển xuống từ từ, đừng để xuống nhiều quá vì sẽ bị lạnh. Cơn bệnh của Phong bắt đầu thuyên giảm, riêng cánh tay bị sưng vì đọng nước biển thì cũng từ từ trở lại bình thường nhưng có nhiều chỗ tím tái và phải mất nhiều ngày sau mới mất hẳn dấu vết. (Sơn : Lúc Phong bị bệnh thì anh dù đã nghỉ hè nhưng chưa về nhà mà đang ở trong xứ Thuận Nghĩa, nơi cha Báu. Khi về đến nhà thì thấy Phong đã ở nhà mà người xanh xao và ốm tong teo, thật tội nghiệp. Hình như lúc này Phong còn yếu lắm, ăn uống chưa bình thường và đi đứng cũng chưa vững. Sau đó vài tuần thì anh đưa Phong lên Đà lạt với cha Đạt, 2 anh em đi bằng máy bay. Khí hậu mát mẻ và sự chăm sóc của các chị nấu bếp nơi cha Đạt đã là điều kiện rất thuận tiện để Phong dưỡng bệnh và bình phục mau chóng).
Tôi quên hẳn lúc đó ăn uống ra sao, Phong nằm viện bao lâu và về nhà và về bằng cách nào. Nhưng có một khung cảnh vẫn còn in rất rõ trong trí nhớ của tôi cho tới bây giờ : suốt ngày ngồi bên giường nhìn ra ngoài, sinh hoạt đập vào mắt tôi là các cô y tá đi đi lại lại trên hành lang của dãy nhà hộ sinh. Thoạt đầu, tôi cũng thấy hơi lạ vì các cô đi những bước như đang đi diễn hành, lúc nào tay cũng kẹp một cái gì ngang hông; nhìn nhiều lần vì cô nào cũng có một tư thế giống nhau, tôi mới thấy không phải họ kẹp cái gì nhưng chỉ là giữ cho cùi chỏ sát người trong khi cánh tay đưa ra phía trước để đỡ cái gì. Cuối cùng thì tôi biết các cô y tá đỡ những đứa trẻ sơ sanh trong tay để chuyển từ nơi này qua nơi khác, nhờ đó tôi học được một tư thế ẵm con rất an toàn, rất chuyên nghiệp mà mãi đến hơn 20 năm sau mới có dịp mang ra thử nghiệm.
(Phong : Mỗi khi xem số tử vi của em đều cho biết lúc nhỏ có qua cơn thập tử nhất sanh là em liên tưởng ngay đến cơn bạo bệnh này (ngoài ra còn một lần bị xe lam cán qua người nữa). Năm đó trong chủng viện có dịch sốt thương hàn, nhiều người đêm hôm lên cơn mê sảng chạy tứ tung trong chủng viện phải mang đi cấp cứu. Nhà trường đã cho chích ngừa toàn trường rồi mới cho nghỉ hè sớm để tránh lây lan. Không hiểu sao tuy đã chích ngừa nhưng về nhà em vẫn bị bệnh này. Có lẽ thời gian nằm ở bệnh viện khoảng 1 tuần lễ. Những ngày đầu mê man không biết gì nhưng khi đã tỉnh lại thì mới thấy cô quạnh. Nằm đếm từng giọt xi-rum nhỏ xuống mà thấy thời gian trôi qua thật chậm. Khi con người rơi vào hoàn cảnh đau yếu, mới thấy thèm được sự chăm sóc, lo lắng của người thân. Anh Thạch lúc đó chỉ hơn một thiếu niên, được cha mẹ phân công theo dõi, canh chừng chứ chưa thể làm một người nuôi bệnh được. Nhưng có anh là cả một niềm an ủi rất lớn với em. Những buổi chiều khi anh đạp xe về nhà ăn cơm, em nằm trên giường mà cứ ngóng ra cửa sổ xem anh đã lên chưa. Anh có đến thì cũng chẳng làm gì cả, nhưng sao em vẫn cứ trông cho có anh bên cạnh.
Một vài hình ảnh còn đọng lại trong trí nhớ của em khi nằm ở bệnh viện là : khi mới vào phòng thấy người ta đưa ra một người nằm trên xe đẩy, mặt che khăn, chung quanh tiếng người khóc than, em tỉnh lại và biết là có người vừa chết và mình được nằm vào cái giường của người mới chết nằm. Trong phòng bệnh lúc đó có một người bị bệnh gì mà la lối quậy phá, người ta phải trói tay chân lại, cả phòng náo loạn với bệnh nhân này. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chỉ còn xương và da. Em chỉ có thể nằm nghiêng, không thể nằm ngửa được vì mông đâu còn thịt, khi nằm ngửa bị cấn xương chậu. Vì bị bệnh thương hàn nên phải kiêng ăn trong một thời gian sau khi khỏi bệnh. Thấy ai ăn gì cũng thèm nhưng không được ăn. Có lẽ do ảnh hưởng thuốc nên buổi tối em không ngủ được. Cả nhà ngủ cả, một mình mình nằm thao thức trên giường. Có một đêm khi đang nằm thao thức như vậy, em nghe tiếng bước chân người đi ngay bên cạnh nhà mình, hướng đi từ dưới bếp, dọc bên hông nhà và ra phía trước đường cái. Tiếng bước đi của một người mang giày kèm theo là tiếng lách cách của chén bát va vào nhau, nghe như tiếng người đi mang theo một giỏ trong đựng chén bát.. Em nghe rất rõ, bởi chỉ cách có bức vách gỗ. Lúc đó em không sợ gì cả, chỉ cố lắng nghe. Tiếng động đó tiếp tục lập đi lập lại. Em rón rén đến bên giường cha, đánh thức cha dậy và nói hình như có ai vào nhà mình lấy đồ. Cha thức dậy, len lén xuống bếp để quan sát khá lâu rồi mở cả cửa ra xem. Lúc sau cha lên, nói không có gì cả và lên giường ngủ lại. Em vẫn không ngủ được và lại tiếp tục nghe tiếng động như ban nãy. Nếu trên đời này có ma, thì đây đích thị là ma vì lúc đó em rất tỉnh táo chứ không mộng mị hoặc bị ảnh hưởng tâm lý gì cả.) (Sơn: Khó mà xác định đó là ma hay chỉ là tưởng tượng. Điều chắc chắn là chỉ có Phong nghe, còn cha không nghe thấy gì cả. Nếu thực sự đó là hiện tượng ma quỷ thì sự xuất hiện của cõi âm phải có chủ đích, hoặc là để nhắn nhủ điều gì hoặc là đòi hỏi điều gì.) (Trinh : Theo em thì không phải là ma, mà do mình đang đau bệnh thì thường thấy những điều rất kỳ lạ. Em nhớ là khoảng năm 1977 em đang bị sốt rét nằm trên giường, trên vách nhà bằng ván có một lỗ hổng nhỏ bằng đầu ngón tay, đang giữa ban ngày tự nhiên em thấy như có ai cứ thổi phù phù vào cái lỗ đó tiếng thổi rất mạnh, cái mắc áo treo cái áo sơ mi của cha ở gần đó cũng bị lắc dữ dội nhưng lại không bị rơi xuống. Em kêu Nguyên hay Thủy vào xem sao thì nó không thấy gì cả và cứ cho là em đang mê sảng. Sau khi hết cơn sốt em dậy và quan sát rất kỹ nơi lỗ hổng thì chẳng có ai cao đủ để đứng thổi vào đó và cái áo vẫn được treo ngay ngắn trên mắc chẳng có dấu hiệu gì khác là cả. Lần thứ 2 là vào mùa hè năm 1997 khi chị Vân đi mổ ở bênh viện BMT, đêm ở lại bệnh viện. Lúc đó em đang bị bệnh cường giáp nên khó ngủ, đêm đó em không hề chợp mắt đến khoảng 4h30 sáng em thấy anh Thế đến đứng ở hành lang ngay bên cửa sổ, em thấy rõ anh Thế nhìn vào phòng và anh mặc cái áo thun sọc ngang màu xanh (áo thường hay mặc). Cửa sổ là cửa kính mà đèn thì sáng trưng. Em nghĩ là anh Thế không ngủ được nên dậy sớm lên thay cho em. Nhưng sao mãi không thấy anh Thế đi vào phòng, em cứ nghĩ là anh đi đâu đó. Đến gần 7h sáng anh Thế đến không mặc cái áo thun sọc ngang màu xanh nữa em mới hỏi hồi sáng sớm anh đến đây phải không, anh Thế trả lời là không, anh nói là anh mới thức dậy là tới bệnh viện liền đây và lúc đó em mới hiểu rằng do mệt nên em bị ảo giác. Anh Phong à , lúc đó anh mới đau dậy nên dẫu có đang tỉnh táo thì thần kinh mình cũng không khỏe mạnh bình thường, nên anh nghe thấy những điều đó cũng không có gì là khó hiểu cả và chắc chắn là không phải ma đâu anh ạ.)
Miếng sầu riêng đầu đời
Thuở nhỏ ở Phan Thiết, tuy nhà không có cây trái gì lạ nhưng thỉnh thoảng mẹ vẫn mua về những trái cây là lạ để cả nhà thưởng thức. Lúc thì được miếng mít để thọc tay gỡ từng múi và tìm những xơ cái cho bằng sạch, lúc thì đu đủ mà tôi thường cất dành hột để chơi. Măng cụt, vú sữa cũng có lúc được nếm qua nhưng chỉ đủ để biết mùi. Mùa dưa thì có lúc mẹ mua nguyên cả trái dưa hấu to mà có lần Nguyên đã tuyên bố là có thể ăn hết cả trái, … duy có trái sầu riêng thì từ nhỏ chỉ được biết mùi qua những viên kẹo.
Cho tới một ngày chị Tuyết về nhà nghỉ, trong mớ hành lý có thêm một trái sầu riêng mà chị muốn cả nhà được ăn thử cho biết. Ai cũng náo nức muốn nếm mùi nhưng phải đợi để sầu riêng thật chín, vài hôm sau thì trái sầu riêng đã bốc mùi thơm nực và chị Tuyết tuyên bố có thể mở ra ăn. Trái sầu riêng được tách ra cẩn thận, những múi sầu riêng được nâng niu gỡ ra sắp đầy một dĩa, mùi thơm ngào ngạt làm ai cũng nôn nóng nếm thử. (Sơn : anh không có mặt trong biến cố « trọng đại này » vì đi vắng, có lẽ lúc đó anh đang ở ngoài Bình Chính, nơi xứ cha Báu hay trên Đà lạt, nơi cha Đạt. Nói đến trái sầu riêng, anh vẫn thích mùi của nó và thích ăn bánh kẹo sầu riêng nhưng không thích ăn trái vì quá nóng, làm người mình nôn nao khó chịu, nổi mụn và nhất là vì cái vị mềm nhũn nhão nhẹt của nó).
Mỗi người đưa tay nhúm một miếng bỏ vào miệng … và thất vọng ê chề : hình như ít có người nếm tới miếng thứ hai và chắc chị Tuyết phải nhận thầu hết phần còn lại. Mùi sầu riêng thơm thiệt nhưng lần đầu đưa múi sầu riêng mun mủn nhão vào miệng ai cũng có cái cảm giác như ăn mắm ruốc, thành ra trái sầu riêng của chị Tuyết bị ế. Tuy nhiên hột sầu riêng luộc được chiếu cố tận tình và vỏ trái sầu riêng được cha ghép lại, buộc dây, treo trong nhà bếp cho tới lúc héo để vẫn được thưởng thức nhiều ngày mùi thơm thoang thoảng của sầu riêng.
Ở vùng Đức-lập, cho tới ngày tôi ra đi, ngoài một gia đình nào đó ở thôn Bác Ái có cây sầu riêng còn trong Đức Minh thì chưa thấy cây sầu riêng nào cả. Trở về nhà mười lăm năm sau, điều đập vào mắt tôi là cây sầu riêng đầy dẫy, nhà tôi cũng có cây sầu riêng trĩu trái, không biết những em ở nhà có cái cảm giác « ăn mắm ruốc » của tôi ngày nào không?
Cho tới một ngày chị Tuyết về nhà nghỉ, trong mớ hành lý có thêm một trái sầu riêng mà chị muốn cả nhà được ăn thử cho biết. Ai cũng náo nức muốn nếm mùi nhưng phải đợi để sầu riêng thật chín, vài hôm sau thì trái sầu riêng đã bốc mùi thơm nực và chị Tuyết tuyên bố có thể mở ra ăn. Trái sầu riêng được tách ra cẩn thận, những múi sầu riêng được nâng niu gỡ ra sắp đầy một dĩa, mùi thơm ngào ngạt làm ai cũng nôn nóng nếm thử. (Sơn : anh không có mặt trong biến cố « trọng đại này » vì đi vắng, có lẽ lúc đó anh đang ở ngoài Bình Chính, nơi xứ cha Báu hay trên Đà lạt, nơi cha Đạt. Nói đến trái sầu riêng, anh vẫn thích mùi của nó và thích ăn bánh kẹo sầu riêng nhưng không thích ăn trái vì quá nóng, làm người mình nôn nao khó chịu, nổi mụn và nhất là vì cái vị mềm nhũn nhão nhẹt của nó).
Mỗi người đưa tay nhúm một miếng bỏ vào miệng … và thất vọng ê chề : hình như ít có người nếm tới miếng thứ hai và chắc chị Tuyết phải nhận thầu hết phần còn lại. Mùi sầu riêng thơm thiệt nhưng lần đầu đưa múi sầu riêng mun mủn nhão vào miệng ai cũng có cái cảm giác như ăn mắm ruốc, thành ra trái sầu riêng của chị Tuyết bị ế. Tuy nhiên hột sầu riêng luộc được chiếu cố tận tình và vỏ trái sầu riêng được cha ghép lại, buộc dây, treo trong nhà bếp cho tới lúc héo để vẫn được thưởng thức nhiều ngày mùi thơm thoang thoảng của sầu riêng.
Ở vùng Đức-lập, cho tới ngày tôi ra đi, ngoài một gia đình nào đó ở thôn Bác Ái có cây sầu riêng còn trong Đức Minh thì chưa thấy cây sầu riêng nào cả. Trở về nhà mười lăm năm sau, điều đập vào mắt tôi là cây sầu riêng đầy dẫy, nhà tôi cũng có cây sầu riêng trĩu trái, không biết những em ở nhà có cái cảm giác « ăn mắm ruốc » của tôi ngày nào không?
Mẹ bị phỏng
Sau tết Mậu Thân , nhà của hư hại chưa kịp tu sửa nên phải tạm trú bên Vinh-phú. Mới đầu ở tạm nhà bà Bút, sau đó mới dọn tới căn nhà sát căn của chú Điều.
Lúc đang ở nhà bà Bút, tội nghiệp con mèo còn nằm ở nhà không ai chăm sóc nên cha có về nhà bắt con mèo bỏ vào bao bố mang qua Vinh-phú, tới nơi vừa thả ra, bị con chó gầm gừ mấy tiếng là nó đã chạy biến mất, ít hôm sau có dịp ghé qua Vinh-thủy thì thấy con mèo đã về lại nhà.
Nói về căn nhà ở sát bên chú Điều thì hình như 2 căn do cùng một chủ xây dựng cho nên phần trước căn nhà thì riêng nhau nhưng phần nhà bếp của hai bên đều nhỏ lại, tạo ra một khoảng sân vuông chung ở giữa, dùng làm nơi giặt giũ, nấu nướng. Tại sân này, tôi đã nhiều lần ngồi nhìn mẹ làm món chả cá thửng : con cá thửng, sau khi bỏ đầu, chặt vi, lóc vảy được xẻ dọc dưới bụng rồi mở ra để lấy xương sống rồi phần thịt được băm nát, tẩm nước mắm, hành, tiêu nhưng vẫn dính da, sau đó con cá được gấp lại và đem chiên, ngon hết chỗ chê! (Sơn : món chả cá thửng là đặc sản của nhà mình, do mẹ sáng chế ra. Anh đi ăn ở ngoài nhiều nơi, tại các gia đình cũng như ở tiệm, nhưng không nhớ đã bắt gặp món chả cá thửng như của mẹ. Lúc đó ở Phan thiết có sẵn cá tươi nên các anh chị được ăn món này khá thường, còn các em từ Trinh trở xuống thì chỉ nghe nói mà thôi. Sau này anh thấy mẹ còn sáng chế ra món thịt heo kho rim rất ngon, ai cũng thích mà đặc biệt là Phong). Một diện tích khá lớn trong nhà bếp là phần nổi của bồn chứa nước mưa, cao khoảng hơn nửa thước, có mặt xi-măng che kín nên trở thành chỗ ăn cơm hay ngủ nghỉ.
Có một buổi cơm chiều, mẹ bưng nồi canh cá từ khoảng sân vuông vào nhà, sắp sửa đặt lên bục ăn cơm thì tuột tay đổ, mẹ lãnh nguyên nồi canh lên cánh tay và cả người. Vết phỏng trong người ra sao thì chẳng ai thấy nhưng ở cánh tay thì phình lên một bọc nước, phủ dài từ dưới vai tới tận cổ tay. Mẹ mang cánh tay phỏng đi gánh nước, ai nhìn cũng thấy ớn. Phải mất một thời gian vết phỏng mới lành lại.
(Sơn : Mẹ là người có số phận lam lũ cực nhọc và nhất là phải chịu nhiều đau đớn thể xác. Có lẽ vì đã trải qua nhiều cơn đau nên mẹ rất kiên nhẫn và có một sự chịu đựng can trường. Phương châm của mẹ là “chịu khó” hay “ chịu khó mà đền tội”.
Nói về những đau đớn thể xác mẹ phải chịu thì anh nhớ trước tiên là mẹ bị áp xe ở mông vì chích thuốc. Lúc đó mẹ còn trẻ lắm, 24 tuổi, mới từ Bắc di cư vô Nam. Không biết bác sĩ hay y tá chích thuốc làm sao mà sau khi chích, thuốc không tan nên nó tạo thành một ung nhọt khá lớn ở sâu trong thịt, vùng mông. Mẹ rất đau, và phát nóng lạnh, sau đó phải mổ.
Nhưng chưa hết, mỗi lần sinh con là mỗi lần mẹ đau vú. Không hiểu nguồn gốc của căn bệnh ra sao mà cứ mỗi lần sinh là mỗi lần cha chạy đi tìm thuốc cho mẹ, vì mẹ đau lắm. Đau nhưng không thể tự tiện điều trị bằng thuốc kháng sinh được vì mẹ nuôi con bằng sữa mẹ nên uống thuốc kháng sinh tự tiện sẽ có hại cho đứa bé. Hình như càng về sau thì càng đau nhiều hơn. Cho đến lần sinh em Thủy (anh không chắc chắn là Thủy hay Nguyên) thì phải mổ vì vết đau trong ngực mẹ trở thành một ung nhọt có mủ và rất lớn. Thương mẹ lắm ! Vì anh nghe chính mẹ kể lại là ung nhọt tự nó đã làm mẹ đau kinh khủng, rồi khi bác sĩ mổ cũng không có thuốc tê cho hữu hiệu mà cũng không gây mê toàn thân, nên mẹ tỉnh táo và cảm giác đau đớn rõ rệt, vừa đau vừa sợ, người run bần bật, toát mồ hôi dầm dề. Cha đứng bên cạnh nắm tay mẹ an ủi và nói mẹ cầu nguyện xin Chúa giúp sức. Bác sĩ vừa cầm dao rạch vừa né qua một bên vì sợ mủ từ trong ung nhọt bắn ra !! Sau khi đã mổ, mẹ phải trở lại gặp bác sĩ nhiều lần nữa để kiểm tra, thay băng, mỗi lần thay băng là mỗi lần đau không kém gì lần đầu tiên nên mẹ vẫn sợ, đến mãi lần thứ ba hay thứ tư gì đó, càng ngày càng bớt đau, mẹ mới hết sợ.
Một kỷ niệm khác về sự chịu đựng âm thầm của mẹ, đó là vào năm 1977 - 1978, anh để ý thấy mẹ bị nhiễm trùng da ở vùng nách rất nặng, giống như bị lác, vết thương lớn như bàn tay, sần sùi, thâm tím, có cả máu và mủ, vừa ngứa vừa rát, mà không thấy mẹ kêu than, không thấy mẹ đi bác sĩ, đi mua thuốc gì cả, không thấy mẹ nói gì với ai mà mẹ chỉ im lặng chịu đựng, rồi tự tìm lá cây nhai với nước miếng và đắp lên, ngày này qua ngày khác như thế, cho đến mấy tháng sau mới lành).
Lúc đang ở nhà bà Bút, tội nghiệp con mèo còn nằm ở nhà không ai chăm sóc nên cha có về nhà bắt con mèo bỏ vào bao bố mang qua Vinh-phú, tới nơi vừa thả ra, bị con chó gầm gừ mấy tiếng là nó đã chạy biến mất, ít hôm sau có dịp ghé qua Vinh-thủy thì thấy con mèo đã về lại nhà.
Nói về căn nhà ở sát bên chú Điều thì hình như 2 căn do cùng một chủ xây dựng cho nên phần trước căn nhà thì riêng nhau nhưng phần nhà bếp của hai bên đều nhỏ lại, tạo ra một khoảng sân vuông chung ở giữa, dùng làm nơi giặt giũ, nấu nướng. Tại sân này, tôi đã nhiều lần ngồi nhìn mẹ làm món chả cá thửng : con cá thửng, sau khi bỏ đầu, chặt vi, lóc vảy được xẻ dọc dưới bụng rồi mở ra để lấy xương sống rồi phần thịt được băm nát, tẩm nước mắm, hành, tiêu nhưng vẫn dính da, sau đó con cá được gấp lại và đem chiên, ngon hết chỗ chê! (Sơn : món chả cá thửng là đặc sản của nhà mình, do mẹ sáng chế ra. Anh đi ăn ở ngoài nhiều nơi, tại các gia đình cũng như ở tiệm, nhưng không nhớ đã bắt gặp món chả cá thửng như của mẹ. Lúc đó ở Phan thiết có sẵn cá tươi nên các anh chị được ăn món này khá thường, còn các em từ Trinh trở xuống thì chỉ nghe nói mà thôi. Sau này anh thấy mẹ còn sáng chế ra món thịt heo kho rim rất ngon, ai cũng thích mà đặc biệt là Phong). Một diện tích khá lớn trong nhà bếp là phần nổi của bồn chứa nước mưa, cao khoảng hơn nửa thước, có mặt xi-măng che kín nên trở thành chỗ ăn cơm hay ngủ nghỉ.
Có một buổi cơm chiều, mẹ bưng nồi canh cá từ khoảng sân vuông vào nhà, sắp sửa đặt lên bục ăn cơm thì tuột tay đổ, mẹ lãnh nguyên nồi canh lên cánh tay và cả người. Vết phỏng trong người ra sao thì chẳng ai thấy nhưng ở cánh tay thì phình lên một bọc nước, phủ dài từ dưới vai tới tận cổ tay. Mẹ mang cánh tay phỏng đi gánh nước, ai nhìn cũng thấy ớn. Phải mất một thời gian vết phỏng mới lành lại.
(Sơn : Mẹ là người có số phận lam lũ cực nhọc và nhất là phải chịu nhiều đau đớn thể xác. Có lẽ vì đã trải qua nhiều cơn đau nên mẹ rất kiên nhẫn và có một sự chịu đựng can trường. Phương châm của mẹ là “chịu khó” hay “ chịu khó mà đền tội”.
Nói về những đau đớn thể xác mẹ phải chịu thì anh nhớ trước tiên là mẹ bị áp xe ở mông vì chích thuốc. Lúc đó mẹ còn trẻ lắm, 24 tuổi, mới từ Bắc di cư vô Nam. Không biết bác sĩ hay y tá chích thuốc làm sao mà sau khi chích, thuốc không tan nên nó tạo thành một ung nhọt khá lớn ở sâu trong thịt, vùng mông. Mẹ rất đau, và phát nóng lạnh, sau đó phải mổ.
Nhưng chưa hết, mỗi lần sinh con là mỗi lần mẹ đau vú. Không hiểu nguồn gốc của căn bệnh ra sao mà cứ mỗi lần sinh là mỗi lần cha chạy đi tìm thuốc cho mẹ, vì mẹ đau lắm. Đau nhưng không thể tự tiện điều trị bằng thuốc kháng sinh được vì mẹ nuôi con bằng sữa mẹ nên uống thuốc kháng sinh tự tiện sẽ có hại cho đứa bé. Hình như càng về sau thì càng đau nhiều hơn. Cho đến lần sinh em Thủy (anh không chắc chắn là Thủy hay Nguyên) thì phải mổ vì vết đau trong ngực mẹ trở thành một ung nhọt có mủ và rất lớn. Thương mẹ lắm ! Vì anh nghe chính mẹ kể lại là ung nhọt tự nó đã làm mẹ đau kinh khủng, rồi khi bác sĩ mổ cũng không có thuốc tê cho hữu hiệu mà cũng không gây mê toàn thân, nên mẹ tỉnh táo và cảm giác đau đớn rõ rệt, vừa đau vừa sợ, người run bần bật, toát mồ hôi dầm dề. Cha đứng bên cạnh nắm tay mẹ an ủi và nói mẹ cầu nguyện xin Chúa giúp sức. Bác sĩ vừa cầm dao rạch vừa né qua một bên vì sợ mủ từ trong ung nhọt bắn ra !! Sau khi đã mổ, mẹ phải trở lại gặp bác sĩ nhiều lần nữa để kiểm tra, thay băng, mỗi lần thay băng là mỗi lần đau không kém gì lần đầu tiên nên mẹ vẫn sợ, đến mãi lần thứ ba hay thứ tư gì đó, càng ngày càng bớt đau, mẹ mới hết sợ.
Một kỷ niệm khác về sự chịu đựng âm thầm của mẹ, đó là vào năm 1977 - 1978, anh để ý thấy mẹ bị nhiễm trùng da ở vùng nách rất nặng, giống như bị lác, vết thương lớn như bàn tay, sần sùi, thâm tím, có cả máu và mủ, vừa ngứa vừa rát, mà không thấy mẹ kêu than, không thấy mẹ đi bác sĩ, đi mua thuốc gì cả, không thấy mẹ nói gì với ai mà mẹ chỉ im lặng chịu đựng, rồi tự tìm lá cây nhai với nước miếng và đắp lên, ngày này qua ngày khác như thế, cho đến mấy tháng sau mới lành).
Cái đèn trung thu
Năm 1966 tôi học lớp ba, môn thủ công cho dịp tết trung thu là làm lồng đèn, thời hạn là một, hai tuần gì đó. Cái thời 9-10 tuổi đâu có nhiều sáng kiến, cũng chưa đủ lớn để dám làm khác chúng bạn nên đứa nào cũng nghĩ tới làm một cái đèn trái trắm hay đèn ngôi sao để mang đi nộp, nếu có kiếm được thêm điểm là ở chỗ dán giấy, trang hoàng.
Cũng như bao đứa bạn cùng lớp, tôi trình bày dự án và nhờ tới cha giúp để thực hiện cái lồng đèn. Chắc để dạy tôi biết tháo vát, tự lập cha chỉ nói cứ làm đi rồi cha giúp. Tôi cũng bắt đầu chẻ tre, vót lạt nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì tuy đã bao nhiêu năm nhìn đèn trái trắm, đèn ngôi sao trong các dịp trung thu hay giáng sinh nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn ai làm lồng đèn cả. Hạn nộp bài sắp tới, một buổi chiều, tôi nhắc lại với cha để giúp thực hiện lồng đèn, cha bảo tôi muốn làm cái gì thì bắt đầu làm đi; lúc ấy tôi có cảm giác bị bỏ rơi nên bật khóc tức tưởi…
Rốt cuộc thì cha cũng ra tay giúp tôi, nhưng không làm đèn ngôi sao mà dựa theo một kiểu lồng đèn lạ hoắc tìm thấy trên một bức tranh rước đèn trung thu; cái đèn chỉ có hai mặt, phình ra ở giữa, mỗi mặt gồm có hai diện tích tròn đan vào nhau thành như hình số tám, trong bức tranh thì cái lồng đèn này được gắn trên đầu một cây gậy nhưng cha chế lại thành lồng đèn xách tay.
Ngày nộp bài tới, chẳng đặng đừng, tôi cũng phải rón rén xách cái đèn tới lớp, nhưng giấu biệt dưới gầm bàn vì mắc cở khi thấy cái đèn của mình chẳng giống ai. Giờ thủ công tới, bạn bè hí hửng mang đèn lên chấm điểm nhưng tôi nhất định không thèm nộp, chẳng thà chịu ăn trứng vịt chứ không muốn thành trò hề cho cả lớp. Khi thầy hỏi còn ai chưa nộp không thì mấy đứa bạn mới phát giác cái lồng đèn của tôi còn nằm nguyên dưới gầm bàn nên tụi nó moi ra đưa lên nộp, ai cũng cười vì thấy nó giống cái giỏ đi chợ, lồng đèn của tôi được chấm 4 điểm trên 10 coi như có công nộp bài. Dường như sau buổi học thì nó đã bị đá nát tả tơi và tôi cũng chẳng màng lấy lại đưa về nhà.
Từ kinh nghiệm này tôi cẩn thận hơn trong việc giáo dục hai đứa con, dẫu mình có muốn chúng có căn bản để biết sống tự lập nhưng cũng phải từ từ và tùy theo độ tuổi; ở cái tuổi thiếu nhi, cái tuổi chưa có bản lãnh để khẳng định mình thì không dễ dàng gì để sống khác những bạn bè chung quanh.
Cũng như bao đứa bạn cùng lớp, tôi trình bày dự án và nhờ tới cha giúp để thực hiện cái lồng đèn. Chắc để dạy tôi biết tháo vát, tự lập cha chỉ nói cứ làm đi rồi cha giúp. Tôi cũng bắt đầu chẻ tre, vót lạt nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì tuy đã bao nhiêu năm nhìn đèn trái trắm, đèn ngôi sao trong các dịp trung thu hay giáng sinh nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn ai làm lồng đèn cả. Hạn nộp bài sắp tới, một buổi chiều, tôi nhắc lại với cha để giúp thực hiện lồng đèn, cha bảo tôi muốn làm cái gì thì bắt đầu làm đi; lúc ấy tôi có cảm giác bị bỏ rơi nên bật khóc tức tưởi…
Rốt cuộc thì cha cũng ra tay giúp tôi, nhưng không làm đèn ngôi sao mà dựa theo một kiểu lồng đèn lạ hoắc tìm thấy trên một bức tranh rước đèn trung thu; cái đèn chỉ có hai mặt, phình ra ở giữa, mỗi mặt gồm có hai diện tích tròn đan vào nhau thành như hình số tám, trong bức tranh thì cái lồng đèn này được gắn trên đầu một cây gậy nhưng cha chế lại thành lồng đèn xách tay.
Ngày nộp bài tới, chẳng đặng đừng, tôi cũng phải rón rén xách cái đèn tới lớp, nhưng giấu biệt dưới gầm bàn vì mắc cở khi thấy cái đèn của mình chẳng giống ai. Giờ thủ công tới, bạn bè hí hửng mang đèn lên chấm điểm nhưng tôi nhất định không thèm nộp, chẳng thà chịu ăn trứng vịt chứ không muốn thành trò hề cho cả lớp. Khi thầy hỏi còn ai chưa nộp không thì mấy đứa bạn mới phát giác cái lồng đèn của tôi còn nằm nguyên dưới gầm bàn nên tụi nó moi ra đưa lên nộp, ai cũng cười vì thấy nó giống cái giỏ đi chợ, lồng đèn của tôi được chấm 4 điểm trên 10 coi như có công nộp bài. Dường như sau buổi học thì nó đã bị đá nát tả tơi và tôi cũng chẳng màng lấy lại đưa về nhà.
Từ kinh nghiệm này tôi cẩn thận hơn trong việc giáo dục hai đứa con, dẫu mình có muốn chúng có căn bản để biết sống tự lập nhưng cũng phải từ từ và tùy theo độ tuổi; ở cái tuổi thiếu nhi, cái tuổi chưa có bản lãnh để khẳng định mình thì không dễ dàng gì để sống khác những bạn bè chung quanh.
Phong bị xe cán
(Chuyện tôi không được chính mắt thấy, chỉ được nghe thuật lại nhưng xét thấy không thể thiếu trong danh sách những biến cố gia đình nên viết lại đây để hầu có thể chuyển đạt cho các em còn nhỏ hay con cháu về sau.)
Chúa nhật, ngày 17 tháng 10 năm 1965 - Buổi chiều, chưa tới giờ cơm nên cha dẫn mấy anh em đi chơi đánh vũ cầu, có thêm mấy người con chú Bích cùng tham gia, chơi ở miếng đất hoang đối diện nhà chú Bích. Thời đó chưa có những dãy nhà của người chạy nạn nên khoảng đất hoang trải từ nhà ông Kỷ (sát bên đường ra biển) tới nhà anh gì đó, con ông giáo Quang.
Sau khi chơi xong, trên đường đi về nhà, cha cõng Trinh trên cổ trong khi Thạch, Vân, Phong đi theo sau. Chỉ mới đi quá nhà chú Bích được mươi thước thì nghe tiếng la ơi ới, quay nhìn lại thì thấy một chiếc xe lam chở 3, 4 con heo dừng lại trên đường, Phong thì đang nằm giữa đường. Cha bỏ Trinh xuống dặn tôi dẫn mấy em về nhà để bắt xe đưa Phong tới nhà thương. Buổi tối, cha và Phong đã trở về nhà với một miếng băng thật lớn che một bên mặt và một miếng băng khác trên vai và cánh tay. Sau khi xét nghiệm thì Phong chỉ bị trầy trụa bên ngoài do bị xe kéo chà xuống mặt đường một khúc nhưng nội tạng không hề hấn gì vì lúc đó bụng đang lép kẹp. Thực là một điều may mắn.
Nghe chú Bích, từ phía sau đã mục kích sự việc, kể lại : Phong bị gió thổi bay cái nón ra giữa đường nên phóng ra đường để lượm lại, trong lúc đó thì có chiếc xe lam chở heo lên chợ đang trờ tới, tài xế đã lách tránh qua một bên nhưng Phong thấy xe, vội vàng lượm nón và thụt lại nên lọt vào hướng xe đâm tới, bị xe táng vào, ngã xuống và bị xe kéo lê một chút trước khi một bánh xe lăn ngang lên bụng.
Cái may mắn ở đây là xe chạy không nhanh, cũng không chở quá nặng và đã cán qua người Phong ở một chỗ ít bị tổn thương nhất. Nếu một phần nào khác trong thân thể chận trúng bánh xe thì mình không thể tưởng tượng kết quả ra sao!
(Sơn: Khi xảy ra tai nạn thì anh đang học ở Nha trang. Cha viết thư kể chuyện và gửi kèm cho anh mấy tấm hình Phong bị băng tay và đầu. Khi nhận được thư cha thì cơn nguy hiểm đã qua rồi, anh không còn lo âu hồi hộp nữa, nhưng chỉ có cảm giác thương xót và tội nghiệp khi hình dung ra cảnh tượng Phong đon đả tất tưởi chạy theo gió chụp cái mũ vừa bị bay mất. Nhờ có lá thư của cha mà anh đã cho anh Thạch biết ngày giờ chính xác khi tai nạn xảy ra. Phong thật lớn số!)
(Phong: Lúc đó em mới được 4 tuổi, còn quá nhỏ để có thể nhớ được những gì đã xảy ra, chỉ còn đọng lại trong trí óc một số hình ảnh sau:
- Khi em được đặt nằm lên chiếc xe đẩy bằng inox ở bệnh viện, do vết thương còn dính cát nên khi tiếp xúc với inox cát lại chà lên vết thương làm cho đau thêm và lưu vào “bộ nhớ”.
- Cởi áo, quần đứng trước cái máy chụp X quang. Đây là lần chụp X quang đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của em.
- Buổi tối hôm đó, đang nằm trên giường sau khi ở bệnh viện về, em nhìn thấy có nhiều người (hình như là hàng xóm biết chuyện xảy ra từ lúc chiều) tới nhà thăm đứng lố nhố ngoài hành lang, bên cửa sổ. Trong số đó có bác tài chiếc xe lam. Qua câu chuyện em nghe được là chiếc xe đó bị hư thắng nên mới xảy ra tai nạn như vậy.)
Chúa nhật, ngày 17 tháng 10 năm 1965 - Buổi chiều, chưa tới giờ cơm nên cha dẫn mấy anh em đi chơi đánh vũ cầu, có thêm mấy người con chú Bích cùng tham gia, chơi ở miếng đất hoang đối diện nhà chú Bích. Thời đó chưa có những dãy nhà của người chạy nạn nên khoảng đất hoang trải từ nhà ông Kỷ (sát bên đường ra biển) tới nhà anh gì đó, con ông giáo Quang.
Sau khi chơi xong, trên đường đi về nhà, cha cõng Trinh trên cổ trong khi Thạch, Vân, Phong đi theo sau. Chỉ mới đi quá nhà chú Bích được mươi thước thì nghe tiếng la ơi ới, quay nhìn lại thì thấy một chiếc xe lam chở 3, 4 con heo dừng lại trên đường, Phong thì đang nằm giữa đường. Cha bỏ Trinh xuống dặn tôi dẫn mấy em về nhà để bắt xe đưa Phong tới nhà thương. Buổi tối, cha và Phong đã trở về nhà với một miếng băng thật lớn che một bên mặt và một miếng băng khác trên vai và cánh tay. Sau khi xét nghiệm thì Phong chỉ bị trầy trụa bên ngoài do bị xe kéo chà xuống mặt đường một khúc nhưng nội tạng không hề hấn gì vì lúc đó bụng đang lép kẹp. Thực là một điều may mắn.
Nghe chú Bích, từ phía sau đã mục kích sự việc, kể lại : Phong bị gió thổi bay cái nón ra giữa đường nên phóng ra đường để lượm lại, trong lúc đó thì có chiếc xe lam chở heo lên chợ đang trờ tới, tài xế đã lách tránh qua một bên nhưng Phong thấy xe, vội vàng lượm nón và thụt lại nên lọt vào hướng xe đâm tới, bị xe táng vào, ngã xuống và bị xe kéo lê một chút trước khi một bánh xe lăn ngang lên bụng.
Cái may mắn ở đây là xe chạy không nhanh, cũng không chở quá nặng và đã cán qua người Phong ở một chỗ ít bị tổn thương nhất. Nếu một phần nào khác trong thân thể chận trúng bánh xe thì mình không thể tưởng tượng kết quả ra sao!
(Sơn: Khi xảy ra tai nạn thì anh đang học ở Nha trang. Cha viết thư kể chuyện và gửi kèm cho anh mấy tấm hình Phong bị băng tay và đầu. Khi nhận được thư cha thì cơn nguy hiểm đã qua rồi, anh không còn lo âu hồi hộp nữa, nhưng chỉ có cảm giác thương xót và tội nghiệp khi hình dung ra cảnh tượng Phong đon đả tất tưởi chạy theo gió chụp cái mũ vừa bị bay mất. Nhờ có lá thư của cha mà anh đã cho anh Thạch biết ngày giờ chính xác khi tai nạn xảy ra. Phong thật lớn số!)
(Phong: Lúc đó em mới được 4 tuổi, còn quá nhỏ để có thể nhớ được những gì đã xảy ra, chỉ còn đọng lại trong trí óc một số hình ảnh sau:
- Khi em được đặt nằm lên chiếc xe đẩy bằng inox ở bệnh viện, do vết thương còn dính cát nên khi tiếp xúc với inox cát lại chà lên vết thương làm cho đau thêm và lưu vào “bộ nhớ”.
- Cởi áo, quần đứng trước cái máy chụp X quang. Đây là lần chụp X quang đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của em.
- Buổi tối hôm đó, đang nằm trên giường sau khi ở bệnh viện về, em nhìn thấy có nhiều người (hình như là hàng xóm biết chuyện xảy ra từ lúc chiều) tới nhà thăm đứng lố nhố ngoài hành lang, bên cửa sổ. Trong số đó có bác tài chiếc xe lam. Qua câu chuyện em nghe được là chiếc xe đó bị hư thắng nên mới xảy ra tai nạn như vậy.)
Quà chợ tỉnh
Nhớ những ngày còn nhỏ ở Phan-thiết, thỉnh thoảng mẹ đi chợ “tỉnh” (gọi là chợ tỉnh vì là chợ ở thị xã, hàng hóa đa dạng, để phân biệt với chợ Ba-làng, ở Phú-hài, chủ yếu bán hải sản). Đi chợ tỉnh về, thế nào mẹ cũng mua cho cái gì, thường là đồ ăn : lúc thì bánh da lợn, bánh tai heo, khi thì khúc mía, nải chuối, lạ hơn thì những tràng trái hồng quân hay một nhúm trái du da,…nói chung là những thứ bình thường không có. Đặc biệt hơn là cả nhà sẽ được ăn thịt bò hay thịt heo ngày hôm đó.
Đi chợ tỉnh, mẹ thường đi vào buổi sáng, khoảng trưa thì về. Trong những ngày đặc biệt đó, tới buổi trưa, tôi và mấy đứa em thường ngồi đợi mẹ về (lúc đó chắc chỉ có Vân, Phong). Để có trò chơi giải khuây, chúng tôi thường thi nhau dự đoán xem mẹ sẽ về trong chuyến xe thứ mấy, đôi khi còn bày trò cá cược xem ai thắng (đoán trúng) thì sẽ có quyền chọn phần quà trước, hay sẽ được hưởng phần nhìn có vẻ dồi dào nhất. Những xe được đếm là xe chở khách từ thị xã đi về hướng Phú-hài, thường là xe lam ba bánh hay xe ngựa. Ngày xưa trên tuyến đường đó còn có loại xe lớn hơn, thường được ghi bên hông « Phan Thiết – Rạng – Mũi Né », cho tới giờ thì tôi vẫn không biết Rạng là khúc nào, còn Mũi Né là một địa điểm chưa bao giờ đi tới trong thời gian gia đình sống tại Phan-thiết.
Thường thì tới lúc mẹ về, mọi đứa đều quên hết, nỗi vui có quà đánh tan hết những cá cược trước đó, ai cũng bằng lòng với những gì mẹ cho. Nhớ những chuyện này, so sánh hai đứa con của tôi với những đứa trẻ cùng lứa trong những gia đình khác, tôi nhìn ra chúng thừa hưởng một nét rất đặc thù của gia đình tôi : rất ít bon chen, ganh tỵ
(Quang : Em cũng nhớ hồi nhỏ mỗi khi thấy mẹ đi chợ về là rất mừng vì không có bao giờ mẹ đi chợ về mà không có quà bánh cho mình. Khi còn ở Ban Mê, nhà mình cách mặt đường một đoạn dốc thoai thoải, mỗi sáng mẹ đã dậy từ sớm đi chợ lúc nào mình không hay nhưng mẹ thường về lúc nửa buổi, mẹ thường gánh gánh chứ không xách giỏ. Mẹ hay mua mía, có lần mẹ mua mía nhưng để nguyên cây về cho mỗi đứa một cây, lúc đó chỉ nhớ có anh Nguyên, chị Thủy và em ôm cây mía dài vừa gặm vừa thúc vào nhau (mỗi lần nghịch ngợm sao chẳng nhớ thấy bóng giáng chị Trinh đâu cả, chắc tại chị Trinh ít nghịch cho nên em không nhớ). Khi ở Đakmil món quà mà em nhớ nhất là trái mận quân, ăn xong hàm răng bị đen vì mủ của nó).
Đi chợ tỉnh, mẹ thường đi vào buổi sáng, khoảng trưa thì về. Trong những ngày đặc biệt đó, tới buổi trưa, tôi và mấy đứa em thường ngồi đợi mẹ về (lúc đó chắc chỉ có Vân, Phong). Để có trò chơi giải khuây, chúng tôi thường thi nhau dự đoán xem mẹ sẽ về trong chuyến xe thứ mấy, đôi khi còn bày trò cá cược xem ai thắng (đoán trúng) thì sẽ có quyền chọn phần quà trước, hay sẽ được hưởng phần nhìn có vẻ dồi dào nhất. Những xe được đếm là xe chở khách từ thị xã đi về hướng Phú-hài, thường là xe lam ba bánh hay xe ngựa. Ngày xưa trên tuyến đường đó còn có loại xe lớn hơn, thường được ghi bên hông « Phan Thiết – Rạng – Mũi Né », cho tới giờ thì tôi vẫn không biết Rạng là khúc nào, còn Mũi Né là một địa điểm chưa bao giờ đi tới trong thời gian gia đình sống tại Phan-thiết.
Thường thì tới lúc mẹ về, mọi đứa đều quên hết, nỗi vui có quà đánh tan hết những cá cược trước đó, ai cũng bằng lòng với những gì mẹ cho. Nhớ những chuyện này, so sánh hai đứa con của tôi với những đứa trẻ cùng lứa trong những gia đình khác, tôi nhìn ra chúng thừa hưởng một nét rất đặc thù của gia đình tôi : rất ít bon chen, ganh tỵ
(Quang : Em cũng nhớ hồi nhỏ mỗi khi thấy mẹ đi chợ về là rất mừng vì không có bao giờ mẹ đi chợ về mà không có quà bánh cho mình. Khi còn ở Ban Mê, nhà mình cách mặt đường một đoạn dốc thoai thoải, mỗi sáng mẹ đã dậy từ sớm đi chợ lúc nào mình không hay nhưng mẹ thường về lúc nửa buổi, mẹ thường gánh gánh chứ không xách giỏ. Mẹ hay mua mía, có lần mẹ mua mía nhưng để nguyên cây về cho mỗi đứa một cây, lúc đó chỉ nhớ có anh Nguyên, chị Thủy và em ôm cây mía dài vừa gặm vừa thúc vào nhau (mỗi lần nghịch ngợm sao chẳng nhớ thấy bóng giáng chị Trinh đâu cả, chắc tại chị Trinh ít nghịch cho nên em không nhớ). Khi ở Đakmil món quà mà em nhớ nhất là trái mận quân, ăn xong hàm răng bị đen vì mủ của nó).
Xe gắn máy
Thời tôi bắt đầu lớn để biết chuyện thì phương tiện di chuyển của cha là cái xe đạp, nhờ thế tôi sớm làm “thợ vịn” cho cha trong những lúc vá ruột xe, đốn mắt xích, thay bố thắng.
Lúc cha hết làm ở công ty điện lực thì thấy ở nhà có chiếc xe gắn máy, người ta gọi là chiếc mobilette. Loại xe này không có tay số, chỉ có tay ga, lúc muốn nổ máy thì đạp như chiếc xe đạp để lấy trớn rồi vặn tay ga cho nổ máy. Chiếc xe này đã cũ lắm, không biết tự đâu ra, và chạy cũng không tốt lắm nên vào khoảng năm 1966-67 thì nhà mình có một chiếc xe mới, là một chiếc Honda SS50. (Sơn: Cũng vì cứ nghĩ như anh Thạch là “muốn nổ máy thì đạp như chiếc xe đạp để lấy trớn rồi vặn tay ga cho nổ máy” mà anh có kỷ niệm nhớ đời với nó, cậu chuyện có liên hệ tới chị Tuyết nữa, không biết chị có còn nhớ ! Đó là một dịp nghỉ hè, anh từ Nha trang về và chị Tuyết từ Cù lao giêng về. Buổi trưa cả nhà đang ngủ trưa, anh ngứa ngáy tay chân, nên rủ chị Tuyết lấy xe mobilette của cha ra chạy thử. Chị Tuyết cũng đồng tình. Hai chị em hì hục, người đạp người đẩy, rồi lại thay phiên nhau người đẩy người đạp, tháo mồ hôi mà vẫn không nổ. Lý do 2 chị em quyết tâm làm như thế là vì đã thấy cha chạy ngon lành: đạp vài vòng cho nó chạy như xe đạp rồi vặn tay ga là nó vọt lên ngay. Sau nửa tiếng vật lộn với chiếc xe … đành phải đầu hàng, dắt xe về, mặt mày tái mét, mồ hôi mồ kê đầy người. Về đến nhà thấy cha đã ngủ trưa dậy chuẩn bị đi làm, cha mới nhẹ nhàng tiết lộ mánh khóe, đó là: trong lúc đạp như xe đạp thì phải vặn tay ga ngược về phía trước, đến khi nghe tiếng lạch phạch thì mới vặn xuôi về phía sau để tăng ga. Nhưng cha nói thêm một câu mà anh nghe mát lòng vô cùng và nhớ mãi đến hôm nay, đó là “con hỏi cha trước rồi cha chỉ dẫn cho con, có phải con khỏi mất công sức như vậy không”. Câu nói ngắn gọn, nhẹ nhàng, nhưng tạo nên tâm trạng gần gũi thân yêu và sự tin tưởng giữa hai cha con với nhau.)
Chiếc xe Honda SS50 của nhà mình và của chú Bích là 2 chiếc được đặt chở về từ Nhật chứ không phải là hàng lắp ráp tại VN, xe xuất xưởng chưa được căn chỉnh gì cả nên phải mất cả tháng mày mò, so sánh mới điều chỉnh được mức xăng/gió thích hợp để bu-gi khô ráo và có màu đỏ “như gạch cua” chứ không còn đen thui và ướt nhẹp xăng.
Xe mới thì cần phải chạy rô-đa, nghe nói đâu khoảng 500 cây số. Vì ít sử dụng nên cha hay để ở nhà, chống xe lên và nổ máy thay vì phải chạy rô-đa. Tôi chưa đủ lớn để chạy chiếc xe này nên chỉ biết chờ khi xe được chống lên thì ngồi trên xe, đạp cho nổ máy, sang số, trả số. Lúc nổ máy chán rồi thì cùng với mấy em, chắc là Vân, Phong, đè phía sau xe để kích bánh trước lên rồi dùng tay quay bánh xe để coi kim vận tốc di chuyển và các con số từ từ nhảy.
Ngoài cha ra thì chắc chỉ có anh Sơn là người sử dụng chiếc xe này, thỉnh thoảng anh Sơn chở theo tôi chạy ra Phú-long, qua khỏi mấy đám ruộng muối trên quốc lộ 1 là đoạn đường thênh thang nên anh Sơn rồ ga phóng, tôi ngồi sau nghe gió phần phật mà phát khiếp.
Có một lần cha phải tránh hay vì cán trúng một con chó mà bị té, xe ngã đè lên cha, bàn chân bị cần số cấn lên làm bị thương khá nặng, sưng húp lên, phải băng bó, bóp thuốc khá lâu mới lành. Nhớ thêm một lần, cha chở tôi đi mua thùng dầu lửa 20 lít ở khu gần nhà thương cũ, trên đường Hải Thượng Lãn Ông; trên đường về, chưa tới được ngã tư bưu điện (trước 1975, bốn góc ngã tư này gồm có ty bưu điện, ty ngân khố, tiểu khu và công viên) thì sém bị va chạm với một xe khác cắt qua trước mặt để quẹo phải, cha bị luýnh quýnh, tôi ngồi sau vất vả ôm thùng dầu vuông vức cũng bị chao đảo làm cha mất thăng bằng, thế là cha con và thùng dầu cùng đo đường, gặp khúc đường có cát nên bị kéo trượt đi vài thước, ai cũng bị trầy sướt mấy chỗ, thùng dầu hơi móp méo và bị hở bung một chút ở mặt trên nên có một ít dầu bị đổ xuống đường nhưng rồi cha con cũng lại lên xe tiếp tục về nhà.
Không biết cha có bị thêm tai nạn nào không nhưng chắc mẹ thấy cha chạy xe tay côn không nhuyễn lắm nên sinh ra ý định bán chiếc SS50 để thay thế bằng loại xe ít rắc rối hơn. Hình như xe được bán lại cho ông Yên, trong lúc chưa mua xe khác thì cha Hoa cho chiếc xe Gobel để chạy đỡ, tôi đã có dịp lấy xe chạy lên tới phố (đường Trần Hưng Đạo), loại xe cũng phải bóp côn sang số nhưng vặn bằng tay trái chứ không phải số chân.
Ngoài ra, cậu Trực có một chiếc xe Solex, giống xe đạp nhưng có máy ở phía trước, xe này chạy cũng không tốt lắm nên hình như cậu cũng tháo máy để làm thành xe đạp luôn.
Lúc cha hết làm ở công ty điện lực thì thấy ở nhà có chiếc xe gắn máy, người ta gọi là chiếc mobilette. Loại xe này không có tay số, chỉ có tay ga, lúc muốn nổ máy thì đạp như chiếc xe đạp để lấy trớn rồi vặn tay ga cho nổ máy. Chiếc xe này đã cũ lắm, không biết tự đâu ra, và chạy cũng không tốt lắm nên vào khoảng năm 1966-67 thì nhà mình có một chiếc xe mới, là một chiếc Honda SS50. (Sơn: Cũng vì cứ nghĩ như anh Thạch là “muốn nổ máy thì đạp như chiếc xe đạp để lấy trớn rồi vặn tay ga cho nổ máy” mà anh có kỷ niệm nhớ đời với nó, cậu chuyện có liên hệ tới chị Tuyết nữa, không biết chị có còn nhớ ! Đó là một dịp nghỉ hè, anh từ Nha trang về và chị Tuyết từ Cù lao giêng về. Buổi trưa cả nhà đang ngủ trưa, anh ngứa ngáy tay chân, nên rủ chị Tuyết lấy xe mobilette của cha ra chạy thử. Chị Tuyết cũng đồng tình. Hai chị em hì hục, người đạp người đẩy, rồi lại thay phiên nhau người đẩy người đạp, tháo mồ hôi mà vẫn không nổ. Lý do 2 chị em quyết tâm làm như thế là vì đã thấy cha chạy ngon lành: đạp vài vòng cho nó chạy như xe đạp rồi vặn tay ga là nó vọt lên ngay. Sau nửa tiếng vật lộn với chiếc xe … đành phải đầu hàng, dắt xe về, mặt mày tái mét, mồ hôi mồ kê đầy người. Về đến nhà thấy cha đã ngủ trưa dậy chuẩn bị đi làm, cha mới nhẹ nhàng tiết lộ mánh khóe, đó là: trong lúc đạp như xe đạp thì phải vặn tay ga ngược về phía trước, đến khi nghe tiếng lạch phạch thì mới vặn xuôi về phía sau để tăng ga. Nhưng cha nói thêm một câu mà anh nghe mát lòng vô cùng và nhớ mãi đến hôm nay, đó là “con hỏi cha trước rồi cha chỉ dẫn cho con, có phải con khỏi mất công sức như vậy không”. Câu nói ngắn gọn, nhẹ nhàng, nhưng tạo nên tâm trạng gần gũi thân yêu và sự tin tưởng giữa hai cha con với nhau.)
Chiếc xe Honda SS50 của nhà mình và của chú Bích là 2 chiếc được đặt chở về từ Nhật chứ không phải là hàng lắp ráp tại VN, xe xuất xưởng chưa được căn chỉnh gì cả nên phải mất cả tháng mày mò, so sánh mới điều chỉnh được mức xăng/gió thích hợp để bu-gi khô ráo và có màu đỏ “như gạch cua” chứ không còn đen thui và ướt nhẹp xăng.
Xe mới thì cần phải chạy rô-đa, nghe nói đâu khoảng 500 cây số. Vì ít sử dụng nên cha hay để ở nhà, chống xe lên và nổ máy thay vì phải chạy rô-đa. Tôi chưa đủ lớn để chạy chiếc xe này nên chỉ biết chờ khi xe được chống lên thì ngồi trên xe, đạp cho nổ máy, sang số, trả số. Lúc nổ máy chán rồi thì cùng với mấy em, chắc là Vân, Phong, đè phía sau xe để kích bánh trước lên rồi dùng tay quay bánh xe để coi kim vận tốc di chuyển và các con số từ từ nhảy.
Ngoài cha ra thì chắc chỉ có anh Sơn là người sử dụng chiếc xe này, thỉnh thoảng anh Sơn chở theo tôi chạy ra Phú-long, qua khỏi mấy đám ruộng muối trên quốc lộ 1 là đoạn đường thênh thang nên anh Sơn rồ ga phóng, tôi ngồi sau nghe gió phần phật mà phát khiếp.
Có một lần cha phải tránh hay vì cán trúng một con chó mà bị té, xe ngã đè lên cha, bàn chân bị cần số cấn lên làm bị thương khá nặng, sưng húp lên, phải băng bó, bóp thuốc khá lâu mới lành. Nhớ thêm một lần, cha chở tôi đi mua thùng dầu lửa 20 lít ở khu gần nhà thương cũ, trên đường Hải Thượng Lãn Ông; trên đường về, chưa tới được ngã tư bưu điện (trước 1975, bốn góc ngã tư này gồm có ty bưu điện, ty ngân khố, tiểu khu và công viên) thì sém bị va chạm với một xe khác cắt qua trước mặt để quẹo phải, cha bị luýnh quýnh, tôi ngồi sau vất vả ôm thùng dầu vuông vức cũng bị chao đảo làm cha mất thăng bằng, thế là cha con và thùng dầu cùng đo đường, gặp khúc đường có cát nên bị kéo trượt đi vài thước, ai cũng bị trầy sướt mấy chỗ, thùng dầu hơi móp méo và bị hở bung một chút ở mặt trên nên có một ít dầu bị đổ xuống đường nhưng rồi cha con cũng lại lên xe tiếp tục về nhà.
Không biết cha có bị thêm tai nạn nào không nhưng chắc mẹ thấy cha chạy xe tay côn không nhuyễn lắm nên sinh ra ý định bán chiếc SS50 để thay thế bằng loại xe ít rắc rối hơn. Hình như xe được bán lại cho ông Yên, trong lúc chưa mua xe khác thì cha Hoa cho chiếc xe Gobel để chạy đỡ, tôi đã có dịp lấy xe chạy lên tới phố (đường Trần Hưng Đạo), loại xe cũng phải bóp côn sang số nhưng vặn bằng tay trái chứ không phải số chân.
Ngoài ra, cậu Trực có một chiếc xe Solex, giống xe đạp nhưng có máy ở phía trước, xe này chạy cũng không tốt lắm nên hình như cậu cũng tháo máy để làm thành xe đạp luôn.
Đuổi mèo
Thuở nhỏ, nhớ có lần mẹ đi Sài-gòn, hình như bế theo cả Trinh, chị Tuyết và anh Sơn đã đi học xa, cha còn làm tại “nhà đèn” Phan-thiết và làm ca tối, từ khoảng 4-5 giờ chiều đến gần nửa đêm.
Buổi chiều cha cho mấy đứa ăn cơm rồi đi làm, ở nhà chỉ còn lại Thạch, Vân, Phong. Lúc trời còn sáng thì ham chơi nên không nhớ gì, tối đến mấy anh em mới bắt đầu thấy sợ. Trong nhà chỉ có ngọn đèn dầu leo lét, ba anh em lên giường ôm nhau mà không ngủ được; chợt bên ngoài có tiếng mèo gào làm cho Phong hay Vân sợ quá nên ba anh em lại dắt díu nhau, lò mò ra ngoài sân lượm đá đuổi mèo chạy.
Giấc ngủ rồi cũng đến nên chẳng đứa nào biết mèo có còn kêu không và cũng không ai hay cha đi làm về lúc nào nữa. (Trinh: Em còn nhớ một lần nào đó không có cha mẹ ở nhà hình như là mẹ bế Nguyên đi Sài Gòn, buổi tối chỉ có 4 anh em ở nhà đó là Thạch, Vân, Phong, Trinh. Tối đến cứ ngồi dỏng tai lên nghe ngóng hễ có một tiếng động là đoán một người nào đó, có một lần anh Thạch đoán là thầy Quý (người này em không biết chỉ nghe các anh chị hay nhắc đến – thầy Quý là người dạy anh Sơn học lớp Ba. Thầy ấy người Nha Trang, vô Vinh Thủy ở tạm 1 năm để dạy học. Thầy Quý rất quý trọng cha mẹ và thương anh. Vào dịp Tết năm 1962 anh được thầy Quý rủ về nhà thầy ở Nha trang nghỉ Tết, đi bằng xe lửa. Trong nhà chỉ có chị Tuyết, anh Sơn và anh Thạch là biết về thầy Quý mà thôi) mấy anh em chạy ra khe cửa nhìn nhưng không có ai cả. Một lát sau lại nghe tiếng động, lần này anh Thạch đoán là anh Sơn về, 4 anh em lại chạy ra cửa , ngó qua khe cửa thì đúng là anh Sơn về, đeo ba lô sau lưng. Ai cũng mừng rỡ, anh Sơn nói anh đi về bằng ghe nên về ban đêm. Một lát sau anh nói hình như anh bị rớt tiền, thế là quyết định đi tìm. Năm anh em dắt díu nhau đi về phía Ba Làng, em được anh Thạch cõng, không biết lúc đó có đèn đường hay không nhưng có ánh sáng mờ mờ, hễ thấy cái gì trắng trắng là dừng lại xem nhưng không phải thế là cả đoàn phá lên cười, đến khoảng nhà thờ ngoài thì anh Sơn quyết định quay về không tìm nữa. Em nhớ chuyến đó anh Sơn mua về cho các em sữa tươi trong lon và loại bánh hơi giống bánh phồng tôm bây giờ. Hình như ai cũng thích bánh hơn vì chưa quen uống sữa tươi không đường nên nó bị ế đến mấy ngày sau).(Sơn: Trinh nhớ quá tài và nhớ rất chi tiết. Anh không còn nhớ gì về chuyện này cho đến khi đọc lại những chia sẻ của Trinh thì dần dần hiện ra kỷ niệm cũ. Đúng là thời đó anh hay đi về buổi tối hay tờ mờ sáng, vì đi bằng ghe từ Phan rí. Mà khi anh về đến nhà cũng chưa quá khuya nên các em còn thức, như vậy mới rủ nhau đi bộ để tìm tiền bị rớt. Mà tìm làm sao được giữa đêm tối như vậy, thật là trẻ con !)
Buổi chiều cha cho mấy đứa ăn cơm rồi đi làm, ở nhà chỉ còn lại Thạch, Vân, Phong. Lúc trời còn sáng thì ham chơi nên không nhớ gì, tối đến mấy anh em mới bắt đầu thấy sợ. Trong nhà chỉ có ngọn đèn dầu leo lét, ba anh em lên giường ôm nhau mà không ngủ được; chợt bên ngoài có tiếng mèo gào làm cho Phong hay Vân sợ quá nên ba anh em lại dắt díu nhau, lò mò ra ngoài sân lượm đá đuổi mèo chạy.
Giấc ngủ rồi cũng đến nên chẳng đứa nào biết mèo có còn kêu không và cũng không ai hay cha đi làm về lúc nào nữa. (Trinh: Em còn nhớ một lần nào đó không có cha mẹ ở nhà hình như là mẹ bế Nguyên đi Sài Gòn, buổi tối chỉ có 4 anh em ở nhà đó là Thạch, Vân, Phong, Trinh. Tối đến cứ ngồi dỏng tai lên nghe ngóng hễ có một tiếng động là đoán một người nào đó, có một lần anh Thạch đoán là thầy Quý (người này em không biết chỉ nghe các anh chị hay nhắc đến – thầy Quý là người dạy anh Sơn học lớp Ba. Thầy ấy người Nha Trang, vô Vinh Thủy ở tạm 1 năm để dạy học. Thầy Quý rất quý trọng cha mẹ và thương anh. Vào dịp Tết năm 1962 anh được thầy Quý rủ về nhà thầy ở Nha trang nghỉ Tết, đi bằng xe lửa. Trong nhà chỉ có chị Tuyết, anh Sơn và anh Thạch là biết về thầy Quý mà thôi) mấy anh em chạy ra khe cửa nhìn nhưng không có ai cả. Một lát sau lại nghe tiếng động, lần này anh Thạch đoán là anh Sơn về, 4 anh em lại chạy ra cửa , ngó qua khe cửa thì đúng là anh Sơn về, đeo ba lô sau lưng. Ai cũng mừng rỡ, anh Sơn nói anh đi về bằng ghe nên về ban đêm. Một lát sau anh nói hình như anh bị rớt tiền, thế là quyết định đi tìm. Năm anh em dắt díu nhau đi về phía Ba Làng, em được anh Thạch cõng, không biết lúc đó có đèn đường hay không nhưng có ánh sáng mờ mờ, hễ thấy cái gì trắng trắng là dừng lại xem nhưng không phải thế là cả đoàn phá lên cười, đến khoảng nhà thờ ngoài thì anh Sơn quyết định quay về không tìm nữa. Em nhớ chuyến đó anh Sơn mua về cho các em sữa tươi trong lon và loại bánh hơi giống bánh phồng tôm bây giờ. Hình như ai cũng thích bánh hơn vì chưa quen uống sữa tươi không đường nên nó bị ế đến mấy ngày sau).(Sơn: Trinh nhớ quá tài và nhớ rất chi tiết. Anh không còn nhớ gì về chuyện này cho đến khi đọc lại những chia sẻ của Trinh thì dần dần hiện ra kỷ niệm cũ. Đúng là thời đó anh hay đi về buổi tối hay tờ mờ sáng, vì đi bằng ghe từ Phan rí. Mà khi anh về đến nhà cũng chưa quá khuya nên các em còn thức, như vậy mới rủ nhau đi bộ để tìm tiền bị rớt. Mà tìm làm sao được giữa đêm tối như vậy, thật là trẻ con !)
Căn nhà tuổi thơ
Căn nhà tuổi thơ của tôi ở Phan-thiết nằm ngay góc ngã ba của con đường từ thị xã ra Phú-hài và con đường đất dẫn ra biển. Thuở đầu, ngõ vào nhà nằm trên mặt đường cái, được lát bằng gạch, nhà nằm thụt sâu vào trong một chút, giữa những cây na (măng cầu ta). (Sơn : Khi ngõ nhà mình còn hướng ra đường cái, thì ngay bên ngõ có cây trứng cá. Đây là một cây lá nhỏ, cao độ dăm ba thước, có trái tròn lớn bằng ngón tay cái, khi chín, đỏ mọng, thơm và ngọt. Không biết chị Tuyết hay các em, có ai còn nhớ đến cây trứng cá này không). (Tuyết : Chị đi tu một năm sau trở về vẫn còn leo cây trứng cá này để hái trái. Có lúc người ta nói ăn trái đó coi chừng bị “cát” của nó, nhỏ li ti, dính vào bao tử là nguy hiểm. Vậy mà vẫn cứ “sa chước cám dỗ” ! Ngày xưa trẻ con không có dư thừa thực phẩm và đồ chơi như bây giờ, nên bất cứ thứ gì dù tầm thường vẫn cảm thấy thích thú và ngon lành). Đứng từ ngõ nhìn vào nhà, ngang với căn nhà thì phía trái còn có một cây nhãn, phía phải có một cây dừa; suốt mười mấy năm ở đó tôi chưa hề được thấy trái của hai cây này. Cây nhãn hình như bị đốn trước khi nhà đổi cổng về phía đường ra biển, còn cây dừa thì sau khi bán nhà cho ông Thảo mới có trái.
Nhớ lúc mới ở căn nhà đó, tôi thường quanh quẩn ra vườn búng mấy trái na xem đã chín chưa, có lúc thấy mẹ hái vào mỗi lần cả 2, 3 thúng nhưng có điều bị rầy bám nhiều lắm, không hiểu tại sao mà sau đó thì mấy cây na bị đốn hết nên chỉ còn lại mảnh đất trống. Chung quanh vườn thì 2 phía là hàng rào cây xương rồng, mặt giáp đường ra biển có thêm mấy cây găng (còn gọi là cây keo), trái từa tựa trái me, mỗi mắt có một hột được bọc bằng một lớp cơm trắng và hơi xốp, ăn lớp cơm này thì hơi ngọt pha một ít vị chát. Trái găng lủng lẳng mời gọi thế đấy mà cứ bị cấm ăn, có lần chị Tuyết hái cho tôi ăn và dặn không được mách mẹ, thế mà sau khi ăn xong tôi lại đi khai tuốt hết, làm chị Tuyết bị mẹ la nên bực tôi vô cùng.
Căn nhà lúc đầu có vách làm bằng đất sét trộn rơm, bên ngoài có một lớp áo mỏng bằng ciment, có đôi chỗ lớp áo đã bị bong đi mất, là địa điểm cho tôi say mê theo dõi mấy con tò vò khoét từng lỗ trên tường, lấy đất sét để xây tổ. Từ từ, vách tường đất sét được đổi qua xây bằng gạch. Có lẽ vì tọa lạc trên vùng đất hơi trũng nên nhà được xây cao hơn mặt đất khoảng nửa thước, chung quanh có hàng hiên khá rộng. Tôi thích nhất hàng hiên này vì đây là chỗ cho chúng tôi chơi đùa mà không bị mưa, nắng; nào chơi ô, chơi cò cò, bò lê lết, trò cá sấu lên bờ và buổi tối còn có thể giăng ghế bố nằm ngủ nữa. (Tuyết: cũng nơi hàng hiên này mà những lúc rảnh rỗi sau trưa, hiu hiu gió mát thỉnh thoảng mẹ ngồi bắt chí cho chị. Cũng là nơi lúc còn ở nhà chị hay ngồi đan lưới.) Nhớ dịp đám cưới cậu Trực, có buổi tối, tôi và anh Sơn nằm nơi đây nghe cậu Phan lấy cửa sổ nhà anh Dân làm đích để giải thích nguyên tắc khẩu M-79. (Sơn: Nhân dịp đám cưới cậu Trực, cậu Phan từ Ban mê thuột xuống đi đám, anh mới có dịp gặp và làm quen với cậu Phan. Đó là buổi tối trước ngày cậu Phan ra về. Anh còn nhớ như in buổi nói chuyện với cậu Phan vào buổi tối hôm đó và nghe cậu ấy kể chuyện bắn súng M79, không ngờ Thạch cũng ngồi bên cạnh hóng chuyện và còn nhớ. Chưa gặp cậu Phan lần nào, nhưng thấy cậu hiền hiền, ít nói và có vẻ gần gũi, nên anh đến làm quen bắt chuyện. Nhờ đó mà tình cậu cháu thân thiết hơn. Sau đó vài năm khi anh đang học tại Tiểu chủng viện Chúa Chiên Lành Đà lạt, hình như là vào năm 1971, trong một dịp nghỉ giữa khóa, anh tự thân mua vé may bay lên Ban mê thuột thăm cậu và làm quen với toàn gia đình cậu mự Phan. Lúc này, Hùng, Dũng, Dung, Hòa còn nhỏ xíu. Đó là một chuyến phiêu lưu thật đáng nhớ).
Căn nhà bếp nằm về hướng nhà bà Thảo (tức là hướng đi lên tỉnh), lúc đầu liền với căn nhà nhưng sau này được xây lại thụt ra sau một tí nên khoảng nền nhà bếp cũ trở thành sân chơi cho mấy trò cần nhiều chỗ hơn : đẩy xe, lắc lư xoay vòng trong cái chảo lớn, nhảy nhún trên cái xăm xe to tổ bố do cậu mang về. Cùng lúc di chuyển nhà bếp thì có thêm nhà tiêu, nhà tắm và bồn chứa nước mưa, trên bồn nước mưa này là chỗ sinh hoạt rất thú vị vào những đêm trăng thanh gió mát, đứng ở đây có thể với tay hái chùm ruột trên cây sau nhà tắm. Sát bên nhà bếp, ngay bên giếng nước còn có một cây chùm ruột khác nữa.
Khi nhà chưa nuôi heo thì dường như vườn chẳng trồng gì cả, chung quanh vẫn là hàng rào xương rồng để mỗi chiều tôi lang thang ra đó tìm bắt chuồn chuồn, châu chấu. Sau này, chuồng heo được dựng lên về phía góc vườn, cách nhà bếp và giếng nước khoảng 10 thước, khoảng trống này sau đó có thêm giàn bầu, giàn mướp và trồng cà, vườn cũng bắt đầu được đánh luống để trồng rau lang.
Trước mặt nhà lúc đầu chỉ là bãi đất hoang, cây cối lơ thơ, cho tới khoảng năm 1964 mới bắt đầu khởi công xây lao xá. Thời gian này mẹ mở quán tạp hóa, chủ yếu bán hàng cho các công nhân xây cất công trình lao xá, hằng ngày các công nhân ghé mua bánh, nước, thuốc lá hoặc nốc vội một ly rượu đế trong giờ giải lao; có một bác cai có thói quen rất lạ là mỗi ngày ghé uống một chai bia con cọp với mấy muỗng đường và chỉ cầm chai uống chứ không bao giờ rót ra ly. Trò chơi của tôi lúc này là sắp những chai nước ngọt trên nền nhà và lăn tới, lăn lui cả buổi, tưởng tượng như đang lái một chiếc xe tải. Thỉnh thoảng, sau bữa ăn tối, mấy cha con dạo chơi thám hiểm những căn nhà đã xây xong trong công trình lao xá, nằm chơi hóng mát trên những bục xi măng của nhà giam tập thể. Sau một thời gian thì không còn thấy công nhân xây dựng nữa, trung tâm thấy để trống, có vẻ như công việc chưa hoàn tất nhưng bị đình chỉ. Một thời gian sau thì thấy lính tráng, xe cộ kéo tới và lao xá trở thành hậu cứ của trung đoàn 53BB, ngày ngày có các buổi thao luyện và những hồi kèn trompette vang dội. Có lẽ vì tọa lạc chính diện với lao xá, hay trại lính lúc đó, có nhiều điều bất tiện nên ngõ vào nhà được từ từ chuyển qua phía con đường đi ra biển.
Sau khi cậu Trực lập gia đình, cậu cũng ở nhà này, căn phòng tôi thường nằm ngủ được ngăn ra dành riêng cho gia đình cậu, giường ngủ của tôi lúc ấy chuyển thành cái ghế bố, được kê lên mỗi đêm trên hàng hiên phía sau, gần lối đi vào nhà bếp. Có lẽ có thêm gia đình cậu nên mình mới chuyển tới chỗ khác để có chỗ cho cậu dựng được một căn nhà riêng bên cạnh.
(Tuyết : Hình như căn nhà mà Thạch mô tả trên đây là ngôi nhà thứ hai. Ngôi nhà đầu tiên nằm ở sau ngôi nhà này. Mặt tiền nhà quay về phía đường đất đi vào nhà thờ Vinh Thuỷ, mái lợp bằng tranh. Ở bên hông nhà có một bụi hoa trúc đào. Lúc ở nhà này không biết được bao lâu, mẹ mướn bà Liễu, có hai con gái là chị Hương và Vân, đến giúp công việc nhà. Chính trong nhà này mà chị bị mẹ cấm nhảy dây. Cũng ở nhà này Sơn bị cậu đánh sưng cả cánh tay vì tội thò tay vào lu nghịch nước thì phải. Sau này khi dời nhà ra phía trước, cha mẹ để lại cho một gia đình công chức có người con trai tên Hoè cùng lớp với chị. Anh này bị chết đuối trong hồ Vinh Thủy đang lúc cùng với các bạn, sau dịp cắm trại trong trường, tháo gỡ một cái cầu bắc ở dưới hồ. Có lẽ mình dời nhà ra gần đường cái để tiện việc buôn cây bán lá.)
Nhớ lúc mới ở căn nhà đó, tôi thường quanh quẩn ra vườn búng mấy trái na xem đã chín chưa, có lúc thấy mẹ hái vào mỗi lần cả 2, 3 thúng nhưng có điều bị rầy bám nhiều lắm, không hiểu tại sao mà sau đó thì mấy cây na bị đốn hết nên chỉ còn lại mảnh đất trống. Chung quanh vườn thì 2 phía là hàng rào cây xương rồng, mặt giáp đường ra biển có thêm mấy cây găng (còn gọi là cây keo), trái từa tựa trái me, mỗi mắt có một hột được bọc bằng một lớp cơm trắng và hơi xốp, ăn lớp cơm này thì hơi ngọt pha một ít vị chát. Trái găng lủng lẳng mời gọi thế đấy mà cứ bị cấm ăn, có lần chị Tuyết hái cho tôi ăn và dặn không được mách mẹ, thế mà sau khi ăn xong tôi lại đi khai tuốt hết, làm chị Tuyết bị mẹ la nên bực tôi vô cùng.
Căn nhà lúc đầu có vách làm bằng đất sét trộn rơm, bên ngoài có một lớp áo mỏng bằng ciment, có đôi chỗ lớp áo đã bị bong đi mất, là địa điểm cho tôi say mê theo dõi mấy con tò vò khoét từng lỗ trên tường, lấy đất sét để xây tổ. Từ từ, vách tường đất sét được đổi qua xây bằng gạch. Có lẽ vì tọa lạc trên vùng đất hơi trũng nên nhà được xây cao hơn mặt đất khoảng nửa thước, chung quanh có hàng hiên khá rộng. Tôi thích nhất hàng hiên này vì đây là chỗ cho chúng tôi chơi đùa mà không bị mưa, nắng; nào chơi ô, chơi cò cò, bò lê lết, trò cá sấu lên bờ và buổi tối còn có thể giăng ghế bố nằm ngủ nữa. (Tuyết: cũng nơi hàng hiên này mà những lúc rảnh rỗi sau trưa, hiu hiu gió mát thỉnh thoảng mẹ ngồi bắt chí cho chị. Cũng là nơi lúc còn ở nhà chị hay ngồi đan lưới.) Nhớ dịp đám cưới cậu Trực, có buổi tối, tôi và anh Sơn nằm nơi đây nghe cậu Phan lấy cửa sổ nhà anh Dân làm đích để giải thích nguyên tắc khẩu M-79. (Sơn: Nhân dịp đám cưới cậu Trực, cậu Phan từ Ban mê thuột xuống đi đám, anh mới có dịp gặp và làm quen với cậu Phan. Đó là buổi tối trước ngày cậu Phan ra về. Anh còn nhớ như in buổi nói chuyện với cậu Phan vào buổi tối hôm đó và nghe cậu ấy kể chuyện bắn súng M79, không ngờ Thạch cũng ngồi bên cạnh hóng chuyện và còn nhớ. Chưa gặp cậu Phan lần nào, nhưng thấy cậu hiền hiền, ít nói và có vẻ gần gũi, nên anh đến làm quen bắt chuyện. Nhờ đó mà tình cậu cháu thân thiết hơn. Sau đó vài năm khi anh đang học tại Tiểu chủng viện Chúa Chiên Lành Đà lạt, hình như là vào năm 1971, trong một dịp nghỉ giữa khóa, anh tự thân mua vé may bay lên Ban mê thuột thăm cậu và làm quen với toàn gia đình cậu mự Phan. Lúc này, Hùng, Dũng, Dung, Hòa còn nhỏ xíu. Đó là một chuyến phiêu lưu thật đáng nhớ).
Căn nhà bếp nằm về hướng nhà bà Thảo (tức là hướng đi lên tỉnh), lúc đầu liền với căn nhà nhưng sau này được xây lại thụt ra sau một tí nên khoảng nền nhà bếp cũ trở thành sân chơi cho mấy trò cần nhiều chỗ hơn : đẩy xe, lắc lư xoay vòng trong cái chảo lớn, nhảy nhún trên cái xăm xe to tổ bố do cậu mang về. Cùng lúc di chuyển nhà bếp thì có thêm nhà tiêu, nhà tắm và bồn chứa nước mưa, trên bồn nước mưa này là chỗ sinh hoạt rất thú vị vào những đêm trăng thanh gió mát, đứng ở đây có thể với tay hái chùm ruột trên cây sau nhà tắm. Sát bên nhà bếp, ngay bên giếng nước còn có một cây chùm ruột khác nữa.
Khi nhà chưa nuôi heo thì dường như vườn chẳng trồng gì cả, chung quanh vẫn là hàng rào xương rồng để mỗi chiều tôi lang thang ra đó tìm bắt chuồn chuồn, châu chấu. Sau này, chuồng heo được dựng lên về phía góc vườn, cách nhà bếp và giếng nước khoảng 10 thước, khoảng trống này sau đó có thêm giàn bầu, giàn mướp và trồng cà, vườn cũng bắt đầu được đánh luống để trồng rau lang.
Trước mặt nhà lúc đầu chỉ là bãi đất hoang, cây cối lơ thơ, cho tới khoảng năm 1964 mới bắt đầu khởi công xây lao xá. Thời gian này mẹ mở quán tạp hóa, chủ yếu bán hàng cho các công nhân xây cất công trình lao xá, hằng ngày các công nhân ghé mua bánh, nước, thuốc lá hoặc nốc vội một ly rượu đế trong giờ giải lao; có một bác cai có thói quen rất lạ là mỗi ngày ghé uống một chai bia con cọp với mấy muỗng đường và chỉ cầm chai uống chứ không bao giờ rót ra ly. Trò chơi của tôi lúc này là sắp những chai nước ngọt trên nền nhà và lăn tới, lăn lui cả buổi, tưởng tượng như đang lái một chiếc xe tải. Thỉnh thoảng, sau bữa ăn tối, mấy cha con dạo chơi thám hiểm những căn nhà đã xây xong trong công trình lao xá, nằm chơi hóng mát trên những bục xi măng của nhà giam tập thể. Sau một thời gian thì không còn thấy công nhân xây dựng nữa, trung tâm thấy để trống, có vẻ như công việc chưa hoàn tất nhưng bị đình chỉ. Một thời gian sau thì thấy lính tráng, xe cộ kéo tới và lao xá trở thành hậu cứ của trung đoàn 53BB, ngày ngày có các buổi thao luyện và những hồi kèn trompette vang dội. Có lẽ vì tọa lạc chính diện với lao xá, hay trại lính lúc đó, có nhiều điều bất tiện nên ngõ vào nhà được từ từ chuyển qua phía con đường đi ra biển.
Sau khi cậu Trực lập gia đình, cậu cũng ở nhà này, căn phòng tôi thường nằm ngủ được ngăn ra dành riêng cho gia đình cậu, giường ngủ của tôi lúc ấy chuyển thành cái ghế bố, được kê lên mỗi đêm trên hàng hiên phía sau, gần lối đi vào nhà bếp. Có lẽ có thêm gia đình cậu nên mình mới chuyển tới chỗ khác để có chỗ cho cậu dựng được một căn nhà riêng bên cạnh.
(Tuyết : Hình như căn nhà mà Thạch mô tả trên đây là ngôi nhà thứ hai. Ngôi nhà đầu tiên nằm ở sau ngôi nhà này. Mặt tiền nhà quay về phía đường đất đi vào nhà thờ Vinh Thuỷ, mái lợp bằng tranh. Ở bên hông nhà có một bụi hoa trúc đào. Lúc ở nhà này không biết được bao lâu, mẹ mướn bà Liễu, có hai con gái là chị Hương và Vân, đến giúp công việc nhà. Chính trong nhà này mà chị bị mẹ cấm nhảy dây. Cũng ở nhà này Sơn bị cậu đánh sưng cả cánh tay vì tội thò tay vào lu nghịch nước thì phải. Sau này khi dời nhà ra phía trước, cha mẹ để lại cho một gia đình công chức có người con trai tên Hoè cùng lớp với chị. Anh này bị chết đuối trong hồ Vinh Thủy đang lúc cùng với các bạn, sau dịp cắm trại trong trường, tháo gỡ một cái cầu bắc ở dưới hồ. Có lẽ mình dời nhà ra gần đường cái để tiện việc buôn cây bán lá.)
Vũng lầy
Một ngày vào khoảng đầu năm 1963, cái thời cha đi dạy học ở BìnhChính (Phan Rang).
Hôm đó 3 cha con (Sơn, Thạch) ra bến xe đò để về nhà, ngồi trên xe đã khá lâu nhưng còn quá ít khách nên xe vẫn chưa chạy. Thấy hơi mắc tiểu nên tôi xin phép xuống xe đi tìm chỗ giải quyết, anh Sơn cũng theo gót.
Nhãn quan tuổi thơ không nhìn được bao quát nên cái bến xe nó rộng lớn làm sao ấy! Hai anh em vội vã chạy ra xa, tận gần bờ rào để kiếm được chỗ khuất. Đang chạy ngon trớn sao tự nhiên cái chân dính cứng ngắc dưới đất, không làm sao nhấc lên nổi : kết quả là 2 thằng ngã nhào vào vũng bùn, rất may là vũng bùn bắt đầu khô nên không có nước, chỉ bị bùn dính dơ hết quần áo. Số là vũng bùn không có nước, mặt lang láng nên bước nhào lên mà không nghĩ nó dính dẻo quẹo như thế.
Không còn nhớ cú ngã vào vũng bùn có làm “tịt nòng” không nhưng chỉ còn nhớ 2 anh em quay trở lại xe làm cha phải đi xuống tìm cách lau chùi sơ cho bớt dính bùn trước khi leo lên xe về Phan Thiết.
(Sơn : Anh cũng còn nhớ câu chuyện này, đó là vào cuối năm Âm lịch 1962, 3 cha con chờ xe để về ăn Tết)
Hôm đó 3 cha con (Sơn, Thạch) ra bến xe đò để về nhà, ngồi trên xe đã khá lâu nhưng còn quá ít khách nên xe vẫn chưa chạy. Thấy hơi mắc tiểu nên tôi xin phép xuống xe đi tìm chỗ giải quyết, anh Sơn cũng theo gót.
Nhãn quan tuổi thơ không nhìn được bao quát nên cái bến xe nó rộng lớn làm sao ấy! Hai anh em vội vã chạy ra xa, tận gần bờ rào để kiếm được chỗ khuất. Đang chạy ngon trớn sao tự nhiên cái chân dính cứng ngắc dưới đất, không làm sao nhấc lên nổi : kết quả là 2 thằng ngã nhào vào vũng bùn, rất may là vũng bùn bắt đầu khô nên không có nước, chỉ bị bùn dính dơ hết quần áo. Số là vũng bùn không có nước, mặt lang láng nên bước nhào lên mà không nghĩ nó dính dẻo quẹo như thế.
Không còn nhớ cú ngã vào vũng bùn có làm “tịt nòng” không nhưng chỉ còn nhớ 2 anh em quay trở lại xe làm cha phải đi xuống tìm cách lau chùi sơ cho bớt dính bùn trước khi leo lên xe về Phan Thiết.
(Sơn : Anh cũng còn nhớ câu chuyện này, đó là vào cuối năm Âm lịch 1962, 3 cha con chờ xe để về ăn Tết)
Nước mắt yêu thương
Lúc hai đứa con còn nhỏ, chưa đến tuổi đi học, vợ chồng tôi có thói quen đi chơi, thăm viếng bạn bè vào cuối ngày, thường về lại nhà khá trễ nên khi về đến nhà thì hai đứa đều đã thiu thiu ngủ trên xe.
Muốn để cho con được ngon giấc nên tôi thường nhẹ nhàng ẵm từng đứa vào nhà, đặt vào giường cho chúng ngủ tiếp tục. Có một ngày con gái tôi thú nhận là “chỉ giả bộ ngủ vì thích được ba ẵm vào nhà”, chuyện này làm sống dậy trong tôi một kỷ niệm ngày xưa...
Một buổi trưa tại Bình-chính (Phan-rang), lúc đó cha đang dạy học giúp cha Báu, vào năm 1962 hoặc 1963 gì đó, tôi là một đứa nhỏ nên phải đi ngủ trưa như mọi đứa nhỏ khác. Nói là ngủ trưa nhưng chắc cũng đã bắt đầu buổi chiều vì tôi chỉ nằm nhà có một mình : cha lên lớp dạy và anh Sơn cũng đi học. Tỉnh lại sau giấc ngủ trưa nhưng còn nằm lơ mơ thì cha đi về nhà nhân lúc nghỉ giải lao giữa buổi (lớp học chỉ cách đó vài chục thước); tôi vẫn nhắm mắt vờ như đang say ngủ, không hiểu tại sao cha lại tới ẵm tôi lên vừa đi qua đi lại vừa hát...
« Ôi mẫu thân con trông cậy suốt đời í a hãy xót thương, vì ngoài Mẹ ra thì nào con biết trông ai... » điệu nhạc bài hát cha ru đánh động lòng tôi khiến tôi tự nhiên chảy nước mắt, làm cho cha phải hỏi tôi tại sao lại khóc. Không biết giải thích thế nào nên tôi phải phịa đại ra cho yên chuyện : vì tôi nhớ mẹ.
Tuổi đời chồng chất nhưng thỉnh thoảng, trong một khung cảnh nào đó, nghe một ca đoàn trình bày một bài nhạc sống động, tự nhiên lòng tôi cứ rung lên và nước mắt trào ra. Mới đây nhất, khi nhìn cha mẹ, anh chị em say sưa hát “Khi hoa nở miền Cana” trong ngày kỷ niệm 10 năm thành hôn của tôi nơi quê nhà...
Nguyện xin Giêsu thương mến cho duyên tình mãi nở hoa
Nguyện xin Giêsu đến trong nhà cho đời hòa tiếng ca
tôi không thể nào cầm được những giọt nước mắt. Khung cảnh gia đình, dòng nhạc và tâm tình của anh chị em cuồn cuộn trong tôi, cứ thế dâng trào qua những giọt nước mắt.
Muốn để cho con được ngon giấc nên tôi thường nhẹ nhàng ẵm từng đứa vào nhà, đặt vào giường cho chúng ngủ tiếp tục. Có một ngày con gái tôi thú nhận là “chỉ giả bộ ngủ vì thích được ba ẵm vào nhà”, chuyện này làm sống dậy trong tôi một kỷ niệm ngày xưa...
Một buổi trưa tại Bình-chính (Phan-rang), lúc đó cha đang dạy học giúp cha Báu, vào năm 1962 hoặc 1963 gì đó, tôi là một đứa nhỏ nên phải đi ngủ trưa như mọi đứa nhỏ khác. Nói là ngủ trưa nhưng chắc cũng đã bắt đầu buổi chiều vì tôi chỉ nằm nhà có một mình : cha lên lớp dạy và anh Sơn cũng đi học. Tỉnh lại sau giấc ngủ trưa nhưng còn nằm lơ mơ thì cha đi về nhà nhân lúc nghỉ giải lao giữa buổi (lớp học chỉ cách đó vài chục thước); tôi vẫn nhắm mắt vờ như đang say ngủ, không hiểu tại sao cha lại tới ẵm tôi lên vừa đi qua đi lại vừa hát...
« Ôi mẫu thân con trông cậy suốt đời í a hãy xót thương, vì ngoài Mẹ ra thì nào con biết trông ai... » điệu nhạc bài hát cha ru đánh động lòng tôi khiến tôi tự nhiên chảy nước mắt, làm cho cha phải hỏi tôi tại sao lại khóc. Không biết giải thích thế nào nên tôi phải phịa đại ra cho yên chuyện : vì tôi nhớ mẹ.
Tuổi đời chồng chất nhưng thỉnh thoảng, trong một khung cảnh nào đó, nghe một ca đoàn trình bày một bài nhạc sống động, tự nhiên lòng tôi cứ rung lên và nước mắt trào ra. Mới đây nhất, khi nhìn cha mẹ, anh chị em say sưa hát “Khi hoa nở miền Cana” trong ngày kỷ niệm 10 năm thành hôn của tôi nơi quê nhà...
Nguyện xin Giêsu thương mến cho duyên tình mãi nở hoa
Nguyện xin Giêsu đến trong nhà cho đời hòa tiếng ca
tôi không thể nào cầm được những giọt nước mắt. Khung cảnh gia đình, dòng nhạc và tâm tình của anh chị em cuồn cuộn trong tôi, cứ thế dâng trào qua những giọt nước mắt.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)