… không giống lông cũng giống cánh.
Cha rất giỏi về nhạc và thể thao. Khi còn nhỏ, trong làng, cha với các bác là những cầu thủ bóng tròn sáng giá. Chú Bích kể lại rằng cha với các bác dẫn banh đi khắp sân, vượt qua hàng phòng vệ, có khi rách cả áo mà người và banh vẫn lọt qua dễ dàng. Trong các trận đấu, mỗi lần anh em trong nhà đón được banh thì niềm hy vọng làm bàn lại dậy lên. Vào thời buổi mà tân nhạc du nhập từ Tây phương còn lạ lẫm mới mẻ, vì trong xã hội vẫn còn thịnh hành loại nhạc ngũ cung của Trung Hoa, thì cha đã biết tìm hiểu nghiên cứu để có những kiến thức căn bản về nhạc mới này. Không những chỉ biết nhạc lý mà cha còn chơi được một số nhạc cụ khác nữa như vĩ cầm, phong cầm … Còn mẹ là giọng hát hay nổi tiếng của xứ. Vì thế cho nên con cái sinh ra ai cũng có cái máu âm nhạc và thể thao tự nhiên trong người.
Về âm nhạc thì anh nhớ là mỗi tối, sau khi ăn cơm và tắm rửa xong rồi đọc kinh, là được cha tập cho một vài câu trong bài hát. Hai chị em ngồi trên giường, cha hát, rồi mình hát theo. Những bài như “Anh nghe chăng cung kèn rạng đông …” hay là “Đồng một lòng chúng ta cố chèo …” đã đi vào giấc ngủ và in hằn trong ký ức tuổi thơ. Độc đáo nhất là bài “Vừng dương đang gieo vàng trên sông núi …”. Sau này lớn lên, có những điều quên hết, nhưng những bài hát đã được cha tập cho vào lúc 3 hay 4 tuổi thì vẫn còn nhớ. Số bài hát tăng dần và biến đổi theo thời gian. Khi trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy xuất bản, ít người ở ngoài biết đến nó, vì trường ca này thuộc loại nhạc khó thưởng thức. Cha đã đi Sài gòn mua về và hát ở nhà, nên con cái đứa nào cũng hát theo và thuộc lòng nhiều đoạn.
(Thạch : Có một ngày, hình như chị Tuyết và anh Sơn còn ở nhà, cha mua về một cuốn sách hát có tên là KH, của Vinh Hạnh, bìa có hình nhiều cái bong bóng đủ màu, và cha bắt đầu tập cho mấy chị em hát. Có những bài như “Nhà em có một vườn rau”, “Đại bác bắn làm sao”, “Cái bi dòn dòn”,…
Và hình như sau đó không lâu thì cha mua về một cái đàn mandoline, ba chị em thay nhau tập gảy đàn nhưng sau một thời gian thì chị Tuyết và anh Sơn có vẻ không hứng thú lắm, tôi thì mày mò giỏi hơn nên sau một thời gian thì bắt đầu đánh được theo những bài mình biết hát.
Buổi tối cha thường nằm trên giường chơi trò kẹp mấy đứa con : cha nằm chống chân lên cho có chỗ hổng, mấy đứa rán chui qua nhưng đừng để bị cha kẹp lại. Cũng những buổi tối như thế, cha đánh đàn và hát mấy bài như “Hòn vọng phu”, “Hà nhật quân tái lai”, “Trời hồng hồng, sáng trong trong”, “Giáo đường in bóng”
Thỉnh thoảng cha lấy xe đạp chở lên vườn hoa chơi, nơi ấy hình như cũng chỉ có mấy cây cầu tuột nhưng vẫn thích đi vì có lúc được ăn một cái kẹo bạc hà the the. Đi xe thì anh Sơn ngồi phía sau, tôi phải ngồi trên ghi-đông, quay mặt về phía sau, mới đầu thì sợ lắm nhưng từ từ rồi quen….) (Chị Tuyết: Có một lần sau bữa cơm chiều cha chở ba chị em Tuyết Sơn Thạch lên tỉnh chơi bằng xe đạp. Măt trời đã nhắm mắt đi ngủ nhường chỗ cho các vì sao. Hai bên đường không có cột đèn chiếu sáng nên cha phải thận trọng lắm để tránh những ổ gà trên mặt đường. Thạch thì ngồi trên ghi đông xe. Sơn nếu không ở phía sau với chị Tuyết thì thu gọn ngườiở phía trước giữa cái yên và thân xe đạp. Bốn cha con đang lò dò trong bóng tối như vậy thì chợt có tiếng xe gắn máy (thời ấy chưa có Honda lịch sự như bây giờ) trờ tới phía sau, bóng đèn vàng vọt chiếu sáng trên mặt đường. Thế là cha vội vàng tăng tốc chay đua với xe gắn máy. Ba chị em khoái chí reo lên hào hứng với cuộc đua tài bất ngờ không ngang sức đó. Xe đạp của bốn cha con, dưới tay lái rành nghề và đôi chân mạnh mẽ của cha vọt nhanh lên như gió đồng thời lúc lắc và chao đảo không ngừng theo nhịp vận chuyển tốc hành của đôi chân “lực sĩ.”. Thạch sợ là phải thôi, và phải bám cho thật chặt kẻo mà văng xuống đất ! Còn cha vẫn bình tĩnh tập trung và tiếp tục lèo lái một cách tài tình. Cha tranh thủ ánh sáng của xe gắn máy để lao nhanh một đoạn đường, cho đến khi bị xe ấy qua mặt và bỏ lại sau lưng thì mới trở lại vận tốc bình thường.
Sau đó thì hình như lên tỉnh được ăn cà rem thì phải ! Hoan hô cha mình !!! Ôi những ngày xưa thân ái !!!)
(Trinh : Đến thời của em thì 4 cha con (Phong , Trinh , Nguyên với cha) không đi trên chiếc xe đạp nữa mà trên chiếc xe 67 (honda đen) thường thường chủ nhật nào cha cũng chở đi chơi , hay đi với chú Bích khi thì đi lên Phú Long xem ruộng lúa, khi thì đi Sở Muối , khi thì đi chùa Giác Hoa. Em thường ngồi phía trước bình xăng , hai tay chống lên bình xăng , lâu lâu bị trật tay cha lại tưởng em ngủ gục. Có lần cha chở 3 anh em đi mua đậu xanh và nếp cho mẹ, vào cửa hàng tạp hóa có cái cân bàn cha kêu lên cân lần lượt anh Phong nặng 20 kg , Trinh nặng 15 kg và Nguyên cũng nặng 15 kg, đó là lần đầu tiên em thấy cái cân bàn vì trước đây chỉ thấy cái cân xách tay.)
Những bài hát thì được cha mẹ tập cho, nhưng còn giọng hát thì không ai tập tành gì cả, vì nó tự nhiên. Giọng của các anh chị em trong nhà không phải là một giọng mạnh, nhưng nó êm và với một chút luyện tập thì nó có thể luyến láy và rung ở cuối như những ca sĩ chuyên nghiệp. Anh đã có duyên hát hò với sân khấu từ lúc học lớp ba, đó là vào năm 1961, Tết Trung Thu. Trường tổ chức Văn Nghệ nên anh đã xung phong lên đơn ca một bài. Anh quên tên bài hát nhưng trong đó có câu : “Đêm nay trăng sáng xuống làng, em ra trước cửa em ngồi đón trăng …”. Anh đã hát thử cho thầy giáo và ban tổ chức, và ai cũng thấy hay và thích lắm. Anh cũng hát thử trong lớp, trước mặt các bạn, và hoàn toàn bình thường. Nhưng đến buổi tối trình diễn thì bị trục trặc kỹ thuật vì chạy chơi ngoài gió suốt buổi chiều anh bị cảm, khan tiếng, giọng tịt cứng nói không ra tiếng luôn. Nói còn không được thì hát hò làm sao. Lên cầm micro ò e hai ba câu rồi đi xuống.
Đến khi vô TCV thì các bạn trong lớp làm áp lực để anh ghi tên tuyển lựa ca sĩ, anh hát bài “Đã bao năm rồi không về miền Trung thăm người em …” và đứng thứ hai. Điều thú vị mà anh khám phá ra sau này trong những lần về thăm nhà có dịp hát karaoke, đó là giọng của anh với giọng của Phong giống nhau cách kỳ lạ. Âm sắc và âm vực hoàn toàn như một, đến nỗi trong một bài hát hai người đổi micro cho nhau, người khác không nhận ra. Và Phong cũng đã từng tham dự thi hát ở TCV Thủ đức với bài “Hai mùa mưa” mà anh không nhớ là Phong đã được thứ mấy.
Tiếp tục với truyền thống hát hò và trình diễn của gia đình sau này có Nguyên. Giọng Nguyên dường như khỏe hơn và cách hát cũng linh động hơn. Các em Thạch, Vân, Trinh, Giang đều là những người hát giỏi vì anh đã có dịp nghe hoặc hát chung, riêng Quang và Thủy thì anh chưa có dịp thưởng thức tài năng !
(Giang: Trong vai trò người đệm đàn, em không thấy ai hát hay bằng anh Nguyên cả, vừa truyền cảm vừa say mê đúng chất nghệ sĩ, luôn trung thành với phong cách uyển chuyển khoan thai, đệm đờn cho anh Nguyên hát là đã nhất. Một giọng ca mới nổi là Vũ, tuổi nhỏ ít nghe Vũ hát nhưng từ khi có con thì hát rất khỏe. Chị Trinh có giọng tốt nhưng em thấy hát không tập trung, đặc biệt với những bài dài. Bản thân em có dịp hát ở cuộc thi phong trào Sở Y Tế mới biết mình sở hữu một thanh quản không tốt, giọng hát yếu. Dù sao thì với vốn liếng trời cho, mấy anh chị em trong nhà mình chẳng có tập luyện gì cũng đều diễn văn nghệ được hết. Thật may mắn vì âm nhạc là niềm vui của em, chứ không phải cờ bạc hay một thứ gì khác, bởi vậy anh Sơn tưởng tượng em đã từng đau khổ như thế nào khi có người muốn ngăn cản và xem văn nghệ là mất thời gian, là vô ích.)
(Phong: Lúc ở Phan Thiết, có dịp nói chuyện với cha Hiên, là bạn học cùng lớp với cha mình lúc ở chủng viện, em mới biết đến tài đá banh của cha. Các anh em trai mình ai cũng được hưởng gien di truyền của cha về thể thao. Không xuất sắc và có đủ điều kiện để theo con đường chuyên nghiệp nhưng đủ để chơi nghiệp dư và rèn luyện thân thể. Từ lúc học lớp 6, lớp 7 em đã được vào đội tuyển bóng rổ của chủng viện, đã từng thi đấu với đội tuyển của trường Lasan. Sau giải phóng không có điều kiện chơi bóng rổ nữa, em chơi bóng chuyền. Khi đi học, vào đội tuyển bóng chuyền của trường, đi thi đấu với các đội của trường khác trong các dịp hội thể thao. Ra làm việc cũng vào đội bóng chuyền của Công ty để tham gia các giải phong trào. Bóng bàn, cầu lông, quần vợt môn nào cũng tập chơi và đều chơi được. Điều quan trọng là mình thấy ham thích cộng với chút năng khiếu có sẵn là mình tập chơi được dễ dàng không phải tốn thời gian đi học.
Nói về máu âm nhạc thì đúng là anh chị em trong nhà ai cũng có, đặc biệt là các anh em trai. Trong 6 anh em trai, ngoài Vũ ra, ai cũng có thể chơi được ít nhất một loại nhạc cụ đạt trình độ có thể tự đệm cho mình, cho người khác hát. Không biết các anh em khác có phải theo học thầy hay không, chứ em thì chỉ tự học. Năm học lớp 7 là đã rất thích đánh đàn ghi ta nhưng không có đàn nên phải mượn đàn của đứa bạn để tập chơi từ đó. Em cũng đã có tập chơi mandoline, vĩ cầm, phong cầm, khẩu cầm nhung chỉ ở mức độ bập bẹ. Nguyên rất tài: ngoài guitar còn có thể chơi tốt kèn trompet, accordéon, vĩ cầm. Về giọng hát thì đúng như Giang nói, nhà mình không có được giọng hát khỏe, chỉ đẹp, trầm ấm, nghe rất truyền cảm. Giọng hát này chỉ đủ để thỏa mãn niềm vui cho mình và cho những người yêu thích âm nhạc chứ chưa làm ca sĩ được. Năm 17,18 tuổi khi được xem chương trình ca nhạc của đoàn Quê hương (do Duy Khánh thành lập và là ca sĩ chính), em mê quá chừng và ước mơ mình cũng được biểu diễn trên sân khấu. Khi đi học ở chủng viện các anh lớn thấy em có giọng hát hay nên tập cho hát để thi ca sĩ chứ em không chủ động. Lúc đầu tập bài Roméo et Juliette hát bằng tiếng Pháp nhưng sau không hiểu sao lại đổi thành bài Hai mùa mưa. Lần đó em được đứng thứ nhì. Giọng hát mình ngày càng điêu luyện do mình được hát nhiều trong ca đoàn. Ba năm trong chủng viện em hát bè soprano. Sau giải phóng em hát bè bass ở ca đoàn lớn, phụ trách tập hát cho ca đoàn nhỏ. Đi học thì phụ trách văn nghệ của lớp, tập hát cho lớp trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tập hát cho đội văn nghệ của lớp để tham gia hội diễn. Khi đi làm cũng vào đội văn nghệ của Công ty, tham gia hội diễn nghệ thuật quần chúng, đi biểu diễn một vài nơi trong Tỉnh. Vì thiếu tự tin nên em rất ít khi đơn ca, chỉ hát hợp ca và đánh đàn guitar bass trong ban nhạc. Mỗi lần về nhà dịp nghỉ hè, nghỉ tết lại thấy anh Sơn, anh Thạch ôm đàn hát đủ thứ bài. Em nhớ anh Sơn hay hát các bài như: Coupable, Cuộc tình ngày đó...Hai năm tình lận đận, anh Thạch thì hay hát bài: The house, Gửi hồn trong băng giá...., các bài hát của Nguyễn Trung Cang...Có một lần ở Đắc Min, Sơn-Thạch-Phong đã tập một số bài và đi trình tấu tam ca ở nhà ông Thư.)
(Sơn: Anh cũng không quên được những hát hò vui đùa giữa 3 anh em trên căn gác ở Xã Đoài - Đức Minh, và những lần đi “trình diễn” trên nhà ông bà Thư vào các ngày chúa nhật dịp Phong về nghỉ hè. Bài hát đặc biệt nhất mà 3 cô gái con ông Thư rất thích, đó là bài Quê Hương: “thuở còn thơ, ngày 2 buổi đến trường …” mà bây giờ anh chỉ còn nhớ lõm bõm vài chữ)
(Chị Tuyết : Liên quan đến chuyện ca hát chị còn nhớ hai kỷ niệm không mấy phấn khởi liên quan đến cha :
Một là bị chê !
Đó là lúc cha còn phụ trách ca đoàn ở Vinh Thuỷ. Khoảng tám chín tuổi gì đó, chị cũng được đi theo tập hát với cha. Trong giờ tập hát, dưới bóng đèn dầu lờ mờ trong nhà xứ, cha đề nghị mỗi ca viên hát lên một đoạn nhạc để xem trúng sai hoặc hay dở như thế nào. Đến phiên chị, hát xong, cha chê là hát dở quá ! Chị nhớ chị Huy có giọng hát hay. Thật sự lúc ấy cảm thức về âm nhạc của chị chưa phát triển nên hát dở là phải lắm ! Có lẽ vì thiếu động lực tâm lý nên lúc còn ở nhà chị không tha thiết lắm đến việc ca hát mặc dù vẫn thuộc các bản nhạc mà cha thường hát. Sáng sớm thức dậy là đã nghe cha hát rồi!
Sau này khi vào Dòng. Trong giờ học nhạc lý. Chị rất thích môn xướng âm và đánh nhịp. Biết mình có khiếu về nhạc, từ đó cảm thức về âm nhạc nơi con mới bắt đầu phát triển. Rất thích chơi đàn nhưng không có điều kiện để tập luyện và phát triển như phái nam nên đành từ bỏ ước mơ ! Hơn nữa, thanh quản của chị yếu nên rất dễ đau và mất tiếng. Tập hát thì được nhưng đến ngày lễ thì khản tịt cả cổ không hát được nữa. Chán ơi là chán ! Rồi đến lúc nhà dòng cho đi học nhạc vào năm 1982 ở Sài Gòn thì lại bị phát bệnh basodow, bị viêm họng thường xuyên nên không thu thập đươc chi nhiều. Phải chăng có nợ mà chẳng được nên duyên !
Hai là bị cấm !
Bắt đầu cảm được cái đẹp trong âm nhạc. Mặc dù đi tu chị vẫn thích những bản tình ca. Chị bắt đầu chép bài hát có nốt nhạc và vẽ vời mơ mộng ! Về nhà, cha nghe, liền cấm không được hát. Cụt hứng ! Cha có biết đâu, hát một bản tình ca vì cảm cái đẹp nơi giòng nhạc và ý thơ chứ đâu phải vì mơ mộng tình cảm . . . theo anh chàng nào ! Thì thôi vậy. Nhưng cho đến bây giờ, hình như một ít những bản tình ca chép tay ngày nào còn trẻ vẫn còn đâu dưới đáy rương ! (Sơn: như vậy là chị bị xui. Em cũng bị cha cấm, và thường xuyên nhắc nhở là lo học hành, nhưng cha đâu có ở bên cạnh mà canh mình mãi được, nên hễ có bài nào hay là em kẻ nhạc chép lại để dành làm thành sưu tập. Em có một tập nhạc dày, chép tay rất công phu trong suốt thời gian trung học, mà vì vượt biên nên đành bỏ lại, rồi mất luôn. Một bài hát có nhạc điệu lôi cuốn thì tự nhiên mình thích, bất kể lời nó ra sao. Em nhớ sau này khi Thạch bắt đầu đi học ở TCV Sao biển, cũng bắt đầu chép và sưu tầm nhạc như em vây.)
Bù lại chị để hết tâm hồn vào việc hát Thánh ca. Giọng ca không khoẻ nhưng rất truyền cảm, có hồn, chị thường tập hát và điều khiển ca đoàn. Đó là công việc mà chị làm không biết mệt và đều để lại những ấn tượng tốt đẹp ở những nơi đã phục vụ.
Chị đề nghị ngày mọi người sum họp để mừng lễ cha mẹ nên tổ chức những buổi ca nhạc và hoà tấu cây nhà lá vườn. Cây violon của cha đã bị thất lạc mất rồi, chắc phải mượn hoặc mướn cho cha cây khác để cha làm sống lại những ngày còn xuân.)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
22/4/10
Kéo cưa
Kéo cưa lừa xẻ, ông thợ nào khỏe, thì ăn cơm vua, ông thợ nào thua, thì về bú mẹ
Kéo cưa kéo kít, làm ít ăn nhiều, nằm đâu ngủ đấy, nó lấy mất cưa, lấy gì mà kéo
Trong thời buổi khó khăn về kinh tế, khan hiếm thực phẩm, và máy móc hư hỏng không có phụ tùng để sửa chữa thì mọi công việc đều chủ yếu là dùng sức người, làm bằng tay. Một trong những công việc này đó là đốn cây xẻ gỗ. Vùng Bình Dương là nơi rừng núi có nhiều cây tốt mà cũng có đất ruộng đất rẫy, nên cậu Hải đã đưa gia đình xuống làm ăn ở Bến Lội, Thị Tính. Dòng đời đưa đẩy mình với Thạch đã đến ở với cậu trong vòng hơn 6 tháng, và đã được cậu truyền nghề cưa gỗ.
Đây là một công việc đòi hỏi sức lực bền bỉ, và phải có bí truyền để biết mài cưa và mở lưỡi. Không biết cách bảo quản cưa thì dầu khỏe mạnh bao nhiêu cũng không thể làm ăn trong nghề này được. Trong những lần theo cậu Hải đi cưa, cậu đã truyền dạy kỹ thuật mài cưa và bẻ lưỡi cưa cho 2 anh em, nên sau vài lần đi chung với cậu, 2 anh em đã có thể đi riêng. Ngoài ra cũng cần có thêm kinh nghiệm để biết lượng định chiều cao của cây và số gỗ mình có thể lấy được. Nếu tính toán không chính xác thì sẽ mất công hạ cây xuống mà cưa ra không bán được vì gỗ không đủ chiều dài hay bị mắt. Một toán đi cưa thường chỉ 3 người. Trước hết chọn cây ngay, không có mắt và không có nhánh phụ, dùng cưa cá mập để hạ cây xuống. Bây giờ phải làm dàn để đặt thân cây lên mới có thể bắt đầu cưa. Dàn là một thân cây nằm ngang song song với mặt đất và cách mặt đất khoảng 0,60m để mình đặt thân cây lên đó, một đầu chạm đất và đầu kia chổng lên trời.
Cậu Hải là một người rất khéo tay, biết làm nhiều thứ, và cậu cũng rất kiên nhẫn. Cậu Hải hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ và rất quý mến và kính phục cha mẹ. Từ đó, cậu cũng đối xử với 2 anh em một cách chí tình. Chuyến đi cưa đầu tiên, cậu chỉ dẫn cho mình cưa bộ ván cẩm lai. Lúc đó mình ngồi bên dưới, còn cậu Hải đứng ở trên. Sau vài lần thì mình đã vững tay cưa để có thể đứng trên cao.
Kỹ thuật cưa là chỉ kéo thong thả, không đè mạnh xuống cho nó ăn sâu hơn vào gỗ mà cũng không đẩy cho nó đi mau hơn, người đứng trên kéo hết phần mình thì thả ra cho người ngồi dưới kéo xuống lại, tay chỉ nương theo cưa mà không tì lại cũng không đẩy. Muốn cho lưỡi cưa ăn vào gỗ nhiều hay ít, đó là do cách mình mở mũi. Gỗ càng cứng thì càng phải mở ít để lữa cưa ăn vào gỗ thật chậm. Nếu mình kéo ngay ngắn mà lưỡi cưa ăn vào gỗ không ngay tức là có vấn đề về mở lưỡi. Trước khi bắt tay vào xẻ thì phải bóc bìa để biến thân cây tròn thành một khối gỗ vuông vắn. Rồi từ đó mới xẻ theo những đường mực búng theo chiều dài của cây. Bóc bìa là một công đoạn khó khăn cho người đứng cưa ở trên vì thân cây tròn không có nơi để tựa chân cho thăng bằng.
Trước khi xuất quân đi cưa thì có người đặt hàng, hoặc là một bộ kèo, một bộ rui, mè. Có khi là một số cột theo quy định của khách. Đã có người mua và thỏa thuận giá, vậy là anh em rủ nhau lên rừng kiếm cây.
Kéo cưa kéo kít, làm ít ăn nhiều, nằm đâu ngủ đấy, nó lấy mất cưa, lấy gì mà kéo
Trong thời buổi khó khăn về kinh tế, khan hiếm thực phẩm, và máy móc hư hỏng không có phụ tùng để sửa chữa thì mọi công việc đều chủ yếu là dùng sức người, làm bằng tay. Một trong những công việc này đó là đốn cây xẻ gỗ. Vùng Bình Dương là nơi rừng núi có nhiều cây tốt mà cũng có đất ruộng đất rẫy, nên cậu Hải đã đưa gia đình xuống làm ăn ở Bến Lội, Thị Tính. Dòng đời đưa đẩy mình với Thạch đã đến ở với cậu trong vòng hơn 6 tháng, và đã được cậu truyền nghề cưa gỗ.
Đây là một công việc đòi hỏi sức lực bền bỉ, và phải có bí truyền để biết mài cưa và mở lưỡi. Không biết cách bảo quản cưa thì dầu khỏe mạnh bao nhiêu cũng không thể làm ăn trong nghề này được. Trong những lần theo cậu Hải đi cưa, cậu đã truyền dạy kỹ thuật mài cưa và bẻ lưỡi cưa cho 2 anh em, nên sau vài lần đi chung với cậu, 2 anh em đã có thể đi riêng. Ngoài ra cũng cần có thêm kinh nghiệm để biết lượng định chiều cao của cây và số gỗ mình có thể lấy được. Nếu tính toán không chính xác thì sẽ mất công hạ cây xuống mà cưa ra không bán được vì gỗ không đủ chiều dài hay bị mắt. Một toán đi cưa thường chỉ 3 người. Trước hết chọn cây ngay, không có mắt và không có nhánh phụ, dùng cưa cá mập để hạ cây xuống. Bây giờ phải làm dàn để đặt thân cây lên mới có thể bắt đầu cưa. Dàn là một thân cây nằm ngang song song với mặt đất và cách mặt đất khoảng 0,60m để mình đặt thân cây lên đó, một đầu chạm đất và đầu kia chổng lên trời.
Cậu Hải là một người rất khéo tay, biết làm nhiều thứ, và cậu cũng rất kiên nhẫn. Cậu Hải hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ và rất quý mến và kính phục cha mẹ. Từ đó, cậu cũng đối xử với 2 anh em một cách chí tình. Chuyến đi cưa đầu tiên, cậu chỉ dẫn cho mình cưa bộ ván cẩm lai. Lúc đó mình ngồi bên dưới, còn cậu Hải đứng ở trên. Sau vài lần thì mình đã vững tay cưa để có thể đứng trên cao.
Kỹ thuật cưa là chỉ kéo thong thả, không đè mạnh xuống cho nó ăn sâu hơn vào gỗ mà cũng không đẩy cho nó đi mau hơn, người đứng trên kéo hết phần mình thì thả ra cho người ngồi dưới kéo xuống lại, tay chỉ nương theo cưa mà không tì lại cũng không đẩy. Muốn cho lưỡi cưa ăn vào gỗ nhiều hay ít, đó là do cách mình mở mũi. Gỗ càng cứng thì càng phải mở ít để lữa cưa ăn vào gỗ thật chậm. Nếu mình kéo ngay ngắn mà lưỡi cưa ăn vào gỗ không ngay tức là có vấn đề về mở lưỡi. Trước khi bắt tay vào xẻ thì phải bóc bìa để biến thân cây tròn thành một khối gỗ vuông vắn. Rồi từ đó mới xẻ theo những đường mực búng theo chiều dài của cây. Bóc bìa là một công đoạn khó khăn cho người đứng cưa ở trên vì thân cây tròn không có nơi để tựa chân cho thăng bằng.
Trước khi xuất quân đi cưa thì có người đặt hàng, hoặc là một bộ kèo, một bộ rui, mè. Có khi là một số cột theo quy định của khách. Đã có người mua và thỏa thuận giá, vậy là anh em rủ nhau lên rừng kiếm cây.
Đồ tể bất đắc dĩ
Đầu năm 1980 - Thời gian này anh đang ở nơi xứ Thuận Nghĩa với cha Báu. Sau khi từ Bến Lội về nhà ăn Tết với 3 anh em, Thạch Sơn Phong, anh Thạch ở lại nhà không đi nữa, anh Phong và anh ra đi mồng 4 Tết. Đi bộ ra Đức Mạnh, không có xe nên ngủ lại nhà cậu Phan. Sáng mồng 5 đón xe lên BMT và đi về Phan Rang. Phong ở lại Tháp Chàm với cha Đạt, còn anh đi tiếp vô Phan Thiết. Nằm ở đây khá lâu, tá túc trong nhà xứ. Không có giấy tờ hợp lệ, nên tránh mặt mọi người. Một buổi chiều, cha Báu đề nghị với mình lên Mường Mán chơi ở tạm nơi nhà của anh Trọng, cháu gọi cha bằng cậu ruột, để thay đổi không khí, thay đổi chỗ ở khỏi bị nghi ngờ. Mình ra đi trong bóng chiều, băng ngang những đồng lúa khô cuống rạ, và những con đê nhỏ, trâu bò lững thững về chuồng. Khung cảnh êm ả nhẹ nhàng, nhưng lòng mình bấn loạn vì lo âu. Con đường tắt từ Thuận Nghĩa lên Mường Mán mình chưa từng đi bao giờ, không hiểu tại sao lại dám liều lĩnh mà đi như thế. Có lẽ là ở trong đường cùng, mình phải liều thôi. Đi một lát thì trời sẫm tối. Mình cứ nhắm hướng nhà thờ đi tới, và sau đó làm sao để tìm ra nhà của anh Trọng, mình không thể nhớ được.
Một buổi tối, quãng 2g sáng, nghe tiếng Trọng đánh thức mình dậy thì thầm : “thầy Sơn ! dậy giúp con một tay”. Thì ra, vợ chồng anh ta có dự định hạ con bò của nhà bán lấy thịt kiếm tiền. Bối cảnh lúc đó là vì vô hợp tác xã (HTX) nên mọi tài sản tư đều xung làm của công, không ai được tự tiện sử dụng. Ai có heo bò, xe cày, xe kéo … tất cả đều gọi là tài sản của HTX. Dân quê thường hay khai bò đi lạc hay bò bị mất cắp, rồi đem làm thịt bán lấy tiền. Sau khi đánh thức mình dậy, dặn dò là nhờ thầy cầm cái đèn soi cho anh ta làm thịt con bò, anh Trọng mở cửa nhà bếp dắt còn bò vô nhà. Mình tá hỏa, và lo thầm trong bụng, trời đất có một người mà sao làm nổi con bò. Đó là một con bò cỡ trung, hơi lớn hơn con nghé. Con bò nghe mùi nhà bếp lạ nên sợ, trì lại không chịu đi, anh ta rán kéo thêm cho con bò vô gần tới cái cột giữa nhà, buộc giây mũi vào cột đó và con bò cứ tiếp tục trì mạnh như thế. Bây giờ thì anh ta rảnh tay rồi, không cần giữ nữa, vì đã có cái cột giữ chắc. Quay ra sau, lấy cái búa tạ, anh ta đứng bên hông phang mạnh vào đầu bò, ngay giữa 2 cái sừng của nó, bò khụy chân xuống ngay, anh ta giáng thêm một cái nữa, thả búa, đẩy bò nằm nghiêng, vớ dao cắt yếm và thọc dao vào ngay tim, máu tuôn ra xối xả trong vòng 1 phút, sau đó thì chảy chậm dần. Từ lúc đập búa vào đầu cho đến khi máu ra hết và mổ bụng lột da, thời gian chưa tới 5 phút. Sao mà dễ và gọn thế ! Không một tiếng kêu của con bò bị giết, không một tiếng người nói, tất cả diễn ra trong im lặng khẩn trương. Sau khi đã hạ bò, bây giờ phải lột da và ra thịt, phần móng chân, đầu và bộ lòng được phi tang mau lẹ trong một cái hố đã đào sẵn trước đó. Xả thịt xong cũng hơn 4g sáng, chị vợ anh ta chuẩn bị gánh thịt ra chợ bán, còn mình đi ngủ tiếp. Ngày hôm sau ăn thịt bò đã thèm.
Một buổi tối, quãng 2g sáng, nghe tiếng Trọng đánh thức mình dậy thì thầm : “thầy Sơn ! dậy giúp con một tay”. Thì ra, vợ chồng anh ta có dự định hạ con bò của nhà bán lấy thịt kiếm tiền. Bối cảnh lúc đó là vì vô hợp tác xã (HTX) nên mọi tài sản tư đều xung làm của công, không ai được tự tiện sử dụng. Ai có heo bò, xe cày, xe kéo … tất cả đều gọi là tài sản của HTX. Dân quê thường hay khai bò đi lạc hay bò bị mất cắp, rồi đem làm thịt bán lấy tiền. Sau khi đánh thức mình dậy, dặn dò là nhờ thầy cầm cái đèn soi cho anh ta làm thịt con bò, anh Trọng mở cửa nhà bếp dắt còn bò vô nhà. Mình tá hỏa, và lo thầm trong bụng, trời đất có một người mà sao làm nổi con bò. Đó là một con bò cỡ trung, hơi lớn hơn con nghé. Con bò nghe mùi nhà bếp lạ nên sợ, trì lại không chịu đi, anh ta rán kéo thêm cho con bò vô gần tới cái cột giữa nhà, buộc giây mũi vào cột đó và con bò cứ tiếp tục trì mạnh như thế. Bây giờ thì anh ta rảnh tay rồi, không cần giữ nữa, vì đã có cái cột giữ chắc. Quay ra sau, lấy cái búa tạ, anh ta đứng bên hông phang mạnh vào đầu bò, ngay giữa 2 cái sừng của nó, bò khụy chân xuống ngay, anh ta giáng thêm một cái nữa, thả búa, đẩy bò nằm nghiêng, vớ dao cắt yếm và thọc dao vào ngay tim, máu tuôn ra xối xả trong vòng 1 phút, sau đó thì chảy chậm dần. Từ lúc đập búa vào đầu cho đến khi máu ra hết và mổ bụng lột da, thời gian chưa tới 5 phút. Sao mà dễ và gọn thế ! Không một tiếng kêu của con bò bị giết, không một tiếng người nói, tất cả diễn ra trong im lặng khẩn trương. Sau khi đã hạ bò, bây giờ phải lột da và ra thịt, phần móng chân, đầu và bộ lòng được phi tang mau lẹ trong một cái hố đã đào sẵn trước đó. Xả thịt xong cũng hơn 4g sáng, chị vợ anh ta chuẩn bị gánh thịt ra chợ bán, còn mình đi ngủ tiếp. Ngày hôm sau ăn thịt bò đã thèm.
Bến Lội
Tháng 6 năm 1979, Phong vừa học xong trung học, vô Sài gòn thi Đại Học. Trước đó vài tuần lễ, Thạch đi theo phái đoàn văn nghệ Hội diễn Quần chúng xã Đức Minh xuống tham dự đại hội Văn Nghệ vùng ở Phan thiết. Trong thời gian này, anh đang lang thang ở Phan rang, Phan thiết nên đã gặp Thạch. Cả 2 anh em Thạch Sơn đi vô Sài gòn và gặp Phong đã vô đó trước để thi. Hình như lần này không ghé nhà anh Đăng chị Nguyệt mà ghé nhà bác Châu. Khi 2 anh em vô Sài gòn thì lúc đó Phong cũng đã thi xong, nên cùng kéo nhau đi xuống Cần thơ chơi ít hôm, ghé thăm chị Chín, là con cha Đạt. Mình để Thạch và Phong ở lại Cần thơ xuống Trà lồng (Phụng Hiệp) thăm Trần thế Hội một vài ngày. Sau đó cả 3 anh em trở lại Sài gòn, rồi đi xuống Bến Lội, nơi gia đình cậu Hải đang sinh sống.
(Thạch : Hình như chuyến đi Cần-thơ này không có Phong vì chưa thi xong. Tại Cần-thơ có gặp lại và được mời ăn cơm một buổi ở nhà chị Tơ, là bạn cùng đi tu với chị Tuyết, lúc đó đã rời cuộc sống tu trì)
Bến Lội là nơi sơn cùng thủy tận, vì không còn đường đi nữa. Đó là một mảng đất trủng nhỏ nhoi nằm giữa rừng. Dân cư sinh sống đã lâu đời ở đó thì người ta có ruộng đất ở vùng thấp nên có lúa gạo để ăn và có nhà kê tử tế. Nhà kê là nhà làm bằng gỗ quý được kê lên những viên gạch hay bệ đá. Những người mới tới như nhà cậu Hải thì chỉ có những miếng đất rãy trên khô. Muốn đến Bến Lội, trước tiên phải đi xe từ Sài gòn tới Thủ dầu Một, rồi bắt xe nhỏ (xe ngựa) từ Thủ dầu Một đi Thị Tính. Từ Thị Tính, phải đi bộ gần 4 cây số đường mòn ngang qua rừng thưa mới vào tới nhà cậu Hải. Đây là vùng rừng rậm lúc trước nhưng đã được khai quang để tránh sự ẩn nấp của quân đội cs. Đặc biệt của vùng này là sự xuất hiện của một loại cỏ cao trên 2 thước, có bông màu nâu nhạt và thân rất dòn, khi có người đi qua dẫm lên thì nó ngã rạp xuống. Dân địa phương gọi là cỏ mỹ, vì chính quân đội mỹ đã rải giống khắp vùng để giúp máy bay quan sát từ cao nhìn xuống có thể nhận ra nơi nào đã có dấu vết người đi qua.
Nhà cậu Hải thật là thô sơ, như cái chòi lá. Mái nhà lợp dở dang, còn trống hốc một khoảng lớn, không đủ che nắng, chưa kể khi trời mưa thì dột lỗ chỗ khắp nhà.
3 anh em cùng nhau đi xuống cậu Hải, Phong ở lại 1 buổi tối, sáng hôm sau trở lên Sài gòn rồi về lại Phan Rang chờ kết quả thi ĐH. Thạch với Sơn bắt đầu kế hoạch ở lại Bến Lội, khai hộ khẩu, làm giấy CMND, và lập nghiệp lâu dài. Sau vài bữa ngồi chơi tán dóc, câu cháu bắt đầu đi làm thuê kiếm tiền. Phân công ban đầu là Thạch theo cậu đi cưa, và học nghề mộc đục đẽo khi nào cậu có việc trong loại đó. Còn Sơn thì làm việc ruộng rẫy ở nhà. Buổi xuất quân đầu tiên của anh Thạch là đi cưa một bộ phản bằng gỗ cẩm lai bên kia sông. Theo dự tính của cậu, 2 cậu cháu sẽ cưa xong trong vòng từ 3 tới 5 ngày. Nhưng qua ngày thứ hai, thì anh Thạch phát sinh đau bao tử. Lúc đó thì không hiểu nguyên do, nhưng bây giờ nhìn lại, cọng thêm kinh nghiệm những lần đau bao tử về sau, thì anh Thạch khám phá ra là mỗi lần phải vận động bắp thịt bụng nhiều quá, hay có sức ép vào bụng một cách liên tục nhiều lần thì phát sinh đau bao tử. Mà cưa líu thì phải có một người ngồi ở dưới để kéo và một người đứng ở trên. Ngồi ở dưới thì cơ bắp ở bụng phải co rút đều đặn theo nhịp kéo cưa. Thạch mới đi cưa với cậu lần đầu tiên, nên chưa thể đứng cưa ở trên được. Thế là anh phải đi cưa với cậu Hải thay cho anh Thạch. Nghĩ là ghê gớm, nhưng chẳng có gì. Được cậu Hải chỉ dẫn kỹ càng và tập từ từ, chỉ dăm phút sau là nhuyễn tay. Anh tiếp tục cưa bộ ván cẩm lai với cậu Hải xong. Sau đó anh tiếp tục đi cưa với cậu những mối khác và bắt đầu biết thêm nhiều kỹ thuật để bẻ lưỡi, mài lưỡi cưa.
Cuộc sống ở Bến Lội chỉ kéo dài gần 6 tháng, nhưng mình cảm thấy dài vô tận. Chỉ gần 6 tháng, vì 2 anh em đặt chân đến vào giữa tháng 7, 1979, mà đến Tết Âm Lịch 1980 đã ra về, đó là cuối tháng Giêng năm 1980. Đây là một quãng thời gian đáng nhớ vì cuộc sống rất lam lũ cực khổ. Lúa gạo không có mà ăn, ăn ngày nào biết ngày đó, đói nhiều hơn no. Hao hụt đến nỗi, cứ hẹn làm cho người ta, thỏa thuận số tiền hay số gạo rồi đi tới lấy gạo về ăn hay nhận tiền về tiêu xài mà chưa bắt tay vào việc. Nhưng việc chưa làm đã ăn hết gạo hay tiêu hết tiền, nên đến khi đi làm lại làm không. Trong nhà có cậu Hải, mợ và 6 đứa con của cậu mà trong số đó Đại lớn nhất là 12 tuổi.
Mùa mưa, nước trên rừng theo suối đổ xuống, làm ngập con lạch nhỏ mà bình thường mùa khô nước chỉ ngang đầu gối và rộng chừng dăm thước. Đến mùa mưa, nước dâng cao, chảy cuồn cuộn. Có những buổi sáng còn mờ tối, anh với anh Thạch rủ nhau dậy đi xuống tắm. Để khỏi phơi đồ giặt dũ mất công, 2 anh em đánh truồng, bơi lội giữa dòng nước mát lạnh trong vắt thật thoải mái vô cùng. Bến lội là nơi vắng vẻ thưa thớt. Nhà ở cách xa nhau, bao quanh là đồng ruộng hay nương rẫy. Vào buổi sáng sớm như thế không có ai qua lại, nên anh em vùng vẫy dưới nước tha hồ.
(Thạch : Hình như chuyến đi Cần-thơ này không có Phong vì chưa thi xong. Tại Cần-thơ có gặp lại và được mời ăn cơm một buổi ở nhà chị Tơ, là bạn cùng đi tu với chị Tuyết, lúc đó đã rời cuộc sống tu trì)
Bến Lội là nơi sơn cùng thủy tận, vì không còn đường đi nữa. Đó là một mảng đất trủng nhỏ nhoi nằm giữa rừng. Dân cư sinh sống đã lâu đời ở đó thì người ta có ruộng đất ở vùng thấp nên có lúa gạo để ăn và có nhà kê tử tế. Nhà kê là nhà làm bằng gỗ quý được kê lên những viên gạch hay bệ đá. Những người mới tới như nhà cậu Hải thì chỉ có những miếng đất rãy trên khô. Muốn đến Bến Lội, trước tiên phải đi xe từ Sài gòn tới Thủ dầu Một, rồi bắt xe nhỏ (xe ngựa) từ Thủ dầu Một đi Thị Tính. Từ Thị Tính, phải đi bộ gần 4 cây số đường mòn ngang qua rừng thưa mới vào tới nhà cậu Hải. Đây là vùng rừng rậm lúc trước nhưng đã được khai quang để tránh sự ẩn nấp của quân đội cs. Đặc biệt của vùng này là sự xuất hiện của một loại cỏ cao trên 2 thước, có bông màu nâu nhạt và thân rất dòn, khi có người đi qua dẫm lên thì nó ngã rạp xuống. Dân địa phương gọi là cỏ mỹ, vì chính quân đội mỹ đã rải giống khắp vùng để giúp máy bay quan sát từ cao nhìn xuống có thể nhận ra nơi nào đã có dấu vết người đi qua.
Nhà cậu Hải thật là thô sơ, như cái chòi lá. Mái nhà lợp dở dang, còn trống hốc một khoảng lớn, không đủ che nắng, chưa kể khi trời mưa thì dột lỗ chỗ khắp nhà.
3 anh em cùng nhau đi xuống cậu Hải, Phong ở lại 1 buổi tối, sáng hôm sau trở lên Sài gòn rồi về lại Phan Rang chờ kết quả thi ĐH. Thạch với Sơn bắt đầu kế hoạch ở lại Bến Lội, khai hộ khẩu, làm giấy CMND, và lập nghiệp lâu dài. Sau vài bữa ngồi chơi tán dóc, câu cháu bắt đầu đi làm thuê kiếm tiền. Phân công ban đầu là Thạch theo cậu đi cưa, và học nghề mộc đục đẽo khi nào cậu có việc trong loại đó. Còn Sơn thì làm việc ruộng rẫy ở nhà. Buổi xuất quân đầu tiên của anh Thạch là đi cưa một bộ phản bằng gỗ cẩm lai bên kia sông. Theo dự tính của cậu, 2 cậu cháu sẽ cưa xong trong vòng từ 3 tới 5 ngày. Nhưng qua ngày thứ hai, thì anh Thạch phát sinh đau bao tử. Lúc đó thì không hiểu nguyên do, nhưng bây giờ nhìn lại, cọng thêm kinh nghiệm những lần đau bao tử về sau, thì anh Thạch khám phá ra là mỗi lần phải vận động bắp thịt bụng nhiều quá, hay có sức ép vào bụng một cách liên tục nhiều lần thì phát sinh đau bao tử. Mà cưa líu thì phải có một người ngồi ở dưới để kéo và một người đứng ở trên. Ngồi ở dưới thì cơ bắp ở bụng phải co rút đều đặn theo nhịp kéo cưa. Thạch mới đi cưa với cậu lần đầu tiên, nên chưa thể đứng cưa ở trên được. Thế là anh phải đi cưa với cậu Hải thay cho anh Thạch. Nghĩ là ghê gớm, nhưng chẳng có gì. Được cậu Hải chỉ dẫn kỹ càng và tập từ từ, chỉ dăm phút sau là nhuyễn tay. Anh tiếp tục cưa bộ ván cẩm lai với cậu Hải xong. Sau đó anh tiếp tục đi cưa với cậu những mối khác và bắt đầu biết thêm nhiều kỹ thuật để bẻ lưỡi, mài lưỡi cưa.
Cuộc sống ở Bến Lội chỉ kéo dài gần 6 tháng, nhưng mình cảm thấy dài vô tận. Chỉ gần 6 tháng, vì 2 anh em đặt chân đến vào giữa tháng 7, 1979, mà đến Tết Âm Lịch 1980 đã ra về, đó là cuối tháng Giêng năm 1980. Đây là một quãng thời gian đáng nhớ vì cuộc sống rất lam lũ cực khổ. Lúa gạo không có mà ăn, ăn ngày nào biết ngày đó, đói nhiều hơn no. Hao hụt đến nỗi, cứ hẹn làm cho người ta, thỏa thuận số tiền hay số gạo rồi đi tới lấy gạo về ăn hay nhận tiền về tiêu xài mà chưa bắt tay vào việc. Nhưng việc chưa làm đã ăn hết gạo hay tiêu hết tiền, nên đến khi đi làm lại làm không. Trong nhà có cậu Hải, mợ và 6 đứa con của cậu mà trong số đó Đại lớn nhất là 12 tuổi.
Mùa mưa, nước trên rừng theo suối đổ xuống, làm ngập con lạch nhỏ mà bình thường mùa khô nước chỉ ngang đầu gối và rộng chừng dăm thước. Đến mùa mưa, nước dâng cao, chảy cuồn cuộn. Có những buổi sáng còn mờ tối, anh với anh Thạch rủ nhau dậy đi xuống tắm. Để khỏi phơi đồ giặt dũ mất công, 2 anh em đánh truồng, bơi lội giữa dòng nước mát lạnh trong vắt thật thoải mái vô cùng. Bến lội là nơi vắng vẻ thưa thớt. Nhà ở cách xa nhau, bao quanh là đồng ruộng hay nương rẫy. Vào buổi sáng sớm như thế không có ai qua lại, nên anh em vùng vẫy dưới nước tha hồ.
Trôi nổi
Một buổi trưa mùa mưa, ngày 20 tháng 9 năm 1978, anh đón xe cá đi lên BMT, nằm ngủ lại ở bến xe và ngày hôm sau lấy vé đi xuống Nha trang. Đây là khoảng thời gian vô cùng bế tắc, vì không biết mình sẽ làm gì, sẽ sống ở đâu. Tâm lý rất mệt mỏi vì cứ chờ đợi mà không biết mình chờ đợi điều gì. Các chủng sinh ở địa phân Nha trang và Phan thiết thì được tụ tập lại các xứ đạo để tiếp tục sinh hoạt chung, học tập sơ sài và cố gắng cầm cự cho qua đợt kiểm soát gắt gao của nhà nước rồi sau đó sẽ trở lại tu học và chịu chức. Còn mình thì lại không có cơ hội được tụ tập như thế, mà phải đi về sống trong gia đình. Trong lúc đang ở Xã Đoài, tình cờ trong một lần đi chơi, gặp Nguyễn trọng Nghĩa, là công nhân viên của nông trường thủy lợi ở đâu ngoài xã Đức Mạnh, anh ta có giấy chứng nhận đi công tác còn mới tinh, có đóng dấu đỏ và chữ ký hẳn hoi. Thật sự, mình chưa bao giờ gặp anh này mà cũng không quen biết gì nhiều, nhưng không hiểu điều gì đã xui khiến mình mở miệng hỏi thăm và xin tờ giấy đó. Anh ta đưa vui vẻ, và mình cầm về nhà. Rồi vài ngày sau thì ra đi. Lúc đó, chính quyền kiểm soát việc đi lại của dân chúng rất gắt gao. Ai muốn đi đâu đều phải xin Giấy thông hành, đối với công nhân viên thì phải có Giấy đi đường. Có giấy mới mua được vé xe. Muốn xin được giấy thì phải có hộ khẩu hoặc làm việc trong một cơ quan nhưng mình thì không có tên ở đâu cả sau khi rời Giáo hoàng học viện Đà Lạt.
Kể từ ngày đó, mình lang thang nơi này ít bữa, nơi kia ít bữa, đi đi về về bằng tờ giấy công tác dưới tên Nguyễn trọng Nghĩa. Đây là một quãng thời gian trôi nổi bấp bênh và mỏi mệt nhất! Đi lang thang các vùng Phan Rang, Phan Thiết mà không có hộ khẩu hợp pháp ở một nơi nào cả. Ở đâu cũng mang tâm trạng lo âu hồi hộp. Phan Rang, Phan Thiết là vùng ven biển, thuận lợi cho việc vượt biên nên chính quyền kiểm soát rất chặt chẽ về nhân khẩu. Người lạ đến đây rất dễ bị bắt vì nghi ngờ vượt biên. Chính quyền mới thành lập, không có luật pháp rõ ràng nên dân chúng rất sợ. Nhất là đối với nhà thờ là chính quyền càng quan tâm đặc biệt. Nhất cử nhất động của các Cha đều bị chính quyền theo dõi, sẵn sàng quy chụp thành tội lớn khi có một sai phạm nhỏ. Chính vì vậy mà không dám ở nhờ nhà thờ Cầu Bảo (với cha Đạt) hoặc nhà thờ Thuận Nghĩa (với cha Báu) thời gian lâu. Mà có ở cũng không dám công khai xuất hiện mà chỉ ru rú trong nhà và nơm nớp lo sợ chính quyền phát hiện. Lúc đó không chỉ mình bị bắt bớ mà các cha còn bị vạ lây. Mình và Phong ở gần nhau nhưng ít khi gặp nhau là vì vậy.
Nhớ lại chặng đường Bình Chính – Phan Rang - Tháp chàm mà mình đã đạp xe đi đi về về không biết bao nhiêu lần, vì phải di chuyển chỗ ở thường xuyên, không dám nằm lâu một chỗ. Quãng đường từ Bình Chính đến Tháp Chàm dài khoảng 13 cây số. Phương tiện đi lại lúc đó là xe đạp. Phan Rang vào mùa gió chướng (kéo dài khoảng 4 tháng từ trước Noel đến sau tết) đi xe đạp phải oằn mình mà đạp mới thắng được lực cản của gió. Không những gió lớn mà còn cát bụi kinh hồn, vì Phan Rang là vùng đất cát do sóng biển bồi lên từ bao nhiêu năm qua. Một hôm, trên đường từ Bình Chính về Tháp Chàm, đoạn ngang qua sân vận động Phan Rang, hai bên là đồng trống, đường tối đen như mực vì không có đèn đường, phía trước thấp thoáng một ánh đèn xe gắn máy. Mình dấn mạnh bàn đạp, tăng tốc đuổi theo ánh đèn để tìm chút ánh sáng giữa bóng đêm cô tịch. Xe mới lao đi được một đoạn thì “rầm”, người và xe văng bên vệ đường. Thì ra, mình đã đâm vào một chiếc xe đạp khác đang ngừng để sửa ngay bên đường mà do trời tối đen và đang tập trung đuổi theo ánh đèn nên mình không tài nào nhìn thấy. Thật may, không ai hề hấn gì, mình chỉ bị xây xát nhẹ, nhưng cổ xe đạp của mình thì bị gãy rời ra và bánh xe trước của người kia cong queo không thể đi tiếp được. Không ai bắt lỗi ai vì chẳng phải tại ai cả, chỉ tại trời...tối. Mạnh ai nấy dắt bộ về. Mình lầm lũi quay trở lại nhà anh chị Quỳnh/Hoàng ở gần đó tá túc qua đêm. Dầu không bị thương tích gì nhưng lòng cũng tràn ngập lo âu vì xe đạp không phải của mình mà là xe mượn của anh chị Quỳnh/Hoàng. Xe bị gãy cổ thì mình phải đi sửa, mà mình không biết sửa ở đâu và tốn kém nhiều không. Vào những năm 1975 – 1980, xe đạp đang là một món đồ quý hóa. Sáng ra, anh Quỳnh nhìn xe và nói “thầy đừng lo, cái này đưa ra thợ cho nó hàn lại tốn vài đồng bạc thôi chứ không bao nhiêu đâu”. Nghe vậy mình thấy nhẹ hẳn cả người.
Kể từ ngày đó, mình lang thang nơi này ít bữa, nơi kia ít bữa, đi đi về về bằng tờ giấy công tác dưới tên Nguyễn trọng Nghĩa. Đây là một quãng thời gian trôi nổi bấp bênh và mỏi mệt nhất! Đi lang thang các vùng Phan Rang, Phan Thiết mà không có hộ khẩu hợp pháp ở một nơi nào cả. Ở đâu cũng mang tâm trạng lo âu hồi hộp. Phan Rang, Phan Thiết là vùng ven biển, thuận lợi cho việc vượt biên nên chính quyền kiểm soát rất chặt chẽ về nhân khẩu. Người lạ đến đây rất dễ bị bắt vì nghi ngờ vượt biên. Chính quyền mới thành lập, không có luật pháp rõ ràng nên dân chúng rất sợ. Nhất là đối với nhà thờ là chính quyền càng quan tâm đặc biệt. Nhất cử nhất động của các Cha đều bị chính quyền theo dõi, sẵn sàng quy chụp thành tội lớn khi có một sai phạm nhỏ. Chính vì vậy mà không dám ở nhờ nhà thờ Cầu Bảo (với cha Đạt) hoặc nhà thờ Thuận Nghĩa (với cha Báu) thời gian lâu. Mà có ở cũng không dám công khai xuất hiện mà chỉ ru rú trong nhà và nơm nớp lo sợ chính quyền phát hiện. Lúc đó không chỉ mình bị bắt bớ mà các cha còn bị vạ lây. Mình và Phong ở gần nhau nhưng ít khi gặp nhau là vì vậy.
Nhớ lại chặng đường Bình Chính – Phan Rang - Tháp chàm mà mình đã đạp xe đi đi về về không biết bao nhiêu lần, vì phải di chuyển chỗ ở thường xuyên, không dám nằm lâu một chỗ. Quãng đường từ Bình Chính đến Tháp Chàm dài khoảng 13 cây số. Phương tiện đi lại lúc đó là xe đạp. Phan Rang vào mùa gió chướng (kéo dài khoảng 4 tháng từ trước Noel đến sau tết) đi xe đạp phải oằn mình mà đạp mới thắng được lực cản của gió. Không những gió lớn mà còn cát bụi kinh hồn, vì Phan Rang là vùng đất cát do sóng biển bồi lên từ bao nhiêu năm qua. Một hôm, trên đường từ Bình Chính về Tháp Chàm, đoạn ngang qua sân vận động Phan Rang, hai bên là đồng trống, đường tối đen như mực vì không có đèn đường, phía trước thấp thoáng một ánh đèn xe gắn máy. Mình dấn mạnh bàn đạp, tăng tốc đuổi theo ánh đèn để tìm chút ánh sáng giữa bóng đêm cô tịch. Xe mới lao đi được một đoạn thì “rầm”, người và xe văng bên vệ đường. Thì ra, mình đã đâm vào một chiếc xe đạp khác đang ngừng để sửa ngay bên đường mà do trời tối đen và đang tập trung đuổi theo ánh đèn nên mình không tài nào nhìn thấy. Thật may, không ai hề hấn gì, mình chỉ bị xây xát nhẹ, nhưng cổ xe đạp của mình thì bị gãy rời ra và bánh xe trước của người kia cong queo không thể đi tiếp được. Không ai bắt lỗi ai vì chẳng phải tại ai cả, chỉ tại trời...tối. Mạnh ai nấy dắt bộ về. Mình lầm lũi quay trở lại nhà anh chị Quỳnh/Hoàng ở gần đó tá túc qua đêm. Dầu không bị thương tích gì nhưng lòng cũng tràn ngập lo âu vì xe đạp không phải của mình mà là xe mượn của anh chị Quỳnh/Hoàng. Xe bị gãy cổ thì mình phải đi sửa, mà mình không biết sửa ở đâu và tốn kém nhiều không. Vào những năm 1975 – 1980, xe đạp đang là một món đồ quý hóa. Sáng ra, anh Quỳnh nhìn xe và nói “thầy đừng lo, cái này đưa ra thợ cho nó hàn lại tốn vài đồng bạc thôi chứ không bao nhiêu đâu”. Nghe vậy mình thấy nhẹ hẳn cả người.
Mạch suối nguồn
Giếng nước ngọt nuôi sống cả nhà hiện nay tại Xã Đoài đã có từ khá lâu. Thế hệ của cha mẹ và các anh chị em mình đã ăn uống tắm giặt từ những dòng nước ngọt chảy ra từ đó và bây giờ, đến đời các cháu, Diệu Đan, Duy Hệ con của Vũ cũng tiếp tục uống nước đó mà lớn lên. Mạch nước trong lành tươi mát từ lòng đất vọt ra là của trời, nhưng nó mang lại mát mẻ sạch sẽ đến được với từng người trong gia đình mình, đó chính là nhờ vào bàn tay và công sức của Thạch và Sơn và anh Thế. Hình như phải kể thêm công khó của Nguyên và Trinh nữa, vì tuy 2 em lúc này còn nhỏ lắm, nhưng cũng túc trực kế bên để các anh sai vặt.
Đó là vào khoảng đầu năm 1978, sau khi rời GHHV về nhà được một thời gian, anh với anh Thạch mới bàn tính với nhau đào giếng. Bây giờ anh không còn nhớ trước khi đào giếng mới thì mình dùng nước từ đâu và bằng cách nào. Anh cũng quên béng chuyện mua bi ở đâu và ai chở về nhà cho mình. Anh chỉ còn nhớ là 2 anh em bắt đầu hì hục đào từ buổi sáng và công việc tiến triển tốt đẹp vì trong khoảng 3 hay 4 mét đầu tiên không có đá lớn hay chướng ngại nào đáng kể. Khi xuống sâu hơn thì có gặp một ít đá, nhưng vẫn không quá lớn nên hoặc là có thể moi ra chuyển lên, hoặc là đục cho bể dần. Nhưng khi đã xuống khá sâu, và ngập vài tấc nước thì không thể xuống sâu hơn được nữa, vì gặp một phiến đá rất lớn và dày, chiếm gần nửa diện tích mặt giếng, nên đành dừng lại.
Chuyện đào giếng thì ít nhớ mà anh lại nhớ chuyện bên lề. Đó là khi vừa mới bắt tay vào việc ngày đầu tiên, đang ở dưới giếng thì nghe mẹ hay ai đó kêu anh lên nói là có anh Ngọc-ngạt đến tìm kêu lên xã trình diện. Ngọc-ngạt là nhân viên an ninh của thôn. Khi anh leo lên được miệng giếng thì anh ta đã ra về, chỉ để lại lời nhắn như vậy thôi. Anh cũng quên mất là không biết có giấy triệu tập ghi ngày giờ rõ ràng gì không. Rốt cuộc anh chỉ nghe nói về anh Ngọc-ngạt mà chưa bao giờ gặp mặt anh ta. Ngày hôm sau anh lon ton đi lên xã, tâm trạng lo âu hồi hộp vì không biết điều gì chờ đón mình …
Trong thời gian anh đi lên xã thì anh Thạch ở nhà tiếp tục đào giếng hay là anh Thạch nghỉ chờ anh về, anh quên mất. Chỉ biết là buổi chiều hôm đó, sau một ngày làm việc với anh công an tôn giáo vận từ Ban mê thuột xuống, thì anh ra về và ở nhà luôn.
Thạch: Gia đình dọn về Đức-minh đã hơn 2 năm nhưng chưa có giếng, áo quần hình như được mang xuống suối (có phải là Cầu Gãy?, trước nhà anh Quế) để giặt, còn nước uống thì xài nước mưa hứng từ mái nhà và chắc là đi gánh thêm trong mùa nắng. Không biết nổi hứng thế nào mà hai anh em quyết định đào cái giếng, địa điểm khởi đầu được chọn là bên hông nhà, hướng nhà bà Thống, trước chuồng heo. Mới đào xuống được khoảng gần 2 thước thì đụng ngay đá tảng tổ bố, anh em quyết định dừng lại đó và tìm địa điểm khác. Suy đoán có nhiều khả năng đụng đá nữa nếu đào lỗ khác quá gần địa điểm cũ nên anh em đổi hướng hoàn toàn qua chỗ giếng bây giờ. Lỗ giếng bị vướng đá được nới rộng cho vuông vắn để làm hầm phân cho một cái chòi nhà vệ sinh được xây dựng tiếp theo.
Không đơn giản như đào giếng ở vùng đất cát: đặt bi và vét cát để bi tự tụt xuống, đào giếng ở vùng đất đỏ tốn công hơn nhiều vì đất thì cứng mà lại phải đào sâu. Hai, ba thước đầu thì công việc tiến triển tương đối nhanh lẹ vì chỉ việc thay phiên nhau, người ở dưới khoét đất, hốt và chuyển bằng tay lên cho người đứng trên, đào xuống càng sâu thì kết quả càng chậm lại vì phải dùng dây cột vào thùng để kéo đất lên, người ở dưới phải đội mũ sắt để phòng ngừa bị đá rớt trúng đầu. Làm việc không có hạn giờ, cũng chẳng thu công phí nên anh em rất thoải mái, tà tà làm việc, sẵn có cái radio-cassette được anh Minh (cô Nhuận) cho mượn nên anh em vừa đào giếng vừa nghe nhạc ngoại quốc trên các băng tần làn sóng ngắn, dạo đó bản nhạc “How deep is your love” của ban The Bee Gees đang làm mưa làm gió trong các bảng xếp hạng Billboard, Top Ten.
Đã đào xuống được khá sâu mà chưa đụng phải đá tảng nên anh em rất phấn khởi, càng phấn khởi hơn khi thấy đất càng lúc càng ướt: dấu hiệu của mực nước gần kề. Và đến một ngày thì nước bắt đầu xuất hiện, cả nhà đều mừng vì mục đích đã gần đạt tới, nhưng công việc thì bị chậm hẳn lại vì lúc này còn có thêm công đoạn tát nước. Từ độ sâu khoảng 10 thước, phải kéo múc hết nước lên, đào, khoét, rồi lại múc kéo cả đất, cả nước lên, lại phải làm lẹ tay để cho nước mới ra không kịp ngập: ai cũng thấm mệt và lem lấm nước bùn.
Công việc không tiến triển như mình mong muốn, chỉ mới được khoảng một tấc nước thì có một tảng đá lộ diện, may là chỉ choán một phần giếng nên anh em vừa rán đẽo tảng đá vừa moi sâu thêm phần còn lại. Công đoạn đào giếng được coi như hoàn thành khi giếng đủ nước để múc mỗi lần khoảng 10 gàu liên tiếp, dẫu muốn đào sâu thêm một chút nữa nhưng anh em đành thúc thủ, tạm ngừng và hy vọng trong tương lai sẽ tiếp tục đẽo thêm.
Có lúc Thế đề nghị gài kíp nổ để phá đá nhưng vì tìm kiếm kíp nổ khó khăn và có thể gây nguy hiểm hoặc làm sụp giếng nên anh em đã không tiến hành theo chiều hướng đó. Không làm ở thời điểm đó, không biết những năm tháng sau này khi các anh đã đi xa, cái giếng có được “nâng cấp” hay không?
Đó là vào khoảng đầu năm 1978, sau khi rời GHHV về nhà được một thời gian, anh với anh Thạch mới bàn tính với nhau đào giếng. Bây giờ anh không còn nhớ trước khi đào giếng mới thì mình dùng nước từ đâu và bằng cách nào. Anh cũng quên béng chuyện mua bi ở đâu và ai chở về nhà cho mình. Anh chỉ còn nhớ là 2 anh em bắt đầu hì hục đào từ buổi sáng và công việc tiến triển tốt đẹp vì trong khoảng 3 hay 4 mét đầu tiên không có đá lớn hay chướng ngại nào đáng kể. Khi xuống sâu hơn thì có gặp một ít đá, nhưng vẫn không quá lớn nên hoặc là có thể moi ra chuyển lên, hoặc là đục cho bể dần. Nhưng khi đã xuống khá sâu, và ngập vài tấc nước thì không thể xuống sâu hơn được nữa, vì gặp một phiến đá rất lớn và dày, chiếm gần nửa diện tích mặt giếng, nên đành dừng lại.
Chuyện đào giếng thì ít nhớ mà anh lại nhớ chuyện bên lề. Đó là khi vừa mới bắt tay vào việc ngày đầu tiên, đang ở dưới giếng thì nghe mẹ hay ai đó kêu anh lên nói là có anh Ngọc-ngạt đến tìm kêu lên xã trình diện. Ngọc-ngạt là nhân viên an ninh của thôn. Khi anh leo lên được miệng giếng thì anh ta đã ra về, chỉ để lại lời nhắn như vậy thôi. Anh cũng quên mất là không biết có giấy triệu tập ghi ngày giờ rõ ràng gì không. Rốt cuộc anh chỉ nghe nói về anh Ngọc-ngạt mà chưa bao giờ gặp mặt anh ta. Ngày hôm sau anh lon ton đi lên xã, tâm trạng lo âu hồi hộp vì không biết điều gì chờ đón mình …
Trong thời gian anh đi lên xã thì anh Thạch ở nhà tiếp tục đào giếng hay là anh Thạch nghỉ chờ anh về, anh quên mất. Chỉ biết là buổi chiều hôm đó, sau một ngày làm việc với anh công an tôn giáo vận từ Ban mê thuột xuống, thì anh ra về và ở nhà luôn.
Thạch: Gia đình dọn về Đức-minh đã hơn 2 năm nhưng chưa có giếng, áo quần hình như được mang xuống suối (có phải là Cầu Gãy?, trước nhà anh Quế) để giặt, còn nước uống thì xài nước mưa hứng từ mái nhà và chắc là đi gánh thêm trong mùa nắng. Không biết nổi hứng thế nào mà hai anh em quyết định đào cái giếng, địa điểm khởi đầu được chọn là bên hông nhà, hướng nhà bà Thống, trước chuồng heo. Mới đào xuống được khoảng gần 2 thước thì đụng ngay đá tảng tổ bố, anh em quyết định dừng lại đó và tìm địa điểm khác. Suy đoán có nhiều khả năng đụng đá nữa nếu đào lỗ khác quá gần địa điểm cũ nên anh em đổi hướng hoàn toàn qua chỗ giếng bây giờ. Lỗ giếng bị vướng đá được nới rộng cho vuông vắn để làm hầm phân cho một cái chòi nhà vệ sinh được xây dựng tiếp theo.
Không đơn giản như đào giếng ở vùng đất cát: đặt bi và vét cát để bi tự tụt xuống, đào giếng ở vùng đất đỏ tốn công hơn nhiều vì đất thì cứng mà lại phải đào sâu. Hai, ba thước đầu thì công việc tiến triển tương đối nhanh lẹ vì chỉ việc thay phiên nhau, người ở dưới khoét đất, hốt và chuyển bằng tay lên cho người đứng trên, đào xuống càng sâu thì kết quả càng chậm lại vì phải dùng dây cột vào thùng để kéo đất lên, người ở dưới phải đội mũ sắt để phòng ngừa bị đá rớt trúng đầu. Làm việc không có hạn giờ, cũng chẳng thu công phí nên anh em rất thoải mái, tà tà làm việc, sẵn có cái radio-cassette được anh Minh (cô Nhuận) cho mượn nên anh em vừa đào giếng vừa nghe nhạc ngoại quốc trên các băng tần làn sóng ngắn, dạo đó bản nhạc “How deep is your love” của ban The Bee Gees đang làm mưa làm gió trong các bảng xếp hạng Billboard, Top Ten.
Đã đào xuống được khá sâu mà chưa đụng phải đá tảng nên anh em rất phấn khởi, càng phấn khởi hơn khi thấy đất càng lúc càng ướt: dấu hiệu của mực nước gần kề. Và đến một ngày thì nước bắt đầu xuất hiện, cả nhà đều mừng vì mục đích đã gần đạt tới, nhưng công việc thì bị chậm hẳn lại vì lúc này còn có thêm công đoạn tát nước. Từ độ sâu khoảng 10 thước, phải kéo múc hết nước lên, đào, khoét, rồi lại múc kéo cả đất, cả nước lên, lại phải làm lẹ tay để cho nước mới ra không kịp ngập: ai cũng thấm mệt và lem lấm nước bùn.
Công việc không tiến triển như mình mong muốn, chỉ mới được khoảng một tấc nước thì có một tảng đá lộ diện, may là chỉ choán một phần giếng nên anh em vừa rán đẽo tảng đá vừa moi sâu thêm phần còn lại. Công đoạn đào giếng được coi như hoàn thành khi giếng đủ nước để múc mỗi lần khoảng 10 gàu liên tiếp, dẫu muốn đào sâu thêm một chút nữa nhưng anh em đành thúc thủ, tạm ngừng và hy vọng trong tương lai sẽ tiếp tục đẽo thêm.
Có lúc Thế đề nghị gài kíp nổ để phá đá nhưng vì tìm kiếm kíp nổ khó khăn và có thể gây nguy hiểm hoặc làm sụp giếng nên anh em đã không tiến hành theo chiều hướng đó. Không làm ở thời điểm đó, không biết những năm tháng sau này khi các anh đã đi xa, cái giếng có được “nâng cấp” hay không?
(Giang: Em cũng còn nhớ là các anh phải đào tới cái giếng thứ hai thì mới có nước, khi đã hoàn thành rồi vẫn còn một cục đá nhô ra khoảng 1/3 thiết diện nằm ở gần mặt nước. Vì cái cục đá này mà em rất khó khăn mỗi khi thả gàu (nhớ thời đó lại gọi bằng “đài”) xuống giếng, thả xuống hay kéo lên cũng phải lựa tư thế để né cục đá đó. Không biết mỗi cái “đài” xài được bao lâu mà cứ một thời gian thì lại có cái “đài” khác, tất cả đều không mấy an toàn và chắc chắn, có lúc cột cả cái xô sắt thả xuống múc nước quay lên thật là khổ sở. Rút kinh nghiệm, mấy chị em thả “đài” căn cho nó múc khoảng một nửa rồi quay lên cho nhẹ. Có khi thì “đài” đứt dây rớt luôn xuống giếng phải kiếm thùng khác cột vào. Ban đầu hình như dùng dây “mũi bò” để kéo nước, sau này có một sợi dây dù rất tốt và tay quay có gắn bạc đạn, không biết sứ mạng của nó chấm dứt lúc nào.
Ngoài chuyện đào giếng, em còn nhớ chuyện đào hầm trú ẩn nữa, hình như chỉ có anh Thạch với cha mà thôi, đào ngay ở trước nhà phía ông Vạn, chắc chắn là không có dịp nào để trú hầm nên cuối cùng lại lấp đi.)
Trận bóng rổ lịch sử
Xứ Xã Đoài, Đức Minh, (1977) – Buổi tối lễ Giáng Sinh, 25 tháng 12 năm 1977, vừa ăn cơm xong, anh Khiêm ghé nhà tìm và rủ đi chơi bóng rổ. Trời đất ! Từ lúc giải phóng đâu còn động đến banh, đâu còn chơi môn thể thao nào nữa. Chỉ có cuốc xẻng mà thôi. Không tập dợt gì cả, không chơi thử với đội banh để quen biết nhau, không chuẩn bị thể lực, khởi động hâm nóng gì hết. Thật là vô cùng bất ngờ. Mà anh Khiêm cũng không nói rõ đi chơi ở đâu và chơi với ai. Nhưng không có lý do gì để từ chối, nên cũng leo lên xe càng của anh Khiêm để vô sân bóng rổ nhà thờ Vinh An. Tới nơi mới giật mình ngỡ ngàng vì khán giả đông nghịt bao quanh sân. Rồi cũng bất đắc dĩ vào sân. Phía bên Vinh An có những đối thủ nào mình cũng không còn nhớ, chỉ nhận ra Tuấn, người làm trọng tài, là người ngoài Đức Minh mà mình đã quen, không còn nhớ quen trong hoàn cảnh ra sao.
Vậy mà trận đấu diễn ra vẫn tốt đẹp và lợi thế về phía xứ Xã Đoài của mình. Đội banh phía Xã đoài có 2 anh em Thạch Sơn, và một vài người khác cũng đi học xa nhà ở các dòng tu như Giu se hay La san, nên đều có dịp tập chơi bóng rổ. Mặc dầu không chuẩn bị, không tập dượt, nhưng vì được cổ động nhiều, và có yếu tố tâm lý thuận lợi, nên mình và Thạch đã làm mưa làm gió trên sân, làm bàn được nhiều trái ngoạn mục từ xa. Cho tới khoảng ¾ trận đấu thì đội Xã Đoài dẫn trước một khoảng khá xa hình như là mươi điểm. Về gần cuối, đội banh Vinh An đã thu ngắn khoảng cách, nhưng cũng không gỡ huề hay thắng được mà phải chịu thua.
Chỉ trừ những đứa em trong nhà và một vài người trong xứ là biết mình từ đâu tới, còn những người khác thì không biết, nên họ nghĩ mình là cầu thủ nào đó trên Ban mê thuột Xã đoài đã đi mướn về đánh thuê.
Trân đấu đã mang lại một sự vui mừng rất lớn cho xứ, và một niềm tự hào nơi mấy đứa em của mình, lúc đó còn rất nhỏ. Vân, Thế, Trinh và Nguyên thì còn nhớ rõ cảm giác thích thú vì đã theo dõi tại chỗ và nhìn thấy 2 anh tung hoành trên sân. Thủy, Quang, Giang, Vũ thì quá nhỏ để quan tâm đến bóng rổ và để biết chuyện gì đang xảy ra.
Tối hôm đó về, và kéo dài cả mấy tuần lễ sau đó, người đau nhức ê ẩm, nhất cử nhất động đều có một nơi nào đó trong người bị đau. Nghĩ lại, thấy may mắn là đã không bị thương tật gì nguy hiểm để lại hậu quả lâu dài.
Bây giờ, đã hơn 30 năm qua, mà vẫn có người đôi khi nhắc lại kỷ niệm của trận bóng rổ đêm hôm ấy.
(Trinh : Tới bây giờ em vẫn còn nhớ cái không khí háo hức và niềm vui thắng trận của đêm hôm đó, vui vô cùng !).
Vậy mà trận đấu diễn ra vẫn tốt đẹp và lợi thế về phía xứ Xã Đoài của mình. Đội banh phía Xã đoài có 2 anh em Thạch Sơn, và một vài người khác cũng đi học xa nhà ở các dòng tu như Giu se hay La san, nên đều có dịp tập chơi bóng rổ. Mặc dầu không chuẩn bị, không tập dượt, nhưng vì được cổ động nhiều, và có yếu tố tâm lý thuận lợi, nên mình và Thạch đã làm mưa làm gió trên sân, làm bàn được nhiều trái ngoạn mục từ xa. Cho tới khoảng ¾ trận đấu thì đội Xã Đoài dẫn trước một khoảng khá xa hình như là mươi điểm. Về gần cuối, đội banh Vinh An đã thu ngắn khoảng cách, nhưng cũng không gỡ huề hay thắng được mà phải chịu thua.
Chỉ trừ những đứa em trong nhà và một vài người trong xứ là biết mình từ đâu tới, còn những người khác thì không biết, nên họ nghĩ mình là cầu thủ nào đó trên Ban mê thuột Xã đoài đã đi mướn về đánh thuê.
Trân đấu đã mang lại một sự vui mừng rất lớn cho xứ, và một niềm tự hào nơi mấy đứa em của mình, lúc đó còn rất nhỏ. Vân, Thế, Trinh và Nguyên thì còn nhớ rõ cảm giác thích thú vì đã theo dõi tại chỗ và nhìn thấy 2 anh tung hoành trên sân. Thủy, Quang, Giang, Vũ thì quá nhỏ để quan tâm đến bóng rổ và để biết chuyện gì đang xảy ra.
Tối hôm đó về, và kéo dài cả mấy tuần lễ sau đó, người đau nhức ê ẩm, nhất cử nhất động đều có một nơi nào đó trong người bị đau. Nghĩ lại, thấy may mắn là đã không bị thương tật gì nguy hiểm để lại hậu quả lâu dài.
Bây giờ, đã hơn 30 năm qua, mà vẫn có người đôi khi nhắc lại kỷ niệm của trận bóng rổ đêm hôm ấy.
(Trinh : Tới bây giờ em vẫn còn nhớ cái không khí háo hức và niềm vui thắng trận của đêm hôm đó, vui vô cùng !).
Cũng do cái số
Người VN mình hay dùng 2 chữ “số phận” để cắt nghĩa cho sự may rủi tình cờ của đời người. Anh không tin ở số phận nhiều lắm, vì thấy nó hơi vô lý, nhưng ngẫm lại những chuyện xảy ra cho mình trong suốt gần 60 năm qua thì cũng phải nhìn nhận là có những chuyện mình chỉ có thể cắt nghĩa bằng số phận.
Số phận mà anh muốn nói tới ở đây là việc anh với anh Thạch hay được ở gần nhau, đúng như anh Phong đã nhận xét trong một lá thư viết cho anh đã lâu lắm rồi, khi nghe tin anh Thạch đã vượt biên thành công từ Cà Mau và đang ở trại tị nạn chờ đi định cư tại Canada. Nghĩ lại thì thấy thật đúng : anh Thạch với anh, cả 2 anh em đều đi tu học ở TCV Sao biển, cả 2 anh em đều xuống ở Bến Lội với cậu Hải, cả 2 anh em đều vượt biên, đều sống ở Canada, và ở gần nhau. Lúc nhỏ ở gần nhau, đi tu cũng cùng trường, đi lao động học cưa học mộc cũng ở cùng nhà cậu Hải, và lớn lên có gia đình và làm ăn cũng ở cùng thành phố luôn. Như là có cái số phận nó ràng buộc để 2 anh em đi đâu cũng có nhau, mặc dù có nhiều chuyện mình không định trước.
Như chuyện bị bệnh cùng một thời gian, và đi vô nhà thương thì cũng nằm cùng phòng 2 giường sát cạnh nhau, thật là tình cờ hi hữu.
Lúc đó là Tết năm 1976, nhà mình vừa dọn xuống Xã Đoài (Dakmil), anh Thạch còn ở lại thị xã Ban Mê Thuột (BMT) để học tiếp lớp 12. Anh về nghỉ Tết ở nhà xong, mới lên BMT để chuẩn bị trở lại Đà lạt. Dừng chân BMT anh đi Châu Sơn thăm người bạn, sau đó đón xe đi Hà Lan thăm gia đình dượng Liên. Đang lúc còn ở Hà Lan thì anh bị cảm, rồi phát sinh sốt rét, và bắt đầu sưng lá lách. Dượng Liên phải thuê xe chở anh lên nhà thương BMT. Lên tới nhà thương thì sốt mê man, không tỉnh táo để nhận ra chuyện gì rõ ràng, chỉ nhớ là anh Thạch có đến thăm, nói vài ba câu gì đó. Nhưng điều ngạc nhiên là sau đó vài ngày, lại thấy anh Thạch lò dò vô nằm ngay giường bên cạnh, vì anh Thạch cũng bị lên cơn sốt rét luôn.
(Thạch: Nghe tin anh Sơn bị sốt rét phải nằm nhà thương, tôi có ghé vào nhà thương thăm và biết anh Sơn nằm ở phòng nào, lúc đó tôi cũng đã ngây ngấy sốt nhưng chưa nặng lắm. Một, hai hôm sau thì tôi cũng lên cơn sốt nặng, nằm mê mệt ở nhà trọ. Sau buổi trưa, Mạnh (bạn chung nhà trọ, người Đức-mạnh) đi học về thấy tôi như thế nên đề nghị nên đi bệnh viện, vì đã có anh Sơn nằm ở đó nên tôi nghĩ tới đó nằm chung luôn cũng tiện, nên nhờ Mạnh bắt xe ôm tháp tùng tới bệnh viện, trùm mền bước vào phòng làm thủ tục. Sau khi được đo nhiệt độ và chẩn bệnh thì nhà thương dặn ngồi chờ để được đưa tới phòng, tôi nêu lý do là đã có ông anh hiện đang nằm viện vì sốt rét, xin được xếp vào phòng đó luôn cho tiện, thế là nhà thương xếp tôi vào cùng phòng với anh Sơn và bảo tôi tự đi tới đó chờ tới phiên bác sĩ khám. Tôi trùm mền lò dò đi vào phòng và leo lên nằm cùng giường với anh Sơn)
Không nhớ là nằm nhà thương được mấy ngày thì có Vân lên thăm. Thật là tội nghiệp ! Ở nhà cha mẹ kiếm tiền đưa cho Vân lên thăm 2 anh và nấu nướng chăm sóc người bệnh. Nhưng xe cộ nhồi lắc, đông người chen chúc làm sao đó mà có được 40 đồng trong túi lại bị rớt mất (40 đồng thời đó tương đương với triệu rưởi bây giờ). Anh còn nhớ hình ảnh của Vân lúc đó mặc cái áo cánh màu xanh lá mạ. Sau đó Vân ở đâu, ra vô nhà thương thế nào thì anh quên hết. Chỉ nhớ là nằm được chừng 4 ngày, khi thuốc ký ninh đã có hiệu quả và cơn sốt đã lui, thì cha lên thăm. Nhìn thấy cha bước vô tự nhiên nước mắt trào ra vì tủi thân. Được chừng 1 tuần lễ thì cả 2 anh em đều tỉnh táo hơn. Có những đêm, vì đã nằm ngủ nhiều quá, hay vì tác dụng của thuốc, mà 2 anh em không thể ngủ được, nên cả 2 đứa thức dậy đi lang thang mò mẫm khắp nhà thương, cho đến gần sáng mới về nằm ngủ.
Đi học chung trường thì chắc không phải tại số, mà đó là tại vì mình muốn như vậy, hay do cha mẹ sắp đặt như vậy. Đi lập nghiệp ở Bến Lội chung với nhau thì đó cũng là vì mình tính toán như vậy chớ không phải số. Nhưng bị sốt rét cùng thời gian và vô nhà thương cùng lúc và nằm cùng phòng thì có lẽ đúng là cái số rồi ! Chạy đằng trời cũng không khỏi số, cái số phải ở bên nhau … Không , phải nói là cái số ĐƯỢC ở bên nhau !
Số phận mà anh muốn nói tới ở đây là việc anh với anh Thạch hay được ở gần nhau, đúng như anh Phong đã nhận xét trong một lá thư viết cho anh đã lâu lắm rồi, khi nghe tin anh Thạch đã vượt biên thành công từ Cà Mau và đang ở trại tị nạn chờ đi định cư tại Canada. Nghĩ lại thì thấy thật đúng : anh Thạch với anh, cả 2 anh em đều đi tu học ở TCV Sao biển, cả 2 anh em đều xuống ở Bến Lội với cậu Hải, cả 2 anh em đều vượt biên, đều sống ở Canada, và ở gần nhau. Lúc nhỏ ở gần nhau, đi tu cũng cùng trường, đi lao động học cưa học mộc cũng ở cùng nhà cậu Hải, và lớn lên có gia đình và làm ăn cũng ở cùng thành phố luôn. Như là có cái số phận nó ràng buộc để 2 anh em đi đâu cũng có nhau, mặc dù có nhiều chuyện mình không định trước.
Như chuyện bị bệnh cùng một thời gian, và đi vô nhà thương thì cũng nằm cùng phòng 2 giường sát cạnh nhau, thật là tình cờ hi hữu.
Lúc đó là Tết năm 1976, nhà mình vừa dọn xuống Xã Đoài (Dakmil), anh Thạch còn ở lại thị xã Ban Mê Thuột (BMT) để học tiếp lớp 12. Anh về nghỉ Tết ở nhà xong, mới lên BMT để chuẩn bị trở lại Đà lạt. Dừng chân BMT anh đi Châu Sơn thăm người bạn, sau đó đón xe đi Hà Lan thăm gia đình dượng Liên. Đang lúc còn ở Hà Lan thì anh bị cảm, rồi phát sinh sốt rét, và bắt đầu sưng lá lách. Dượng Liên phải thuê xe chở anh lên nhà thương BMT. Lên tới nhà thương thì sốt mê man, không tỉnh táo để nhận ra chuyện gì rõ ràng, chỉ nhớ là anh Thạch có đến thăm, nói vài ba câu gì đó. Nhưng điều ngạc nhiên là sau đó vài ngày, lại thấy anh Thạch lò dò vô nằm ngay giường bên cạnh, vì anh Thạch cũng bị lên cơn sốt rét luôn.
(Thạch: Nghe tin anh Sơn bị sốt rét phải nằm nhà thương, tôi có ghé vào nhà thương thăm và biết anh Sơn nằm ở phòng nào, lúc đó tôi cũng đã ngây ngấy sốt nhưng chưa nặng lắm. Một, hai hôm sau thì tôi cũng lên cơn sốt nặng, nằm mê mệt ở nhà trọ. Sau buổi trưa, Mạnh (bạn chung nhà trọ, người Đức-mạnh) đi học về thấy tôi như thế nên đề nghị nên đi bệnh viện, vì đã có anh Sơn nằm ở đó nên tôi nghĩ tới đó nằm chung luôn cũng tiện, nên nhờ Mạnh bắt xe ôm tháp tùng tới bệnh viện, trùm mền bước vào phòng làm thủ tục. Sau khi được đo nhiệt độ và chẩn bệnh thì nhà thương dặn ngồi chờ để được đưa tới phòng, tôi nêu lý do là đã có ông anh hiện đang nằm viện vì sốt rét, xin được xếp vào phòng đó luôn cho tiện, thế là nhà thương xếp tôi vào cùng phòng với anh Sơn và bảo tôi tự đi tới đó chờ tới phiên bác sĩ khám. Tôi trùm mền lò dò đi vào phòng và leo lên nằm cùng giường với anh Sơn)
Không nhớ là nằm nhà thương được mấy ngày thì có Vân lên thăm. Thật là tội nghiệp ! Ở nhà cha mẹ kiếm tiền đưa cho Vân lên thăm 2 anh và nấu nướng chăm sóc người bệnh. Nhưng xe cộ nhồi lắc, đông người chen chúc làm sao đó mà có được 40 đồng trong túi lại bị rớt mất (40 đồng thời đó tương đương với triệu rưởi bây giờ). Anh còn nhớ hình ảnh của Vân lúc đó mặc cái áo cánh màu xanh lá mạ. Sau đó Vân ở đâu, ra vô nhà thương thế nào thì anh quên hết. Chỉ nhớ là nằm được chừng 4 ngày, khi thuốc ký ninh đã có hiệu quả và cơn sốt đã lui, thì cha lên thăm. Nhìn thấy cha bước vô tự nhiên nước mắt trào ra vì tủi thân. Được chừng 1 tuần lễ thì cả 2 anh em đều tỉnh táo hơn. Có những đêm, vì đã nằm ngủ nhiều quá, hay vì tác dụng của thuốc, mà 2 anh em không thể ngủ được, nên cả 2 đứa thức dậy đi lang thang mò mẫm khắp nhà thương, cho đến gần sáng mới về nằm ngủ.
Đi học chung trường thì chắc không phải tại số, mà đó là tại vì mình muốn như vậy, hay do cha mẹ sắp đặt như vậy. Đi lập nghiệp ở Bến Lội chung với nhau thì đó cũng là vì mình tính toán như vậy chớ không phải số. Nhưng bị sốt rét cùng thời gian và vô nhà thương cùng lúc và nằm cùng phòng thì có lẽ đúng là cái số rồi ! Chạy đằng trời cũng không khỏi số, cái số phải ở bên nhau … Không , phải nói là cái số ĐƯỢC ở bên nhau !
Kỷ niệm về Vũ
Vũ là con út trong nhà. Em được sinh ra vào tháng sáu 1975 đang là mùa mưa ở Ban mê thuột. Khi ấy các anh chị đã tụ tập về nhà đầy đủ sau cơn biến động tháng tư năm 1975. Trong nhà lúc ấy có tất cả đủ 10 đứa con từ chị Tuyết xuống cho tới Giang và mẹ, chỉ thiếu cha vì đang đi học tập. Khi mẹ đang ở nhà thương thì chị Tuyết mới tập họp các em lại và nói bây giờ mình nghĩ ra tên gì để đặt cho em bé vừa mới sinh. Nhà mình đang ở trong vùng rừng rú mà mưa liên tiếp từ mấy ngày qua nên chỉ sau vài phút bàn luận thì ai cũng thấy tên Lâm Vũ là trọn vẹn ý nghĩa vì Lâm là rừng và Vũ là mưa. Em Vũ như trận mưa rừng đang đổ ập xuống căn nhà gỗ mái tôn nơi tất cả các chị em đang quây quần bên nhau.
Hoàn cảnh mẹ đi sinh Vũ là cả một biến cố đáng ghi nhớ. Buổi chiều tối trước khi đi ngủ mẹ đã thấy khác trong người và biết là sắp sinh, nên mẹ mượn xe Honda của mợ Trực và dặn Thạch chuẩn bị để khi nào tới lúc cần thì chở mẹ đi nhà thương. Xe mợ để nhờ trong nhà của mình. Đêm đang ngủ nghe tiếng mẹ lục đục, rồi mẹ kêu Thạch dậy, anh cũng dậy theo.
(Thạch : Xe của mợ là loại xe Honda Dame, tuy cũng có đôi khi đã lái nhưng không rành rẽ lắm. Lúc đó chắc khoảng 5 giờ sáng, trong ánh đèn lờ mờ, hai anh em tìm được một chỗ, nghĩ là cái khóa xăng, và đẩy qua một vị trí khác với suy đoán là xăng đang khóa, đẩy qua vị trí ngược lại sẽ là mở. Xe nổ máy, Thạch chở mẹ và Vân đi nhà thương. Đi được tới gần bến xe ở cây số 3 thì xe Honda chết máy, đạp sao cũng không nổ, có vài người tới phụ đạp cũng không được. Thạch đành bỏ mẹ và Vân tại đó rồi cho xe thả dốc quay về, gần tới nhà mới phải dắt xe. Sau này về nhà nói chuyện với mợ Trực mới khám phá ra là thay vì mở bình xăng xơ cua, thì 2 anh em đã khóa xăng lại. Thật là xui xẻo ! Nếu mở bình xăng xơ cua thì xe còn chạy được cả trăm km nữa ngon lành chớ đâu đến nỗi phải để mẹ và Vân đi bộ giữa đường như thế).
Lúc này tình hình đã gấp rút lắm rồi, vì mẹ đang đau bụng rên hừ hừ, mà từ đó tới nhà thương còn xa lắm. Không còn cách nào khác hơn là mẹ phải tiếp tục cuốc bộ, Vân cầm đèn lẽo đeo theo bên cạnh. Tình hình thật bi đát. Khi Thạch dắt xe về đến nhà cho biết là xe hết xăng mẹ phải đi bộ thì mấy chị em lo lắng vô cùng, không biết mẹ có đón được xe hay không, không biết mẹ có kịp tới nhà thương để sinh hay không, hay phải sinh ngay giữa đường ? Lo lắng bồn chồn nhưng có làm gì được đâu. Sáng ra lên nhà thương thăm mẹ, thì mẹ đã sinh rồi, và nghe kể lại là mẹ với Vân đi bộ thêm một đoạn nữa thì đón được xe lam. Ông tài xế vừa chở mẹ đi vừa khấn vái trời phật cho mẹ đừng sinh ra dọc đường ngay trên xe của ông ta, vì sẽ rất phiền toái và có thể bị xui xẻo trong việc làm ăn. Xe đưa tới nhà thương thì cổng vào đóng kín, kêu cửa không có ai nên mẹ đã leo hàng rào mà vô. Thật không ai tưởng tượng ra được hoàn cảnh một bà bầu, sắp sinh, mà còn có sức để đi bộ một quãng xa như vậy và còn leo hàng rào để vô nhà thương.
Dĩ nhiên là cuộc sống gánh-vác-nặng-nhọc-trèo-cây-bẻ-lá-nuôi-hươu của mẹ từ nhỏ đã giúp mẹ cứng cáp lạnh lẹ trong mọi tình huống như thế, nhưng không thể không nhận ra nghị lực phi thường của một người mẹ thương con và hy sinh cho con. Trời bắt mẹ lam lũ cực nhọc, nhưng Trời lại thương cho mẹ sinh ra em Vũ khỏe mạnh bình an, không gặp khó khăn hay trắc trở gì cả. Cũng như trong 11 lần sinh nở trước đó, lần nào cũng “mẹ tròn con vuông”. Mẹ kể lại là những lần mẹ đi sinh bác sĩ luôn hỏi là mẹ bao nhiêu đứa con rồi, và mẹ nói số lần sinh thì bác sĩ nào cũng sợ, và dặn mẹ là nếu có biến chứng hay khó khăn gì thì họ phải can thiệp và giải phẫu ngay, nếu không thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Các bác sĩ cẩn thận như thế vì sau vài lần sinh con, cơ thể người mẹ trở nên yếu và dễ gặp biến chứng. Đúng là trời thương, lần sinh nào mẹ cũng khỏe, bằng an mà các con cũng ăn ngoan mau lớn. Trong trường hợp út Vũ thì hơi khác, vì trong mấy tháng đầu Vũ hay đau bụng và quấy khóc đêm nhiều lắm, so với các anh chị khác.
(Nguyên : Lúc mới sinh, Vũ có những bệnh lạ. Kinh nghiệm nuôi mười đứa con như cha mẹ cũng đành chào thua. Chứng bệnh đau bụng và khóc đêm có lẽ mang đến cho cha mẹ nhiều phiền toái nhất. Đến nỗi lực lượng quân sự canh phòng hằng đêm cũng phải ghé xem sự thể ra sao. May sao có ai bày uống mật heo mới ổn được …Ai ngờ bây giờ lại to bự nhất nhà.)
Hoàn cảnh mẹ đi sinh Vũ là cả một biến cố đáng ghi nhớ. Buổi chiều tối trước khi đi ngủ mẹ đã thấy khác trong người và biết là sắp sinh, nên mẹ mượn xe Honda của mợ Trực và dặn Thạch chuẩn bị để khi nào tới lúc cần thì chở mẹ đi nhà thương. Xe mợ để nhờ trong nhà của mình. Đêm đang ngủ nghe tiếng mẹ lục đục, rồi mẹ kêu Thạch dậy, anh cũng dậy theo.
(Thạch : Xe của mợ là loại xe Honda Dame, tuy cũng có đôi khi đã lái nhưng không rành rẽ lắm. Lúc đó chắc khoảng 5 giờ sáng, trong ánh đèn lờ mờ, hai anh em tìm được một chỗ, nghĩ là cái khóa xăng, và đẩy qua một vị trí khác với suy đoán là xăng đang khóa, đẩy qua vị trí ngược lại sẽ là mở. Xe nổ máy, Thạch chở mẹ và Vân đi nhà thương. Đi được tới gần bến xe ở cây số 3 thì xe Honda chết máy, đạp sao cũng không nổ, có vài người tới phụ đạp cũng không được. Thạch đành bỏ mẹ và Vân tại đó rồi cho xe thả dốc quay về, gần tới nhà mới phải dắt xe. Sau này về nhà nói chuyện với mợ Trực mới khám phá ra là thay vì mở bình xăng xơ cua, thì 2 anh em đã khóa xăng lại. Thật là xui xẻo ! Nếu mở bình xăng xơ cua thì xe còn chạy được cả trăm km nữa ngon lành chớ đâu đến nỗi phải để mẹ và Vân đi bộ giữa đường như thế).
Lúc này tình hình đã gấp rút lắm rồi, vì mẹ đang đau bụng rên hừ hừ, mà từ đó tới nhà thương còn xa lắm. Không còn cách nào khác hơn là mẹ phải tiếp tục cuốc bộ, Vân cầm đèn lẽo đeo theo bên cạnh. Tình hình thật bi đát. Khi Thạch dắt xe về đến nhà cho biết là xe hết xăng mẹ phải đi bộ thì mấy chị em lo lắng vô cùng, không biết mẹ có đón được xe hay không, không biết mẹ có kịp tới nhà thương để sinh hay không, hay phải sinh ngay giữa đường ? Lo lắng bồn chồn nhưng có làm gì được đâu. Sáng ra lên nhà thương thăm mẹ, thì mẹ đã sinh rồi, và nghe kể lại là mẹ với Vân đi bộ thêm một đoạn nữa thì đón được xe lam. Ông tài xế vừa chở mẹ đi vừa khấn vái trời phật cho mẹ đừng sinh ra dọc đường ngay trên xe của ông ta, vì sẽ rất phiền toái và có thể bị xui xẻo trong việc làm ăn. Xe đưa tới nhà thương thì cổng vào đóng kín, kêu cửa không có ai nên mẹ đã leo hàng rào mà vô. Thật không ai tưởng tượng ra được hoàn cảnh một bà bầu, sắp sinh, mà còn có sức để đi bộ một quãng xa như vậy và còn leo hàng rào để vô nhà thương.
Dĩ nhiên là cuộc sống gánh-vác-nặng-nhọc-trèo-cây-bẻ-lá-nuôi-hươu của mẹ từ nhỏ đã giúp mẹ cứng cáp lạnh lẹ trong mọi tình huống như thế, nhưng không thể không nhận ra nghị lực phi thường của một người mẹ thương con và hy sinh cho con. Trời bắt mẹ lam lũ cực nhọc, nhưng Trời lại thương cho mẹ sinh ra em Vũ khỏe mạnh bình an, không gặp khó khăn hay trắc trở gì cả. Cũng như trong 11 lần sinh nở trước đó, lần nào cũng “mẹ tròn con vuông”. Mẹ kể lại là những lần mẹ đi sinh bác sĩ luôn hỏi là mẹ bao nhiêu đứa con rồi, và mẹ nói số lần sinh thì bác sĩ nào cũng sợ, và dặn mẹ là nếu có biến chứng hay khó khăn gì thì họ phải can thiệp và giải phẫu ngay, nếu không thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Các bác sĩ cẩn thận như thế vì sau vài lần sinh con, cơ thể người mẹ trở nên yếu và dễ gặp biến chứng. Đúng là trời thương, lần sinh nào mẹ cũng khỏe, bằng an mà các con cũng ăn ngoan mau lớn. Trong trường hợp út Vũ thì hơi khác, vì trong mấy tháng đầu Vũ hay đau bụng và quấy khóc đêm nhiều lắm, so với các anh chị khác.
(Nguyên : Lúc mới sinh, Vũ có những bệnh lạ. Kinh nghiệm nuôi mười đứa con như cha mẹ cũng đành chào thua. Chứng bệnh đau bụng và khóc đêm có lẽ mang đến cho cha mẹ nhiều phiền toái nhất. Đến nỗi lực lượng quân sự canh phòng hằng đêm cũng phải ghé xem sự thể ra sao. May sao có ai bày uống mật heo mới ổn được …Ai ngờ bây giờ lại to bự nhất nhà.)
Chuyến đi dài
Năm 1975, anh đang học tại Đại Chủng Viện Giáo Hoàng Học Viện thánh Pio X ở Đà Lạt. Về nghỉ Tết xong vừa trở lại trường, đang chuẩn bị Phục Sinh thì nghe tin Ban mê thuột bị chiếm. Sau đó không lâu, tin xấu tràn về, ai cũng thấp thỏm lo âu. Sau lễ thánh Giuse 19.03.1975, các cha dòng Tên thuê xe chở các thầy theo đoàn xe di tản từ Đà lạt về Phan rang. Ở Phan rang, nơi tập trung đông đảo của những người chạy giặc từ Nha trang vào, và từ Đà lạt xuống, nên náo nhiệt vô kể. Nhưng dầu sao, nhờ vị trí ven biển, nhờ có làng Tri Thủy là quê hương của tổng thống đương thời Nguyễn Văn Thiệu, nên không ai ngờ rằng Phan Rang sẽ bị bỏ ngõ. Ở Phan rang vài hôm, mình đi vô Phan thiết. Đi bằng phương tiện gì, đi với ai, bây giờ không còn ý niệm gì. Phan thiết lúc này vẫn bình thường.. Trong thời gian ở Vinh Thủy, thì gặp Thạch từ bên Vinh phú về. Thạch theo bạn bè từ Nha trang về thẳng Bình Tuy, rồi sau đó trở ra Phan thiết, tá túc nơi nhà chú Điều (chú Điều ở Vinh Phú là người cùng quê Song Ngọc với gia đình mình và có họ hàng xa xa theo mối liên hệ như sau: ông nội của cha là anh ruột của bà nội chú Điều). 2 anh em gặp nhau. Nhưng hình như mỗi đứa ở mỗi nơi. Thạch ở trong nhà xứ Vinh thủy với cha Hiên còn mình ở ngoài nhà xứ Thuận nghĩa với cha Cung. Có o Lài ở trong nhà xứ. Trong thời gian ở Vinh Thủy vẫn đi lại chơi với nhà ông bà Chức, nhà ông Chinh, và nhà ông Yên. Ngôi nhà của mình ở Vinh Thủy bỏ trống từ khi cả nhà di chuyển lên Ban mê thuột vào năm 1973, đến lúc đó vẫn chưa bán được.
(Thạch: Trong thời gian loạn lạc, thương cảnh lạc lõng của 2 anh em nên có nhiều gia đình cũng ngỏ ý muốn bao che: gia đình ông Yên, ông Chinh, chị Chức. Đường Phan-thiết đi Bình-tuy không còn thông nữa. Lần lượt, nhiều gia đình bỏ Phan-thiết lên ghe đi Vũng-tàu, gia đình chị Chức là một trong những gia đình còn nấn ná ở lại nhưng cuối cùng cũng khăn gói ra bến ghe Phú-hài nằm chờ cơ hội kiếm ra chỗ trên ghe, 2 anh em cũng cùng chờ với gia đình chị Chức.
Số người chờ đợi thì đông trong khi ghe cộ thì không có mấy, còn phải tranh dành nên nằm đã mấy ngày mà vẫn chưa đi được. Vào thời điểm này có tin Nha-trang bỏ ngỏ, nhà tù bị phá cửa, dòng người di tản, trộn lẫn với các đơn vị quân đội tan hàng từ miền Trung đổ vào, qua Phan-rang vào đến Phan-thiết. Phan thiết là trạm chờ cuối cùng vì không thể đi xa hơn được nữa. mới tạm lắng dịu nhưng số người chờ đợi một cơ hội để bắt ghe vào Vũng-tàu tăng lên gấp bội, hỗn loạn cũng gia tăng vì tàn quân không có ai kiểm soát.
Có một buổi tối, ngồi trên nhà sàn trên sông, 2 anh em nói chuyện với một người mới tới trong dòng người chạy loạn từ Nha-trang, anh ta ngao ngán tường thuật những diễn tiến đã trải qua trên chặng đường và kết thúc bằng một câu “tôi chỉ còn có một thứ, mà thôi, bây giờ cũng chẳng cần giữ nó làm gì nữa”, sau đó anh ta thọc tay vào người lôi ra một vật gì, ném cái “tủm” xuống sông và từ giã. Anh đoán đó là khẩu súng nên đợi anh ta đi khỏi hồi lâu, anh cởi đồ mò xuống chỗ anh ta vừa ném và tìm được khẩu súng Colt ngắn. Trong những ngày chờ đợi thì cũng có lúc đi tới đi lui về Vinh-thủy, có lúc 2 anh em cùng đi với con chó lửa đó trong người. Về sau khi Phan thiết đã có sự hiện diện của quân đội giải phóng thì anh đã ném khẩu súng xuống giếng đàng sau nhà chú Bích để phi tang.
Cuối cùng, thấy tìm chỗ khó khăn lại không muốn phiền lụy gia đình chị Chức, 2 anh em quyết định ở lại, anh ở với thầy Cung nơi nhà cha già Khiêm, Thạch ở trong nhà xứ cha Hiên với Nguyễn Vĩnh Long, bạn cùng thời lớp nhì (lớp 4), cùng nhảy lớp để lên đệ thất, sau đi tu muộn ở Lâm Bích (Nha-trang))
Nhưng ít hôm sau thì làn sóng người tị nạn tràn về nhiều hơn nữa. Thạch và mình vẫn ở lại Phan thiết vì không biết đi đâu. Trong thời gian này, giữa tháng tư 1975, kỷ niệm đáng nhớ là lên phi trường đón Đức Giám Mục Huỳnh văn Nghi từ Sài gòn về nhậm chức Giám mục địa phận Phan thiết, là địa phận mới lập do được tách rời khỏi địa phận Nha trang, bao gồm 2 tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy.
Vào ngày 19 tháng 4, 1975 thì vc tràn vô tới Phan thiết. Người ta hoang mang, chạy náo loạn, vì không biết đi đâu, và làm gì. Chính quyền cũ không còn, mà chính quyền mới không biết là ai. Bỗng dưng thấy lo sợ, và mình chạy ra ngoài Vinh Phú, gặp mấy cô con chú È, hỏi thăm thuyền để đi vô Sài gòn. Ra Vinh Phú không gặp được nhiều người mà tình cờ gặp được một chị, mình hỏi thăm và tự giới thiêu tôi là thầy Sơn bên Vinh thủy, muốn tìm ghe thuyền vô Vũng tàu, nhờ chị chỉ dẫn. Ngay chiều hôm sau chị ấy chạy xe ra tìm mình ngoài Vinh thủy và nói là có thuyền đi, nếu muốn đi thì chuẩn bi liền. Được tin, chạy đi tìm Thạch, rồi 2 anh em nhờ người chở sang Vinh Phú, đến nhà chị ta. Chị ấy còn dọn cơm mời ăn nữa, nhưng lòng dạ đâu mà ăn, mình chỉ ăn vài ba miếng. Bây giờ nghĩ lại vẫn thấy cảm kích trước lòng tốt của chị ta, một người mình không quen biết gì trước, mà đã có lòng quan tâm và bỏ công đi tìm tòi và thông báo cho mình về chuyến đi.
Ngay chiều hôm đó, Thạch và mình xuống thuyền đi Vũng Tàu. Tới nơi, lên bờ, đón xe về Sài gòn. Sài gòn vẫn còn là vùng tự do, vì lúc ấy, những ngày cuối tháng 4, năm 1975, Sài gòn đang hỗn loạn vì những tin đồn ngược xuôi về chuyện đánh hay đầu hàng. Tới Sài gòn, ghé về nhà bác Châu bên Võ di Nguy – Phú Nhuận (hay là nhà chị Nguyệt anh Đăng, ở Nguyễn Cư Trinh – Phát Diệm). Sau đó đi Thủ đức tìm Phong. Và ít hôm sau, cả 3 anh em cùng đi xuống Cần Thơ thăm chị Tuyết. Có cả Trần Liên là bạn học của mình ở GHHV Đalat.
(Thạch: Tới Vũng Tàu, Sơn+Thạch đón xe đò về SG, xuống xe ở Thủ-đức để tìm Phong tại dòng Phan-xi-cô, gặp Phong còn lại một mình ở đó nên 3 anh em cùng đi tiếp vào SG. Trước khi đón xe có ghé vào quán nước uống côca, Thạch có nghe ai đó chỉ là bỏ chút muối vào coca thì uống vào sẽ không bị ợ, Phong cũng đồng tình vì hình như cũng có nghe nói vậy nên 2 anh em xin chút muối để bỏ vào nước: đúng là không bị ợ hơi nhưng chỉ tổ mất một buổi tối khó chịu vì cái bụng ách hơi lúc ở nhà o Lân (không phải nhà bác Châu).
Anh Sơn có 1 trụ sở của dòng Tên để liên lạc, nằm trên đường Yên-đổ (?), rất gần nhà o Lân nên anh Sơn có dẫn Thạch và Phong đi bộ từ nhà o Lân ghé tới đó, gặp bạn anh Sơn (thầy Liên). Hình như ở đó cũng có thầy nào biết về Cần-thơ và dòng Chúa Quan Phòng nên chỉ dẫn đường đi làm anh Sơn có ý định ghé xuống chị Tuyết.
Nằm ở SG không làm gì, cũng là trọ nhà người khác, lại không biết lúc nào yên ổn nên ai cũng đồng lòng đi thăm chị Tuyết, có thêm thầy Liên đi theo. Khi tới bến xe Cần-thơ có bị cảnh sát hỏi giấy, anh Sơn đã có giấy hoãn dịch tu sĩ, Phong thì còn nhỏ, chỉ có Thạch là đúng trong hạn tổng động viên mới được ban hành nhưng nhờ sinh vào cuối năm nên còn hơn 1 tháng nữa mới tới hạn trình diện, lý do chính xác nên việc xét giấy tờ êm xuôi. Bốn người lên xe lôi trực chỉ nhà dòng Chúa Quan Phòng. Xe lôi ở Cần thơ có dạng như xe xích lô nhưng lớn hơn một chút và do xe Honda kéo đi.
Ở Cần-thơ được 1 hay 2 hôm thì anh Sơn và thầy Liên đi Phú-quốc, Thạch và Phong ở lại nhà dòng vì đường xe về SG đã bị tắc. Từ đây mất liên lạc với anh Sơn cho tới lúc gặp lại ở Ban-mê-thuột)
(Phong: Tình hình ở Cần Thơ yên ắng, nhất là trong tu viện. Mấy anh em được nhà dòng ưu ái, cho ăn uống tử tế, suốt ngày đi rong chơi trong khuôn viên nhà dòng. Sau khi anh Sơn đi Phú Quốc được vài ngày, một buổi sáng khi đến nhà nguyện dự lễ mới hay tin VC đã vào đến SG. Không hiểu lúc đó sợ gì mà các xơ dặn dò đừng gọi bằng “xơ” nữa mà gọi bằng “chị”. Ngày hôm đó, đài phát thanh phát lời kêu gọi binh lính đầu hàng của TT Dương Văn Minh. Qua 2,3 ngày sau, Thạch và Phong mới trở về Sài Gòn. Như vậy thời gian ở Cần Thơ khoảng 7-10 ngày).
Ghé dòng Chúa Quan Phòng Cần Thơ, cả dòng vui mừng vì được gặp các em của Sr Tuyết. Ăn uống vui vẻ. Ít hôm sau, Thạch và Phong quay trở lại SG, còn anh với thầy Liên tiếp tục đi ra Phú Quốc. Đây là lần thứ hai mình ra Phú Quốc chơi thăm Trông. Khi đang ở Phú quốc thì được nghe tin đầu hàng của chính phủ Dương văn Minh.
(Chị Tuyết: Chị đi tu từ ngày 15/06/1964 lúc mới có 12 tuổi. Đến năm 1975 là được 11 năm nhưng lúc bấy giờ chưa được lên chức “xơ” đâu. Chị hãy còn trong giai đoạn gọi là “Nhà Tập”, kéo dài 2 năm, là giai đoạn học đặc biệt về đời tu và thử tập sống đời tu xem có thích hợp với mình không. Khi biến cố xảy đến là chị mới xong một năm thứ nhất thôi. Sau khi ba anh em rời nhà dòng, biến cố xảy đến, thì các chị nhà Tập cùng lớp với chị cũng được nhà Dòng cho về nhà hết. Chỉ còn chị với chị Trầm, người ở ngoài Đức Mạnh là nhà xa và ở trong vùng nguy hiểm nên còn nán ở lại một thời gian nữa với bà thầy nhà Tập là xơ Joseph-Marie mà hiện nay là bề trên Tổng quyền của Hội Dòng mà anh Sơn và Thạch có dịp gặp ở Paris.
Chuyến trở về nhà chắc chắn là khó khăn lắm nhưng chị không còn nhớ ra sao nữa. Chỉ thấy thiên hạ đi lại tấp nập, đồ đạc lỉnh kỉnh. Nhất là hai bên đường thì đầy dẫy những xác xe đủ loại.
**** Ghi chú: Thời gian chị ở nhà là mẹ sinh em Vũ. Lúc đó cha đã đi học tập, viết thư nhắn mẹ, khi sinh mà gặp khó khăn thì bổ đôi trái đu đủ sống úp vào bàn chân gì đó … Số mẹ cực, có mang vẫn cứ làm việc cho đến ngày sinh. Hình như tối hôm trước khi sinh, mẹ luộc khoai ăn ban đêm. Sáng sớm mẹ dọn đồ để đi nhà thương. Thạch lấy xe tính chở mẹ đi, nhưng đạp máy hoài không nổ. Mẹ đành phải đi bộ lên nhà thương, chị không biết cách nhà mình bao xa. Khi người nhà lên đến nhà thương thì em Vũ đã mở mắt chào đời rồi !****
Chị còn ở nhà một thời gian nữa, đến khoảng tháng 7 thì cùng với chị Trầm trở lại nhà Dòng. Vào đến Sài Gòn thì nghe nói các chị cùng lớp đã khấn (tức là làm xơ) hết rồi. Cả hai không tin, vì đúng ra là phải một năm nữa mới được khấn. Xuống Cần Thơ thì quả là không còn nghi ngờ gì nữa. Các chị đã khấn và được gửi ra các xứ đạo hết rồi ! Sợ cs đến không cho tu nữa nên Bề trên đã quyết định cho “khấn non” trước một năm. Chị và chị Trầm may mắn có khoảng một tuần để chuẩn bị tâm hồn và khấn vào ngày 12/07/1975. Sau đó cả hai được gửi đi nơi khỉ ho cò gáy có tên là Cái Rắn thuộc tỉnh Cà Mau, nơi mà sau này khi đi học Cần thơ Trinh có xuống ở mấy ngày.)
Trong thời gian ở Phú Quốc, dân chúng làm nghề chài lưới dùng ghe đi ra khơi để lên tàu lớn. Lúc đó không ai biết đi như thế để làm gì, và sẽ đi tới đâu. Không ai tưởng tượng được là sẽ đi lập nghiệp ở một nơi nào khác. Mình không đi theo vì không biết gia đình ra sao. Ở lại thì dẫu xáo trộn, nhưng vẫn chắc hơn là ra đi. Gia đình Trông đi hết, giao chìa khóa nhà lại cho mình. Đến sáng thì thấy cả nhà Trông quay về, trừ bà mẹ. Tức là trong lúc chờ đợi lên tàu lớn, có người lên được, người chưa. Mẹ Trông ra đi viễn xứ một mình, trong khi các con kẹt ở lại.
Ít hôm sau, mình rời Phú quốc trở lại đất liền, về Sài gòn, rồi lần mò về BMT. Gặp Phong và Thạch ở nhà sẵn. Đó là vào tháng 5, 1975. Cha đã đi học tập.
(Thạch: Trong thời gian loạn lạc, thương cảnh lạc lõng của 2 anh em nên có nhiều gia đình cũng ngỏ ý muốn bao che: gia đình ông Yên, ông Chinh, chị Chức. Đường Phan-thiết đi Bình-tuy không còn thông nữa. Lần lượt, nhiều gia đình bỏ Phan-thiết lên ghe đi Vũng-tàu, gia đình chị Chức là một trong những gia đình còn nấn ná ở lại nhưng cuối cùng cũng khăn gói ra bến ghe Phú-hài nằm chờ cơ hội kiếm ra chỗ trên ghe, 2 anh em cũng cùng chờ với gia đình chị Chức.
Số người chờ đợi thì đông trong khi ghe cộ thì không có mấy, còn phải tranh dành nên nằm đã mấy ngày mà vẫn chưa đi được. Vào thời điểm này có tin Nha-trang bỏ ngỏ, nhà tù bị phá cửa, dòng người di tản, trộn lẫn với các đơn vị quân đội tan hàng từ miền Trung đổ vào, qua Phan-rang vào đến Phan-thiết. Phan thiết là trạm chờ cuối cùng vì không thể đi xa hơn được nữa. mới tạm lắng dịu nhưng số người chờ đợi một cơ hội để bắt ghe vào Vũng-tàu tăng lên gấp bội, hỗn loạn cũng gia tăng vì tàn quân không có ai kiểm soát.
Có một buổi tối, ngồi trên nhà sàn trên sông, 2 anh em nói chuyện với một người mới tới trong dòng người chạy loạn từ Nha-trang, anh ta ngao ngán tường thuật những diễn tiến đã trải qua trên chặng đường và kết thúc bằng một câu “tôi chỉ còn có một thứ, mà thôi, bây giờ cũng chẳng cần giữ nó làm gì nữa”, sau đó anh ta thọc tay vào người lôi ra một vật gì, ném cái “tủm” xuống sông và từ giã. Anh đoán đó là khẩu súng nên đợi anh ta đi khỏi hồi lâu, anh cởi đồ mò xuống chỗ anh ta vừa ném và tìm được khẩu súng Colt ngắn. Trong những ngày chờ đợi thì cũng có lúc đi tới đi lui về Vinh-thủy, có lúc 2 anh em cùng đi với con chó lửa đó trong người. Về sau khi Phan thiết đã có sự hiện diện của quân đội giải phóng thì anh đã ném khẩu súng xuống giếng đàng sau nhà chú Bích để phi tang.
Cuối cùng, thấy tìm chỗ khó khăn lại không muốn phiền lụy gia đình chị Chức, 2 anh em quyết định ở lại, anh ở với thầy Cung nơi nhà cha già Khiêm, Thạch ở trong nhà xứ cha Hiên với Nguyễn Vĩnh Long, bạn cùng thời lớp nhì (lớp 4), cùng nhảy lớp để lên đệ thất, sau đi tu muộn ở Lâm Bích (Nha-trang))
Nhưng ít hôm sau thì làn sóng người tị nạn tràn về nhiều hơn nữa. Thạch và mình vẫn ở lại Phan thiết vì không biết đi đâu. Trong thời gian này, giữa tháng tư 1975, kỷ niệm đáng nhớ là lên phi trường đón Đức Giám Mục Huỳnh văn Nghi từ Sài gòn về nhậm chức Giám mục địa phận Phan thiết, là địa phận mới lập do được tách rời khỏi địa phận Nha trang, bao gồm 2 tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy.
Vào ngày 19 tháng 4, 1975 thì vc tràn vô tới Phan thiết. Người ta hoang mang, chạy náo loạn, vì không biết đi đâu, và làm gì. Chính quyền cũ không còn, mà chính quyền mới không biết là ai. Bỗng dưng thấy lo sợ, và mình chạy ra ngoài Vinh Phú, gặp mấy cô con chú È, hỏi thăm thuyền để đi vô Sài gòn. Ra Vinh Phú không gặp được nhiều người mà tình cờ gặp được một chị, mình hỏi thăm và tự giới thiêu tôi là thầy Sơn bên Vinh thủy, muốn tìm ghe thuyền vô Vũng tàu, nhờ chị chỉ dẫn. Ngay chiều hôm sau chị ấy chạy xe ra tìm mình ngoài Vinh thủy và nói là có thuyền đi, nếu muốn đi thì chuẩn bi liền. Được tin, chạy đi tìm Thạch, rồi 2 anh em nhờ người chở sang Vinh Phú, đến nhà chị ta. Chị ấy còn dọn cơm mời ăn nữa, nhưng lòng dạ đâu mà ăn, mình chỉ ăn vài ba miếng. Bây giờ nghĩ lại vẫn thấy cảm kích trước lòng tốt của chị ta, một người mình không quen biết gì trước, mà đã có lòng quan tâm và bỏ công đi tìm tòi và thông báo cho mình về chuyến đi.
Ngay chiều hôm đó, Thạch và mình xuống thuyền đi Vũng Tàu. Tới nơi, lên bờ, đón xe về Sài gòn. Sài gòn vẫn còn là vùng tự do, vì lúc ấy, những ngày cuối tháng 4, năm 1975, Sài gòn đang hỗn loạn vì những tin đồn ngược xuôi về chuyện đánh hay đầu hàng. Tới Sài gòn, ghé về nhà bác Châu bên Võ di Nguy – Phú Nhuận (hay là nhà chị Nguyệt anh Đăng, ở Nguyễn Cư Trinh – Phát Diệm). Sau đó đi Thủ đức tìm Phong. Và ít hôm sau, cả 3 anh em cùng đi xuống Cần Thơ thăm chị Tuyết. Có cả Trần Liên là bạn học của mình ở GHHV Đalat.
(Thạch: Tới Vũng Tàu, Sơn+Thạch đón xe đò về SG, xuống xe ở Thủ-đức để tìm Phong tại dòng Phan-xi-cô, gặp Phong còn lại một mình ở đó nên 3 anh em cùng đi tiếp vào SG. Trước khi đón xe có ghé vào quán nước uống côca, Thạch có nghe ai đó chỉ là bỏ chút muối vào coca thì uống vào sẽ không bị ợ, Phong cũng đồng tình vì hình như cũng có nghe nói vậy nên 2 anh em xin chút muối để bỏ vào nước: đúng là không bị ợ hơi nhưng chỉ tổ mất một buổi tối khó chịu vì cái bụng ách hơi lúc ở nhà o Lân (không phải nhà bác Châu).
Anh Sơn có 1 trụ sở của dòng Tên để liên lạc, nằm trên đường Yên-đổ (?), rất gần nhà o Lân nên anh Sơn có dẫn Thạch và Phong đi bộ từ nhà o Lân ghé tới đó, gặp bạn anh Sơn (thầy Liên). Hình như ở đó cũng có thầy nào biết về Cần-thơ và dòng Chúa Quan Phòng nên chỉ dẫn đường đi làm anh Sơn có ý định ghé xuống chị Tuyết.
Nằm ở SG không làm gì, cũng là trọ nhà người khác, lại không biết lúc nào yên ổn nên ai cũng đồng lòng đi thăm chị Tuyết, có thêm thầy Liên đi theo. Khi tới bến xe Cần-thơ có bị cảnh sát hỏi giấy, anh Sơn đã có giấy hoãn dịch tu sĩ, Phong thì còn nhỏ, chỉ có Thạch là đúng trong hạn tổng động viên mới được ban hành nhưng nhờ sinh vào cuối năm nên còn hơn 1 tháng nữa mới tới hạn trình diện, lý do chính xác nên việc xét giấy tờ êm xuôi. Bốn người lên xe lôi trực chỉ nhà dòng Chúa Quan Phòng. Xe lôi ở Cần thơ có dạng như xe xích lô nhưng lớn hơn một chút và do xe Honda kéo đi.
Ở Cần-thơ được 1 hay 2 hôm thì anh Sơn và thầy Liên đi Phú-quốc, Thạch và Phong ở lại nhà dòng vì đường xe về SG đã bị tắc. Từ đây mất liên lạc với anh Sơn cho tới lúc gặp lại ở Ban-mê-thuột)
(Phong: Tình hình ở Cần Thơ yên ắng, nhất là trong tu viện. Mấy anh em được nhà dòng ưu ái, cho ăn uống tử tế, suốt ngày đi rong chơi trong khuôn viên nhà dòng. Sau khi anh Sơn đi Phú Quốc được vài ngày, một buổi sáng khi đến nhà nguyện dự lễ mới hay tin VC đã vào đến SG. Không hiểu lúc đó sợ gì mà các xơ dặn dò đừng gọi bằng “xơ” nữa mà gọi bằng “chị”. Ngày hôm đó, đài phát thanh phát lời kêu gọi binh lính đầu hàng của TT Dương Văn Minh. Qua 2,3 ngày sau, Thạch và Phong mới trở về Sài Gòn. Như vậy thời gian ở Cần Thơ khoảng 7-10 ngày).
Ghé dòng Chúa Quan Phòng Cần Thơ, cả dòng vui mừng vì được gặp các em của Sr Tuyết. Ăn uống vui vẻ. Ít hôm sau, Thạch và Phong quay trở lại SG, còn anh với thầy Liên tiếp tục đi ra Phú Quốc. Đây là lần thứ hai mình ra Phú Quốc chơi thăm Trông. Khi đang ở Phú quốc thì được nghe tin đầu hàng của chính phủ Dương văn Minh.
(Chị Tuyết: Chị đi tu từ ngày 15/06/1964 lúc mới có 12 tuổi. Đến năm 1975 là được 11 năm nhưng lúc bấy giờ chưa được lên chức “xơ” đâu. Chị hãy còn trong giai đoạn gọi là “Nhà Tập”, kéo dài 2 năm, là giai đoạn học đặc biệt về đời tu và thử tập sống đời tu xem có thích hợp với mình không. Khi biến cố xảy đến là chị mới xong một năm thứ nhất thôi. Sau khi ba anh em rời nhà dòng, biến cố xảy đến, thì các chị nhà Tập cùng lớp với chị cũng được nhà Dòng cho về nhà hết. Chỉ còn chị với chị Trầm, người ở ngoài Đức Mạnh là nhà xa và ở trong vùng nguy hiểm nên còn nán ở lại một thời gian nữa với bà thầy nhà Tập là xơ Joseph-Marie mà hiện nay là bề trên Tổng quyền của Hội Dòng mà anh Sơn và Thạch có dịp gặp ở Paris.
Chuyến trở về nhà chắc chắn là khó khăn lắm nhưng chị không còn nhớ ra sao nữa. Chỉ thấy thiên hạ đi lại tấp nập, đồ đạc lỉnh kỉnh. Nhất là hai bên đường thì đầy dẫy những xác xe đủ loại.
**** Ghi chú: Thời gian chị ở nhà là mẹ sinh em Vũ. Lúc đó cha đã đi học tập, viết thư nhắn mẹ, khi sinh mà gặp khó khăn thì bổ đôi trái đu đủ sống úp vào bàn chân gì đó … Số mẹ cực, có mang vẫn cứ làm việc cho đến ngày sinh. Hình như tối hôm trước khi sinh, mẹ luộc khoai ăn ban đêm. Sáng sớm mẹ dọn đồ để đi nhà thương. Thạch lấy xe tính chở mẹ đi, nhưng đạp máy hoài không nổ. Mẹ đành phải đi bộ lên nhà thương, chị không biết cách nhà mình bao xa. Khi người nhà lên đến nhà thương thì em Vũ đã mở mắt chào đời rồi !****
Chị còn ở nhà một thời gian nữa, đến khoảng tháng 7 thì cùng với chị Trầm trở lại nhà Dòng. Vào đến Sài Gòn thì nghe nói các chị cùng lớp đã khấn (tức là làm xơ) hết rồi. Cả hai không tin, vì đúng ra là phải một năm nữa mới được khấn. Xuống Cần Thơ thì quả là không còn nghi ngờ gì nữa. Các chị đã khấn và được gửi ra các xứ đạo hết rồi ! Sợ cs đến không cho tu nữa nên Bề trên đã quyết định cho “khấn non” trước một năm. Chị và chị Trầm may mắn có khoảng một tuần để chuẩn bị tâm hồn và khấn vào ngày 12/07/1975. Sau đó cả hai được gửi đi nơi khỉ ho cò gáy có tên là Cái Rắn thuộc tỉnh Cà Mau, nơi mà sau này khi đi học Cần thơ Trinh có xuống ở mấy ngày.)
Trong thời gian ở Phú Quốc, dân chúng làm nghề chài lưới dùng ghe đi ra khơi để lên tàu lớn. Lúc đó không ai biết đi như thế để làm gì, và sẽ đi tới đâu. Không ai tưởng tượng được là sẽ đi lập nghiệp ở một nơi nào khác. Mình không đi theo vì không biết gia đình ra sao. Ở lại thì dẫu xáo trộn, nhưng vẫn chắc hơn là ra đi. Gia đình Trông đi hết, giao chìa khóa nhà lại cho mình. Đến sáng thì thấy cả nhà Trông quay về, trừ bà mẹ. Tức là trong lúc chờ đợi lên tàu lớn, có người lên được, người chưa. Mẹ Trông ra đi viễn xứ một mình, trong khi các con kẹt ở lại.
Ít hôm sau, mình rời Phú quốc trở lại đất liền, về Sài gòn, rồi lần mò về BMT. Gặp Phong và Thạch ở nhà sẵn. Đó là vào tháng 5, 1975. Cha đã đi học tập.
Kỷ niệm không vui
Một ngày chúa nhật, tháng 11 năm 1968. Lúc đó các em Thạch, Vân và Phong sinh hoạt Hùng Tâm Dũng Chí trong xứ, nên chúa nhật nào cũng mặc đồng phục đi lễ. Đồng phục nam là áo sơ mi trắng, quần sóc tây xanh dương đậm và khăn quàng màu. Còn đồng phục nữ là áo sơ mi trắng với váy rộng dài ngang đầu gối màu xanh dương đậm. Lúc đó vừa đi lễ về, khoảng 9g sáng, trời nắng đẹp. Anh cũng vừa hết mấy ngày nghỉ giữa khóa và chuẩn bị lên đường trở ra Tiểu chủng viện Sao Biển. Vào thời điểm này, đường bộ giữa Phan thiết và Nha Trang không còn đi được vì bị đắp ụ. Thông thương giữa Phan thiết và Nha trang phải đi bằng thuyền, hoặc bằng máy bay. Vì cậu là lính trong nghành truyền tin, có quen với những người phụ trách sắp xếp các chuyến bay quân sự từ Phan thiết ra Cam Ranh hay ra Nha Trang, nên đôi khi anh được đi ké máy bay.
Trời nắng đẹp, lại có áo quần xanh đỏ của mấy đứa, nên cậu cao hứng muốn chụp hình, vì cậu đang có một cuộn phim màu trong máy. Máy chụp hình cậu để trong tủ quần áo của cha mẹ. Trước đó mấy ngày anh đã lấy vọc phá chơi trong lúc có đủ mặt các em từ anh Thạch trở xuống. Tưởng là máy không có phim, nên anh nghĩ rằng chụp chơi đâu có thiệt hại gì, lúc đó anh chưa xài máy chụp hình nhiều để biết nhìn vào số phim còn lại mà biết là máy có phim ở trong hay không. Dựa vào suy luận sai lầm đó mà anh đã ngang nhiên lấy máy ra chụp giỡn chơi với mấy em. Sau khi đã bấm mấy pô, thì anh mở phía sau ra và thấy có cuộn phim trong máy, anh biết là cuốn phim bị cháy tiêu rồi. Lúc đó mới tá hỏa tam tinh vì coi như sự việc bị đổ bể rồi, trước sau gì cũng bị phát giác, chỉ không biết lúc nào thì sẽ bị phát giác mà thôi. Lo ngay ngáy một lúc rồi cũng quên bẵng đi cho tới buổi sáng chúa nhật hôm đó.
Cậu lấy máy ra nhắm rồi chụp một vài tấm, chụp xong thắc mắc tại sao thấy số phim còn lại không đúng với số phim phải có, hoặc là nhiều hơn hoặc là ít hơn. Cậu hồ nghi có ai đã vọc phá máy của cậu rồi. Thế là cậu hét lên: đứa nào vọc máy của cậu. Anh Thạch nhanh nhẩu báo cáo ngay là “cháu thấy anh Sơn lấy coi …”. Cậu tát cho anh mấy cái chúi nhủi, la mắng xối xả còn mấy đứa em thì thui thủi trốn vô nhà.
Ngay sau đó anh không có cảm giác buồn giận, không khóc không hận gì cả. Anh cảm thấy rất thanh thản bình an. Anh biết đó là tội của mình, mình làm thì mình chịu thôi. Anh lại càng không bực tức gì vì Thạch đã khai ra, vì không khai thì trước sau gì cũng tìm ra manh mối, thủ phạm chính là anh chứ có ai khác đâu. Trước đó, anh không đồng ý với cậu về nhiều chuyện, anh rất bực mình về tính cách gia trưởng của cậu, những hung hăng hách dịch của cậu, nhưng lần đó, cậu phản ứng như thế, anh không hề có một cảm giác bất mãn hay buồn giận gì cả. Không ! Tuyệt nhiên không ! Anh biết đó là tội của anh rồi, đã có gan làm thì phải có gan chịu. Khi mình không buồn, không giận, không hận gì cả thì thấy lòng nhẹ tênh. Cảm giác thật sướng ! Chuyện qua rồi, không phải lăn tăn than khóc gì cả. Suốt ngày hôm đó lên phi trường chờ máy bay không có nên chiều anh trở về nhà lại, qua hôm sau mới đi được.
Vài tuần sau, cha viết thư nhắc về biến cố này và dùng hình ảnh bức tranh thủy mạc có nét tối nét sáng để làm nên vẻ đẹp để khuyên anh biết dùng những cơ hội không vui đó mà hoàn thiện đời sống.
Trời nắng đẹp, lại có áo quần xanh đỏ của mấy đứa, nên cậu cao hứng muốn chụp hình, vì cậu đang có một cuộn phim màu trong máy. Máy chụp hình cậu để trong tủ quần áo của cha mẹ. Trước đó mấy ngày anh đã lấy vọc phá chơi trong lúc có đủ mặt các em từ anh Thạch trở xuống. Tưởng là máy không có phim, nên anh nghĩ rằng chụp chơi đâu có thiệt hại gì, lúc đó anh chưa xài máy chụp hình nhiều để biết nhìn vào số phim còn lại mà biết là máy có phim ở trong hay không. Dựa vào suy luận sai lầm đó mà anh đã ngang nhiên lấy máy ra chụp giỡn chơi với mấy em. Sau khi đã bấm mấy pô, thì anh mở phía sau ra và thấy có cuộn phim trong máy, anh biết là cuốn phim bị cháy tiêu rồi. Lúc đó mới tá hỏa tam tinh vì coi như sự việc bị đổ bể rồi, trước sau gì cũng bị phát giác, chỉ không biết lúc nào thì sẽ bị phát giác mà thôi. Lo ngay ngáy một lúc rồi cũng quên bẵng đi cho tới buổi sáng chúa nhật hôm đó.
Cậu lấy máy ra nhắm rồi chụp một vài tấm, chụp xong thắc mắc tại sao thấy số phim còn lại không đúng với số phim phải có, hoặc là nhiều hơn hoặc là ít hơn. Cậu hồ nghi có ai đã vọc phá máy của cậu rồi. Thế là cậu hét lên: đứa nào vọc máy của cậu. Anh Thạch nhanh nhẩu báo cáo ngay là “cháu thấy anh Sơn lấy coi …”. Cậu tát cho anh mấy cái chúi nhủi, la mắng xối xả còn mấy đứa em thì thui thủi trốn vô nhà.
Ngay sau đó anh không có cảm giác buồn giận, không khóc không hận gì cả. Anh cảm thấy rất thanh thản bình an. Anh biết đó là tội của mình, mình làm thì mình chịu thôi. Anh lại càng không bực tức gì vì Thạch đã khai ra, vì không khai thì trước sau gì cũng tìm ra manh mối, thủ phạm chính là anh chứ có ai khác đâu. Trước đó, anh không đồng ý với cậu về nhiều chuyện, anh rất bực mình về tính cách gia trưởng của cậu, những hung hăng hách dịch của cậu, nhưng lần đó, cậu phản ứng như thế, anh không hề có một cảm giác bất mãn hay buồn giận gì cả. Không ! Tuyệt nhiên không ! Anh biết đó là tội của anh rồi, đã có gan làm thì phải có gan chịu. Khi mình không buồn, không giận, không hận gì cả thì thấy lòng nhẹ tênh. Cảm giác thật sướng ! Chuyện qua rồi, không phải lăn tăn than khóc gì cả. Suốt ngày hôm đó lên phi trường chờ máy bay không có nên chiều anh trở về nhà lại, qua hôm sau mới đi được.
Vài tuần sau, cha viết thư nhắc về biến cố này và dùng hình ảnh bức tranh thủy mạc có nét tối nét sáng để làm nên vẻ đẹp để khuyên anh biết dùng những cơ hội không vui đó mà hoàn thiện đời sống.
Di tản Mậu Thân
Chiến tranh không để lại dấu vết tang thương trong gia đình mình, nghĩa là trong nhà không có cha, hay anh, hay chú bác cậu bị tử nạn trên chiến trường, hay bị thương tật vì chiến tranh. Phải nói đó là một sự may mắn lớn lao, vì nhìn ra chung quanh, bạn bè, làng xóm, người quen biết xa gần, phần lớn ai cũng chịu những mất mát do bom đạn chiến tranh gây ra, không nhiều thì ít. Tuy không có dấu vết tang tóc, nhưng xáo trộn và đổ vỡ về vật chất thì không thể thiếu được. Có những xáo trộn đáng nhớ trong đời, đó là cuộc chạy giặc đầu năm 1968.
Tháng Giêng 1968, Tết Mậu Thân, mẹ vừa sinh em Thủy được ít tuần lễ. Đang ngủ say, độ chừng 2 hay 3 giờ sáng gì đó, mẹ đánh thức anh và chị Tuyết dậy, vì tiếng người đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường cái. Mẹ nói Việt cộng nó về đến nơi rồi, ai người ta cũng chạy giặc, rồi mẹ nói thôi 2 con đã lớn, thì theo người ta mà đi trốn, khỏi bị bắt bớ. Mẹ với mấy em còn nhỏ ở lại không ai làm gì đâu. Vậy là anh với chị Tuyết mắt nhắm mắt mở đi tay không ra khỏi nhà, nhập vào dòng người gồng gánh vác mang đi vô trong nhà thờ xứ Vinh Thủy. Anh quên hết các chi tiết, không nhớ lúc vô đến nơi thì gặp ai, và ở đâu. Chỉ biết là đến gần trưa thì mẹ cũng bồng Thủy và dắt thêm mấy em đi vô. Hãy tưởng tượng, mẹ vừa mới sinh xong đang ở cữ, nhi đồng Thủy đỏ hỏn còn khóc oe oe trên tay, mà lại còn phải kéo thêm một cái rờ mọc 5 em bé: Thạch -10 tuổi, Vân - 8 tuổi, Phong - 6 tuổi, Trinh - 4 tuổi và Nguyên - 3 tuổi, thật là vất vả vô cùng. Đến lúc đó thì anh nhớ là mình tá túc bên thềm nhà ông Yên, Nguyễn Thanh Yên. Bà vợ của ông Yên là chị ruột của o Lài và bà Thảo. Những người cùng tị nạn, ai thấy mẹ phải nuôi con nhỏ cũng động lòng. Thời gian này thật sướng, vì cả ngày chạy nhong ngoài đường ghé chỗ này tạt vào chỗ kia. Khu Vinh Thủy tấp nập người tị nạn. Ở được vài ngày, bỗng dưng một đêm kia, trời chập choạng tối, nghe tiếng đại bác rất gần, đạn bay ngang trên đầu kêu vèo vèo. Thì ra các tàu chiến ngoài khơi đang thi nhau nả đạn vào đất liền. Vì đã quen với tiếng đạn bom, nên không ai tỏ vẻ hốt hoảng gì đặc biệt. Nhưng bỗng nhiên nghe những tiếng nổ thật gần, và nhiều tiếng la hét. Anh chạy ra ngoài coi thì thấy lửa cháy sáng một góc phía ngoài đường cái. Quay vô nhà nói với mẹ, không hiểu linh tính thế nào mà mẹ lại bồng Thủy và dắt cả mấy đứa con ra khỏi nhà giữa đêm. Vừa ra khỏi nhà ông bà Yên được mấy bước thì một trái đạn cháy rớt ngay nhà ông ta. Lửa cháy rực, căn nhà bị thiêu rụi trong vòng dăm phút. Lúc ấy mới nghe nhiều tiếng nổ lách tách của những viện đạn loại nhỏ từ đám tro. Thì ra mấy hôm trước, trong khi chạy giặc anh Phong đã ôm cái tượng đức mẹ bằng thạch cao trắng của nhà mình, mà trong đó cha đã nhét những viên đạn súng lục … Trong lúc vội vã chạy ra khỏi nhà, mẹ quên không xách theo cái giỏ đựng bình thủy đựng nước sôi để pha sữa cho Thủy, nên sau đó vài tiếng, đến giờ ăn mà không có Thủy tru tréo la khóc quá trời.
(Chị Tuyết: Sau một ít ngày tá túc trong nhà ông Yên, vào một buổi chiều ChúaNhật, thấy có ít người ở ngoài đường cái trở về nhà nên chị với Vân thì phải, cũng quay trở về nhà để lấy thêm đồ đạc. Trên đường đi, thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng súng “cắc bụp”, chị em vừa lom khom vừa chạy. Đó là thời điểm sau Tết nên trong nhà còn lại một ít thức ăn. Chị kiểm tra lương thực thấy có dưa chua và trứng nên nấu một nồi canh. Một lát sau cơm và canh vừa chín tới, thơm ngon hấp dẫn quá chừng ! Chị em đang chuẩn bị để “đánh chén” . . . thì bỗng đâu, thật không đúng lúc chút nào, tiếng súng đạn bắt đầu vang lên và càng lúc có vẻ càng thêm dữ dội hơn. Trời thì về chiều, màn đêm gần buông xuống làm cho bầu khí thêm vắng lặng và dễ sợ. Chị sợ quá! Tiếc nồi cơm và canh ngon vừa nấu nhưng không dám liều mạng. Thế là chị em vội vàng túm đồ đạc và chuồn nhanh. Mùi thơm nồi canh dưa cải với trứng ấy vẫn còn phảng phất đến bây giờ !)
Vài ngày sau đó, tình hình tạm thời lắng dịu, cha về, rồi cả nhà mình đi sang Vinh Phú. Mấy ngày đầu ở tạm nơi nhà bà Bút, người cùng làng Song Ngọc, sau đó mẹ mua căn nhà nhỏ bên cạnh nhà chú Điều, để ở.
Tháng Giêng 1968, Tết Mậu Thân, mẹ vừa sinh em Thủy được ít tuần lễ. Đang ngủ say, độ chừng 2 hay 3 giờ sáng gì đó, mẹ đánh thức anh và chị Tuyết dậy, vì tiếng người đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường cái. Mẹ nói Việt cộng nó về đến nơi rồi, ai người ta cũng chạy giặc, rồi mẹ nói thôi 2 con đã lớn, thì theo người ta mà đi trốn, khỏi bị bắt bớ. Mẹ với mấy em còn nhỏ ở lại không ai làm gì đâu. Vậy là anh với chị Tuyết mắt nhắm mắt mở đi tay không ra khỏi nhà, nhập vào dòng người gồng gánh vác mang đi vô trong nhà thờ xứ Vinh Thủy. Anh quên hết các chi tiết, không nhớ lúc vô đến nơi thì gặp ai, và ở đâu. Chỉ biết là đến gần trưa thì mẹ cũng bồng Thủy và dắt thêm mấy em đi vô. Hãy tưởng tượng, mẹ vừa mới sinh xong đang ở cữ, nhi đồng Thủy đỏ hỏn còn khóc oe oe trên tay, mà lại còn phải kéo thêm một cái rờ mọc 5 em bé: Thạch -10 tuổi, Vân - 8 tuổi, Phong - 6 tuổi, Trinh - 4 tuổi và Nguyên - 3 tuổi, thật là vất vả vô cùng. Đến lúc đó thì anh nhớ là mình tá túc bên thềm nhà ông Yên, Nguyễn Thanh Yên. Bà vợ của ông Yên là chị ruột của o Lài và bà Thảo. Những người cùng tị nạn, ai thấy mẹ phải nuôi con nhỏ cũng động lòng. Thời gian này thật sướng, vì cả ngày chạy nhong ngoài đường ghé chỗ này tạt vào chỗ kia. Khu Vinh Thủy tấp nập người tị nạn. Ở được vài ngày, bỗng dưng một đêm kia, trời chập choạng tối, nghe tiếng đại bác rất gần, đạn bay ngang trên đầu kêu vèo vèo. Thì ra các tàu chiến ngoài khơi đang thi nhau nả đạn vào đất liền. Vì đã quen với tiếng đạn bom, nên không ai tỏ vẻ hốt hoảng gì đặc biệt. Nhưng bỗng nhiên nghe những tiếng nổ thật gần, và nhiều tiếng la hét. Anh chạy ra ngoài coi thì thấy lửa cháy sáng một góc phía ngoài đường cái. Quay vô nhà nói với mẹ, không hiểu linh tính thế nào mà mẹ lại bồng Thủy và dắt cả mấy đứa con ra khỏi nhà giữa đêm. Vừa ra khỏi nhà ông bà Yên được mấy bước thì một trái đạn cháy rớt ngay nhà ông ta. Lửa cháy rực, căn nhà bị thiêu rụi trong vòng dăm phút. Lúc ấy mới nghe nhiều tiếng nổ lách tách của những viện đạn loại nhỏ từ đám tro. Thì ra mấy hôm trước, trong khi chạy giặc anh Phong đã ôm cái tượng đức mẹ bằng thạch cao trắng của nhà mình, mà trong đó cha đã nhét những viên đạn súng lục … Trong lúc vội vã chạy ra khỏi nhà, mẹ quên không xách theo cái giỏ đựng bình thủy đựng nước sôi để pha sữa cho Thủy, nên sau đó vài tiếng, đến giờ ăn mà không có Thủy tru tréo la khóc quá trời.
(Chị Tuyết: Sau một ít ngày tá túc trong nhà ông Yên, vào một buổi chiều ChúaNhật, thấy có ít người ở ngoài đường cái trở về nhà nên chị với Vân thì phải, cũng quay trở về nhà để lấy thêm đồ đạc. Trên đường đi, thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng súng “cắc bụp”, chị em vừa lom khom vừa chạy. Đó là thời điểm sau Tết nên trong nhà còn lại một ít thức ăn. Chị kiểm tra lương thực thấy có dưa chua và trứng nên nấu một nồi canh. Một lát sau cơm và canh vừa chín tới, thơm ngon hấp dẫn quá chừng ! Chị em đang chuẩn bị để “đánh chén” . . . thì bỗng đâu, thật không đúng lúc chút nào, tiếng súng đạn bắt đầu vang lên và càng lúc có vẻ càng thêm dữ dội hơn. Trời thì về chiều, màn đêm gần buông xuống làm cho bầu khí thêm vắng lặng và dễ sợ. Chị sợ quá! Tiếc nồi cơm và canh ngon vừa nấu nhưng không dám liều mạng. Thế là chị em vội vàng túm đồ đạc và chuồn nhanh. Mùi thơm nồi canh dưa cải với trứng ấy vẫn còn phảng phất đến bây giờ !)
Vài ngày sau đó, tình hình tạm thời lắng dịu, cha về, rồi cả nhà mình đi sang Vinh Phú. Mấy ngày đầu ở tạm nơi nhà bà Bút, người cùng làng Song Ngọc, sau đó mẹ mua căn nhà nhỏ bên cạnh nhà chú Điều, để ở.
(Vân: Những điều em nhớ được thì các anh đã viết cả rồi nhưng dẫu sao thì cũng còn một chi tiết nhỏ của mình đó là mỗi lần chạy (dời chỗ) phần việc của em là cõng Trinh vì mỗi người đều được chia việc chẳng hạn như mang đồ ăn, mùng mền, đồ áo ..vv.
Sau biến cố Mậu Thân thì nhà mình di tản sang Vinh Phú một thời gian, được tạm trú nhà chú Điều. Em không nhớ rõ, hình như phải về Vinh Thủy để học xưng tội. Mỗi lần về là em lại theo đường dọc bờ biển (đường tắt) để đi. Có một lần em gặp một người (có lẽ say rượu) sợ muốn chết nhưng rồi cũng tai qua nạn khỏi. Tạ ơn Chúa!)
Chiếc bẫy kỳ nhông
Đầu năm 1964 – Sau buổi cơm chiều, đang chơi ngoài vườn với mấy em, bỗng có khách tới nhà, mẹ sai anh đi mua điếu thuốc về mời khách. Chạy sang quán bên cạnh nhà không có, anh phải lấy xe đạp đi xuống quán ở xa phía Ba Làng, gặp anh Thạch xớ rớ gần đó nên rủ anh Thạch đi chơi luôn. Đến nơi thấy có người đang đứng mua cái gì và đang thối tiền, nên anh chờ. Trong khi chờ tới phiên mình để hỏi mua vài điếu thuốc lẻ, thì nhìn bên cạnh, thấy cái bẫy kỳ nhông, hình như là có cả miếng mồi trong đó, nên anh chồm người tới để nhìn cho rõ. Bỗng chạm phải cái gì đó, thùng dầu ăn đổ ra. Đó là thùng dầu cỡ 5 lít. Theo suy luận của con nít, quay lưng đi không còn nhìn thấy vấn đề tức là vấn đề không còn nữa, nên anh ba chân bốn cẳng vọt ra khỏi tiệm đạp xe về nhà, trong lòng nhẹ nhõm vì vấn đề đã được giải quyết nhẹ nhàng ổn thỏa. Đến nhà anh nói với mẹ là tiệm hết thuốc lá rồi con mua không được, mà lúc đó khách cũng ra về. Nói dối phi tang xong anh tiếp tục chơi đùa vui vẻ mà quên bẵng đi chuyện thùng dầu ăn bị đổ lúc nãy trong tiệm tạp hóa. Chơi một lát, trời sẩm tối thì thấy có người vô nhà nói chuyện với mẹ, rồi mẹ kêu anh vô hỏi tội. Tội trạng rành rành đâu chối cãi đường nào được. Mẹ phải bồi thường cho người ta nguyên thùng dầu ăn mới. Tối đó anh không bị đòn mà chỉ bị la, mà hình như mẹ cũng không tức giận gì nhiều lắm, chỉ nói nhè nhẹ. (Theo như chị Trinh kể lại, thì em thấy buổi tối hôm đó mẹ khóc …) (Trinh: Chị lúc đó mới có mấy tháng tuổi làm sao mà biết được !! Anh Sơn à, em nhớ có lần nghe chị Tuyết nói là chị thấy mẹ khóc 2 lần, lần thứ nhất là khi anh Hùng mất, lần thứ 2 là khi nghe bà bán tạp hóa mắng vốn chuyện anh làm đổ thùng dầu, anh hỏi chị Tuyết xem em nhớ có đúng không?)
(Chị Tuyết: Chị nhớ là dịp đó đã nghe mẹ khóc và kể lể, chị không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái nói rằng mẹ thì lo dành dụm chắt chiu mà con thì dại dột phá phách phải bồi thường cho người ta tốn kém !)
(Chị Tuyết: Chị nhớ là dịp đó đã nghe mẹ khóc và kể lể, chị không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái nói rằng mẹ thì lo dành dụm chắt chiu mà con thì dại dột phá phách phải bồi thường cho người ta tốn kém !)
Cuộc chạy đua buổi sáng
Năm 1963. Vào thời điểm này căn nhà của mình tại Vinh Thủy còn nằm ngay ngã ba từ đường nhựa Phan thiết chạy ra Ba Làng (Thanh Hải) và con đường đất đỏ dẫn vô nhà thờ. Lúc đó đường nhựa chưa có tên, hay nếu có thì không ai biết và không ai dùng, và còn rất chật hẹp. Hình như con đường này lúc gần giải phóng có tên là đường Thủ Khoa Huân. Vào năm 1963, số người sử dụng lưa thưa, chỉ có tuyến xe lam đi từ Phú Hài lên chợ Phan thiết, vài chiếc xe ngựa và mỗi ngày vài chuyến xe đường dài đi từ Phan thiết ra Mũi Né. Căn nhà và miếng đất mua lại của chú È, còn có tên là Ngô Nhật. Miếng đất có vườn măng cầu ta phía sau, phía trước nhà có cây trứng cá và bên hông nhà, hướng về phía nhà bà Thảo có cây chùm ruột bên cạnh giếng. Trước mặt nhà phía bên kia đường nhựa là cây keo cao lớn, và sau đó là miếng đất hoang chỉ toàn là cát và xương rồng.
Theo giao hẹn giữa 2 chị em, cứ mỗi buổi sáng đi lễ về thì chị Tuyết quét nhà một bữa và hôm sau là tới phiên anh. Sáng hôm ấy đi lễ về, sao anh thấy làm biếng quá. Chị Tuyết xách chổi đi tìm anh và dúi cái chổi vào tay để bắt anh quét nhà, anh rụt tay lại và bỏ chạy vòng ra sau sân nhà. Chị Tuyết đuổi theo. Anh từ dưới vườn măng cầu phía sau nhà, phóng vọt lên thềm. Thềm nhà hơi cao, mà anh lại nhảy từ xa nên không lên nổi, đập trán vô cạnh thềm, đau điếng, choáng váng mặt mày và ngay sáu đó thì trán nổi lên một cục u như trái ổi non. (Khi lấy đà để phóng lên thềm Sơn đã vô ý đặt chân lên một thân cây tròn đặt sát dọc thềm nhà. Thân cây quay tròn làm Sơn mất trớn chúi nhủi đập trán vào cạnh thềm nhà) Chị Tuyết thấy anh gặp nạn vội vàng chạy vô nhà kêu cha hay mẹ. Phải ngồi lại một hồi cho bớt đau, sau đó lấy dầu lửa xức lên. Chuyện gì xảy ra sau đó thì anh quên: có bị la không, có bị đánh đòn không, sau đó có phải quét nhà không hay có ai khác làm giùm … Không còn nhớ đến những chi tiết đó nữa … …(Còn chi Tuyết lúc rượt em thì vô cùng bực bội nhưng thấy trên trán Sơn nổi một cục như cái sừng thì thương em vô hạn! )
Theo giao hẹn giữa 2 chị em, cứ mỗi buổi sáng đi lễ về thì chị Tuyết quét nhà một bữa và hôm sau là tới phiên anh. Sáng hôm ấy đi lễ về, sao anh thấy làm biếng quá. Chị Tuyết xách chổi đi tìm anh và dúi cái chổi vào tay để bắt anh quét nhà, anh rụt tay lại và bỏ chạy vòng ra sau sân nhà. Chị Tuyết đuổi theo. Anh từ dưới vườn măng cầu phía sau nhà, phóng vọt lên thềm. Thềm nhà hơi cao, mà anh lại nhảy từ xa nên không lên nổi, đập trán vô cạnh thềm, đau điếng, choáng váng mặt mày và ngay sáu đó thì trán nổi lên một cục u như trái ổi non. (Khi lấy đà để phóng lên thềm Sơn đã vô ý đặt chân lên một thân cây tròn đặt sát dọc thềm nhà. Thân cây quay tròn làm Sơn mất trớn chúi nhủi đập trán vào cạnh thềm nhà) Chị Tuyết thấy anh gặp nạn vội vàng chạy vô nhà kêu cha hay mẹ. Phải ngồi lại một hồi cho bớt đau, sau đó lấy dầu lửa xức lên. Chuyện gì xảy ra sau đó thì anh quên: có bị la không, có bị đánh đòn không, sau đó có phải quét nhà không hay có ai khác làm giùm … Không còn nhớ đến những chi tiết đó nữa … …(Còn chi Tuyết lúc rượt em thì vô cùng bực bội nhưng thấy trên trán Sơn nổi một cục như cái sừng thì thương em vô hạn! )
Bình Chính
Tháng 5, 1962 - Cha đang trong tình trạng không có việc làm. Hình như cha vừa thôi dạy học ở trường Chính Tâm (Phan Thiết), lúc này trường còn mang tên Ngô Đình Khôi (bây giờ là trường chuyên Trần Hưng Đạo). Linh Mục Nguyễn trọng Báu là bạn học với cha lúc ở Tiểu chủng Viện được giao nhiệm vụ coi xứ đạo mới tại Bình Chính, Phan Rang. Vì xứ còn rất mới, chưa có cơ cấu, đoàn thể, và cần người trông coi nhà thờ nên cha Báu đã rủ cha đi làm việc với ngài. Công việc của cha là tập hát, đánh đờn nhà thờ, dạy học 2 lớp sau cùng của bực tiểu học, đó là lớp Nhì và lớp Nhất, tương đương với lớp Năm và lớp Sáu bây giờ. Cha mang theo anh và anh Thạch. Thạch là nhi đồng 5 tuổi, nên chỉ ăn ngủ và làm búp bê cho người lớn chơi. Cha Báu rất thích Thạch vì em mũm mĩm dễ thương và hót như vẹt. Cha Báu bày cho Thạch một số câu tiếng Pháp. Mỗi khi có khách tới, đều kêu Thạch ra trình diễn, và cả cha lẫn con đều lấy làm thích thú. Anh lúc này học lớp Nhì.
Không biết cha được trả lương ra sao, nhưng cuộc sống bình dị thoải mái. Cả 3 cha con ăn cơm bên nhà xứ với cha Báu.
Trong thời gian ở với cha, mình quen được các chú đi tu TCV Sao biển, là con cha Báu, về ghé thăm cha: chú Khanh và chú Tộ. Đi TCV được vài năm thì 2 chú này đều bị đuổi vì học lực kém. Khi mình bắt đầu vô học Sao Biển vào năm 1964 thì 2 chú này không còn ở đó nữa. Vào cuộc Hội Ngộ SB2008, mình đã gặp lại 2 anh Khanh và Tộ, và cả 2 đều nhắc lại kỷ niệm ở Bình Chính với 3 cha con.
Có những chúa nhật, trời nắng đẹp, lễ ra, cha mượn thuyền chèo chơi trên sông. Vào thời này Bình chính còn ít người, nước sông nước biển trong xanh, vắng vẻ. Cha mua cùi dừa khô và bánh tráng mang theo lên thuyền. Bánh tráng dày ăn với cùi dừa già, rất ngon. Vị béo ngậy của dừa và vị mặn mặn bùi bùi của bánh tráng quyện vào nhau cho mình một cảm giác sảng khoái sung sướng !
Trong thời gian 3 cha con ở Phan rang, những lúc cần liên lạc với mẹ ở nhà, anh được giao cho trách nhiệm giao liên. Đi bằng xe đò tuyến đường Phan Rang – Phan thiết. Lúc đó anh còn quá nhỏ, vừa nhỏ tuổi (9 tuổi), vừa nhỏ con, nên hành khách trên xe thấy anh tí tẹo mà đi một mình lầm lì im lặng, ai cũng thắc mắc bình luận lung tung và có vẻ ái ngại cho anh. Anh nghe hiểu hết, nhưng không trả lời gì cả. Bây giờ nghĩ lại thì thấy xã hội VN vào thời buổi đó thật an toàn, không ai làm hại ai, không có những cảnh cướp dựt, bắt cóc hay hành hung gì cả. Anh cứ đi đi về về như thế nhiều lần, một mình một góc trên xe, mà lần nào cũng xuôi chảy.
Có một lần chú Điều Lai khê ra Bình chính tìm cha. Anh còn nhỏ, nhưng nghe loáng thoáng câu chuyện là chú ấy cần tiền gấp mang về để cứu vợ con bị vc bắt và đòi tiền chuộc. Cha xoay xở cho chú ấy một số tiền, rồi cho anh về theo để cầm tiền về cho mẹ. Vì anh còn nhỏ, nên không biết số tiền là bao nhiêu, nhưng chắc là khá lớn vì cha bỏ tiền vô túi quần tây của anh, rồi may lại. Trên xe, chú Điều hỏi thăm anh ra sao đó mà chú ấy biết được là anh có mang tiền về cho mẹ. Nội dung câu chuyện ra sao để dẫn tới việc chú ấy biết là anh cầm tiền cha gửi về cho mẹ thì anh hoàn toàn không nhớ, nhưng việc chú ấy ghé miệng cắn chỉ ở mép túi quần để moi tiền ra thì anh nhớ rõ. Về sau, mới phát hiện là chú ấy rơi vào bài bạc cá độ, nên đã dàn cảnh như thế.
(Chị Tuyết cũng được cha đem ra Phan Rang ăn Tết. Chị nhớ đợt này được mẹ sắm cho một bộ đồ thật đẹp có bông màu xanh lá mạ. Đêm 30 tết người ta đốt pháo chị tưởng là bắn súng sợ muốn trối chết chui xuống gầm giường !)
Không biết cha được trả lương ra sao, nhưng cuộc sống bình dị thoải mái. Cả 3 cha con ăn cơm bên nhà xứ với cha Báu.
Trong thời gian ở với cha, mình quen được các chú đi tu TCV Sao biển, là con cha Báu, về ghé thăm cha: chú Khanh và chú Tộ. Đi TCV được vài năm thì 2 chú này đều bị đuổi vì học lực kém. Khi mình bắt đầu vô học Sao Biển vào năm 1964 thì 2 chú này không còn ở đó nữa. Vào cuộc Hội Ngộ SB2008, mình đã gặp lại 2 anh Khanh và Tộ, và cả 2 đều nhắc lại kỷ niệm ở Bình Chính với 3 cha con.
Có những chúa nhật, trời nắng đẹp, lễ ra, cha mượn thuyền chèo chơi trên sông. Vào thời này Bình chính còn ít người, nước sông nước biển trong xanh, vắng vẻ. Cha mua cùi dừa khô và bánh tráng mang theo lên thuyền. Bánh tráng dày ăn với cùi dừa già, rất ngon. Vị béo ngậy của dừa và vị mặn mặn bùi bùi của bánh tráng quyện vào nhau cho mình một cảm giác sảng khoái sung sướng !
Trong thời gian 3 cha con ở Phan rang, những lúc cần liên lạc với mẹ ở nhà, anh được giao cho trách nhiệm giao liên. Đi bằng xe đò tuyến đường Phan Rang – Phan thiết. Lúc đó anh còn quá nhỏ, vừa nhỏ tuổi (9 tuổi), vừa nhỏ con, nên hành khách trên xe thấy anh tí tẹo mà đi một mình lầm lì im lặng, ai cũng thắc mắc bình luận lung tung và có vẻ ái ngại cho anh. Anh nghe hiểu hết, nhưng không trả lời gì cả. Bây giờ nghĩ lại thì thấy xã hội VN vào thời buổi đó thật an toàn, không ai làm hại ai, không có những cảnh cướp dựt, bắt cóc hay hành hung gì cả. Anh cứ đi đi về về như thế nhiều lần, một mình một góc trên xe, mà lần nào cũng xuôi chảy.
Có một lần chú Điều Lai khê ra Bình chính tìm cha. Anh còn nhỏ, nhưng nghe loáng thoáng câu chuyện là chú ấy cần tiền gấp mang về để cứu vợ con bị vc bắt và đòi tiền chuộc. Cha xoay xở cho chú ấy một số tiền, rồi cho anh về theo để cầm tiền về cho mẹ. Vì anh còn nhỏ, nên không biết số tiền là bao nhiêu, nhưng chắc là khá lớn vì cha bỏ tiền vô túi quần tây của anh, rồi may lại. Trên xe, chú Điều hỏi thăm anh ra sao đó mà chú ấy biết được là anh có mang tiền về cho mẹ. Nội dung câu chuyện ra sao để dẫn tới việc chú ấy biết là anh cầm tiền cha gửi về cho mẹ thì anh hoàn toàn không nhớ, nhưng việc chú ấy ghé miệng cắn chỉ ở mép túi quần để moi tiền ra thì anh nhớ rõ. Về sau, mới phát hiện là chú ấy rơi vào bài bạc cá độ, nên đã dàn cảnh như thế.
(Chị Tuyết cũng được cha đem ra Phan Rang ăn Tết. Chị nhớ đợt này được mẹ sắm cho một bộ đồ thật đẹp có bông màu xanh lá mạ. Đêm 30 tết người ta đốt pháo chị tưởng là bắn súng sợ muốn trối chết chui xuống gầm giường !)
Con bò vừng
Quãng thời niên thiếu từ 7 đến 10 tuổi (ở Phan Thiết), đang tuổi ăn tuổi ngủ, mà sáng ra là phải thức dậy cùng lúc với cha để đi lễ. Mỗi sáng, khoảng 5g là cha đánh thức mấy đứa lớn dậy, bắt đọc kinh dâng ngày ngay trên giường, rồi bước ra sân rửa mặt trong bóng đèn mù mờ trong khi bên ngoài còn tối đen và không khí gai gai lạnh. Mà tuyệt đối phải giữ im lặng, không được nói chuyện. Im lặng như thế càng buồn ngủ hơn. Sau khi rửa mặt thay đồ xong thì ra khỏi nhà đi lễ, trên đường vừa đi vừa lần hạt. Có những hôm trời mưa lụt nước ngập một khúc đường không lội qua được, phải quay về. Thời gian này, con đường đất đỏ từ ngoài đường nhựa dẫn vô nhà thờ còn vắng hoe, không có người ở 2 bên đường.
Khi đi lễ thì trời còn tối đen, nhưng lễ xong ra về thì trời đã tờ mờ sáng. Đoạn đường từ nhà thờ về nhà là một chặng đường thú vị, vì lúc đó cha không còn đi chung nữa mà cha hay ra về sớm để giúp mẹ làm việc nhà, chỉ còn mấy chị em đi chung với nhau. Trời buổi sáng mát mẻ dễ chịu, nên chị em thường thơ thẩn chậm rải nhìn ngó quan sát khắp nơi. Buổi sáng hôm đó nhìn lên tàu lá dừa non, anh thấy một con bò vừng thật bự màu vàng, vậy là vội tính kế để bắt nó về chơi. Vì cây dừa hơi cao và cành lá non nằm mãi ở ngoài xa không thể với tới, nên anh lấy dép ném cho nó rớt xuống. Lúc ấy hình như anh học lớp tư, tương đương với lớp 2 bây giờ. Con bò vừng cùng gia đình với con bọ hung, nhưng nó không đen thui như bọ hung mà màu vàng khá đẹp, lớn hơn ngón chân cái, cánh nó có phấn trắng. Mang về nhà cất trong hộp hay buộc sợi chỉ vào cánh để giữ trong nhà chơi dần dần cho tới khi nó chết thì quăng cho gà.
Vào thập niên 1960, Vinh Thủy còn rất thưa thớt hoang vu, dọc đường Thủ khoa Huân từ thị xã Phan thiết ra tới Thanh Hải (xứ Ba làng), bấy giờ chỉ có lưa thưa vài căn nhà nằm sát ven đường, xa xa mới có một căn. Hai bên đường đầy những dãy xương rồng và cây keo - còn gọi là cây găng.
(Chị Tuyết : Chị cũng nhớ rất rõ kỷ niệm những buổi sáng, sau khi đi lễ về. Hai chị em vừa đi vừa dán mắt lên những cây dừa cây phi lau trồng dọc hai bên đường. Bây giờ nghĩ lại thấy tội nghiệp những con bọ đó quá chừng. Bắt nó về nhiều khi chỉ chơi một lát rồi để vào trong ngăn kéo. Vài ngày sau mở ra thấy chúng ũ rủ, xệ cả cánh, bủn rủn cả « tay chân ». Vậy mà mỗi ngày là mỗi niềm vui khi phát giác ra những con bò vừng bám sau chiếc lá dừa hoặc trên cành phi lau. Trèo lên và tìm cách bắt cho kỳ được.
Ngoài con bò vừng còn một con khác cùng loại bọ, hiếm hơn và hấp dẫn bởi dáng vẻ thon thả và màu sắc xanh biếc đẹp đẽ của nó. Đó là con quýt quýt. Chúng thường bám trên cành găng, một loại cây to, mọc rất mạnh ở vùng đất cát, toàn thân cây đến cành đầy những gai, lá nhiều mà nhỏ. Các chú quýt quýt thường bám vào và ẩn mình nơi những chiếc lá có vẻ cùng màu xanh với nó. Vô phúc cho những con nào đáp ở những cành vừa tầm tay trẻ con. Thật thích thú đươcngắm màu xanh biếc tuyệt vời của loài bọ ấy và bắt nó đem về nhà.
Tội nghiệp quá phải không bò vừng và quýt quýt ! Bây giờ nếu có gặp thì chỉ ngắm thôi chứ không bắt về nhà nữa đâu).(Phong: Con bò vừng hay còn được gọi là con bọ xòe có nhiều màu khác nhau, có con màu trắng, con màu xám nhưng đa phần là màu nâu vàng như màu da bò và có nhiều cách chơi. Đơn giản là nắm cặp cánh cứng bên ngoài của nó đã được bẻ quặp ra phía sau rồi thổi vào người nó. Khi thấy có gió, theo phản xạ, nó sẽ đập cánh mỏng phía trong như khi đang bay. Lúc đó nó phát ra tiếng sè sè và thổi hơi mát. Mỗi đứa cầm một con và thi xem con nào bay lâu hơn. Cách khác, lấy sợi chỉ dài khoảng 1,5m, cột vào chân nó rồi quay vài vòng là nó sẽ bay nhưng không thể bay đi được vì đã mắc sợi dây nên chỉ có thể bay vòng tròn quanh mình. Lúc đó mình chỉ cầm dây đưa theo cho đến khi nó mỏi cánh rớt xuống. Cách phức tạp hơn là dùng giây kẽm uốn thành hình chiếc xe, có càng kéo giống như xe lôi, đục lỗ trên cánh cứng của nó để móc càng xe vào, đặt con bọ nằm ngửa dưới đất, thổi hơi vào người nó, theo phản xạ tự nhiên nó sẽ bay. Vì đang nằm ngửa nên lúc này thân mình nó dựng lên, tựa trên hai cánh cứng và đập cánh mỏng để bay. Bay trong tư thế đó nó trở thành máy kéo kéo chiếc xe lết trên đất.
Còn con quýt quýt thì không bày trò chơi được chỉ nuôi nó trong hộp giấy, bỏ lá keo cho nó ăn. Có con còn đẻ ra những quả trứng nhỏ xíu màu trắng ngà.
Đây là những loại bọ rất hiền lành. Về sau này sao em không còn nhìn thấy chúng nữa.)
(Giang: Cha mẹ vẫn áp dụng cách sống này khi ở Xã Đoài, có lẽ từ 1980, lúc này dường như chỉ có Vũ được ưu ái đôi chút, tất cả phải thức dậy khi nghe chuông, nhưng cha kèm chặt Giang và Quang, mắt nhắm mắt mở đọc kinh dâng ngày và thức dậy một cách khó nhọc, rất hay bị cha nạt, sau đó ra quay nước giếng lên rửa mặt, cũng có nước chứa sẵn trong thùng phuy nhưng nó lạnh quá, nước giếng ấm hơn. Em và chị Quang hay giúp nhau trong những việc múc nước, đánh răng, thay đồ rồi cùng nhau đi lễ, chị Thủy có lẽ đã lớn hơn nên ít chia sẻ với em. Chỉ có ánh sáng đèn dầu, có khi không có đèn phải soi bằng ánh lửa bếp. Vì nhà thờ rất gần nên không phải lần hạt trên đường đi nữa chăng?! Anh Sơn ơi, con bò vừng ở đâu? - em đọc tiếp theo sẽ thấy con bò vừng Giang à)
Khi đi lễ thì trời còn tối đen, nhưng lễ xong ra về thì trời đã tờ mờ sáng. Đoạn đường từ nhà thờ về nhà là một chặng đường thú vị, vì lúc đó cha không còn đi chung nữa mà cha hay ra về sớm để giúp mẹ làm việc nhà, chỉ còn mấy chị em đi chung với nhau. Trời buổi sáng mát mẻ dễ chịu, nên chị em thường thơ thẩn chậm rải nhìn ngó quan sát khắp nơi. Buổi sáng hôm đó nhìn lên tàu lá dừa non, anh thấy một con bò vừng thật bự màu vàng, vậy là vội tính kế để bắt nó về chơi. Vì cây dừa hơi cao và cành lá non nằm mãi ở ngoài xa không thể với tới, nên anh lấy dép ném cho nó rớt xuống. Lúc ấy hình như anh học lớp tư, tương đương với lớp 2 bây giờ. Con bò vừng cùng gia đình với con bọ hung, nhưng nó không đen thui như bọ hung mà màu vàng khá đẹp, lớn hơn ngón chân cái, cánh nó có phấn trắng. Mang về nhà cất trong hộp hay buộc sợi chỉ vào cánh để giữ trong nhà chơi dần dần cho tới khi nó chết thì quăng cho gà.
Vào thập niên 1960, Vinh Thủy còn rất thưa thớt hoang vu, dọc đường Thủ khoa Huân từ thị xã Phan thiết ra tới Thanh Hải (xứ Ba làng), bấy giờ chỉ có lưa thưa vài căn nhà nằm sát ven đường, xa xa mới có một căn. Hai bên đường đầy những dãy xương rồng và cây keo - còn gọi là cây găng.
(Chị Tuyết : Chị cũng nhớ rất rõ kỷ niệm những buổi sáng, sau khi đi lễ về. Hai chị em vừa đi vừa dán mắt lên những cây dừa cây phi lau trồng dọc hai bên đường. Bây giờ nghĩ lại thấy tội nghiệp những con bọ đó quá chừng. Bắt nó về nhiều khi chỉ chơi một lát rồi để vào trong ngăn kéo. Vài ngày sau mở ra thấy chúng ũ rủ, xệ cả cánh, bủn rủn cả « tay chân ». Vậy mà mỗi ngày là mỗi niềm vui khi phát giác ra những con bò vừng bám sau chiếc lá dừa hoặc trên cành phi lau. Trèo lên và tìm cách bắt cho kỳ được.
Ngoài con bò vừng còn một con khác cùng loại bọ, hiếm hơn và hấp dẫn bởi dáng vẻ thon thả và màu sắc xanh biếc đẹp đẽ của nó. Đó là con quýt quýt. Chúng thường bám trên cành găng, một loại cây to, mọc rất mạnh ở vùng đất cát, toàn thân cây đến cành đầy những gai, lá nhiều mà nhỏ. Các chú quýt quýt thường bám vào và ẩn mình nơi những chiếc lá có vẻ cùng màu xanh với nó. Vô phúc cho những con nào đáp ở những cành vừa tầm tay trẻ con. Thật thích thú đươcngắm màu xanh biếc tuyệt vời của loài bọ ấy và bắt nó đem về nhà.
Tội nghiệp quá phải không bò vừng và quýt quýt ! Bây giờ nếu có gặp thì chỉ ngắm thôi chứ không bắt về nhà nữa đâu).(Phong: Con bò vừng hay còn được gọi là con bọ xòe có nhiều màu khác nhau, có con màu trắng, con màu xám nhưng đa phần là màu nâu vàng như màu da bò và có nhiều cách chơi. Đơn giản là nắm cặp cánh cứng bên ngoài của nó đã được bẻ quặp ra phía sau rồi thổi vào người nó. Khi thấy có gió, theo phản xạ, nó sẽ đập cánh mỏng phía trong như khi đang bay. Lúc đó nó phát ra tiếng sè sè và thổi hơi mát. Mỗi đứa cầm một con và thi xem con nào bay lâu hơn. Cách khác, lấy sợi chỉ dài khoảng 1,5m, cột vào chân nó rồi quay vài vòng là nó sẽ bay nhưng không thể bay đi được vì đã mắc sợi dây nên chỉ có thể bay vòng tròn quanh mình. Lúc đó mình chỉ cầm dây đưa theo cho đến khi nó mỏi cánh rớt xuống. Cách phức tạp hơn là dùng giây kẽm uốn thành hình chiếc xe, có càng kéo giống như xe lôi, đục lỗ trên cánh cứng của nó để móc càng xe vào, đặt con bọ nằm ngửa dưới đất, thổi hơi vào người nó, theo phản xạ tự nhiên nó sẽ bay. Vì đang nằm ngửa nên lúc này thân mình nó dựng lên, tựa trên hai cánh cứng và đập cánh mỏng để bay. Bay trong tư thế đó nó trở thành máy kéo kéo chiếc xe lết trên đất.
Còn con quýt quýt thì không bày trò chơi được chỉ nuôi nó trong hộp giấy, bỏ lá keo cho nó ăn. Có con còn đẻ ra những quả trứng nhỏ xíu màu trắng ngà.
Đây là những loại bọ rất hiền lành. Về sau này sao em không còn nhìn thấy chúng nữa.)
19/4/10
Ông địa Đồng Hưu.
Anh Hùng chết vào ngày Tết Âm Lịch năm 1957. Sau đó ít lâu thì cha xin thôi việc ở đồn điền cao su Hớn Quản về Phan thiết làm ăn. Lúc đó anh là đứa bé hơn 3 tuổi, nhưng anh đã có cảm giác buồn và nhớ nhà. Mặc dầu ở bên cạnh cha mẹ của mình, nhưng cứ mỗi chiều đến là anh thấy buồn dễ sợ và nhớ đến những buổi chiều tại Hớn Quản. Sau khi từ đồn điền Hớn Quản về Vinh thủy, cha không có việc làm trong một thời gian. Vì đã đi tu ở Tiểu chủng Viện và đi giúp xứ, nên cha có nhiều bạn bè quen biết là linh mục, trong số đó có LM Nguyễn viết Khai. Cha Khai có quen biết quan hệ với phủ tổng thống đệ nhất cộng hòa, nên ngài đã giới thiệu cho cha đi làm Địa điểm trưởng tại các khu dinh điền của chính phủ. Khu dinh điền là kế hoạch của chính phủ nhằm khai hoang những vùng rừng núi cao nguyên, ủi cây dọn rừng biến thành đất có thể trồng trọt để định cư những dân chạy nạn cs từ Bắc vô Nam. Mỗi địa điểm được tổ chức giống như một làng hay một xã, có vài ba xe ủi đất, có trạm y tế và vài ba nhân viên y tế, có thuốc men, có một vài tiểu đội lính vũ trang súng ống để giữ gìn an ninh. Và đứng đầu một cơ cấu như thế là ông địa điểm trưởng. Vùng Dakmil gia đình ta lập nghiệp từ năm 1975 tới nay khởi điểm cũng là một địa điểm dinh điền trong kế hoạch đó.
Địa điểm đầu tiên cha đi nhận công tác là Lệ Thanh 1 ở Pleiku. Cha đi một mình và ở đó được vài ba tháng thì xin đổi về Đồng Hưu. Trong một lần về thăm nhà, cha đưa anh đi theo. Anh không nhớ rõ năm nào, vì lúc đó còn quá nhỏ nên khái niệm thời gian thật mơ hồ. Chỉ biết là anh đã biết đọc biết viết và làm toán cộng trừ nhân chia được rồi, nhưng chưa đến trường mà học ở nhà do mẹ hay cậu dạy. Bây giờ nhẩm tính thời gian đi ngược lại, thì có lẽ đó là khoảng đầu năm 1960.
Đồng Hưu là một địa điểm mới được khai hoang, nằm trong rừng sâu. Xe ủi đất ủi sập từng khoảng rừng rộng lớn, rồi gom lại và đốt. Những nơi cành cây và thân cây được gom lại để đốt được gọi là đống gom. Sau khi đốt dọn sạch sẽ và đất đai sẵn sàng để canh tác thì phân chia lô, rồi cho người tới ở. Anh nhớ khi mới tới, điều đầu tiên cha dặn là buổi tối đi ra ngoài nếu có lính gác hỏi “ai đó” thì phải đứng im la lớn lên “tui là con ông địa”, không được chạy, vì chạy có thể bị bắn vì lính nghi ngờ có kẻ gian đột nhập. Ngoài ra cha còn dặn kỹ là đừng đi chơi gần những đống gom, vì nhiều khi nó cháy chưa hết, hay là nó đang còn cháy ngầm ở dưới mà lớp tro ở trên thì nguội, không biết chạy vô thì bị chết phỏng. Cha còn kể thêm trước đó một thời gian có đứa nhỏ bằng tuổi anh chạy chơi rồi bị bỏng hết cả người càng làm anh sợ và nhớ kỹ hơn nên không dám mon men đi đâu cả.
Hai cha con ở trong những dãy nhà lá, chia thành từng ngăn dành cho nhân viên hành chánh của chính phủ, có trạm Y tá, có vài tiểu đội lính. Vì địa điểm nằm ngay giữa rừng sâu, nên đêm lạnh và sáng sớm cũng như chiều tối sương mù la đà dày đặc mặt đất. Kỷ niệm anh nhớ khá rõ đó là đi tắm suối trong rừng. Không có phương tiện đào giếng vì nước ở quá sâu nên người ta chặn các khe nước nhỏ trong rừng lại thành từng vũng nước để dùng tắm giặt. Một buổi trưa ngủ dậy, cha đưa cho anh quần áo và dắt anh ra khu vực suối nói anh xuống tắm rồi cha trở về văn phòng làm việc. Nhìn xuống khe suối, thấy tiếng cười nói huyên náo, anh mắc cở và e ngại quá, nên đứng im trên đó luôn. Không biết lâu hay mau sau đó thì cha trở lại tìm anh để dẫn về, thấy anh vẫn đứng như trời trồng, không nhúc nhích gì cả. Cha la cho một trận, rồi dắt về. Anh cũng quên không nhớ là sau đó có trở lại tắm không hay ở dơ luôn như vậy.
Trong thời gian ở Đồng Hưu, anh còn nhớ có cô Y tá tên Hoàng, cô ta người miền Nam. Khi đi theo cha lên Đồng Hưu, anh chưa có dịp sống ở ngoài với người khác, nên vẫn giữ nguyên tiếng nói của vùng Nghệ An là “mô, tê, răng, rứa”. Cô Hoàng nghe anh nói như thế rất thích và cứ chọc để cho anh nói. Cô ta có lẽ là một người phụ nữ tầm 25 – 30 tuổi, không con nên thích con nít. Thấy anh thì khoái lắm rồi hay làm những đồ ăn đồ uống như nước chanh hột é dụ anh sang chơi, nhưng lúc đó anh thấy những món này rất lạ nên không thích. Hơn nữa, theo cách giáo dục của cha mẹ, mình không được tự tiện lấy đồ người khác cho, không được ăn uống bất cứ cái gì người khác mời, nếu không được cha mẹ cho phép, cho nên anh dầu có thích cũng không dám ăn.
Hai cha con ở với nhau được một thời gian, có lẽ là không lâu lắm, nhưng cái cảm giác của anh lúc bấy giờ là rất lâu, thì mẹ đưa cả nhà lên Đồng Hưu với cha. Có lẽ lúc này chị Tuyết đang nghỉ hè. Mẹ từ Phan thiết đi lên Đồng Hưu với 3 đứa con nhỏ trên tay, là chị Tuyết, 7 tuổi rưỡi, anh Thạch 2 tuổi rưỡi và chị Vân mới mấy tháng, hình như là 5 hay 6 tháng.
Dân chúng sinh sống ở địa điểm Đồng Hưu không biết xuất phát từ đâu, lúc đó anh còn quá nhỏ để lưu tâm đến những chi tiết như thế. Nhưng anh nhận xét là người dân chất phác dễ mến, và đặc biệt là rất quý trọng cha. Cha hay dẫn anh đi tới thăm các gia đình trong làng khi có dịp. Bây giờ vẫn còn nhớ kỷ niệm gia đình ông Duệ và những lần đi ăn cháo lươn tại nhà ông ta.
Một buổi tối trong nhà, sau bữa cơm tối Thạch chơi đùa trên giường, cứ đứng trên giường quăng mình xuống chiếc gối và la lối thích thú là “coi Thạch nhảy dù”. Nhảy một lát không biết trái miếng ra sao mà bị trặc tay, khúc cùi chỏ sưng vù. Phải tìm người đến nắn. Không biết ông thầy chữa bệnh trặc có đến ngay buổi tối hay không, nhưng hình ảnh còn lại là ông ta dùng một que nhang để hơ cánh tay của Thạch. Hình như không đau đớn gì vì không thấy Thạch la hét gì cả.
Một lần khác, đang lúc có khách khứa đông đúc tại địa điểm, cha có vẻ bận rộn nhiều, anh với chị Tuyết và một vài đứa bạn rủ nhau đi bộ thơ thẩn ra xa khỏi làng, trên con đường đất đỏ duy nhất từ ngoài đường cái dẫn vào. Lúc đó trời đã chiều, và bóng tối xuống thật mau. Không biết tại sao bỗng dưng anh có ý tưởng tinh nghịch là về nhà nói với cha rằng trên đường đi con thấy có biểu ngữ đề “Đả đảo Việt Nam Cộng Hòa”. Bây giờ anh quên nội dung chính xác lời anh nói với cha là gì, nhưng tựu trung là một dấu hiệu có sự lai vãng hay thăm viếng của cs trong vùng. Ngay sau đó, cha đã cho một nhóm lính mang súng ống đi thăm dò về phía mà anh với chị Tuyết mới đi chơi lúc nãy. Dĩ nhiên họ đã không tìm thấy gì khả nghi, nhưng họ không thể biết đích xác là anh đã bịa ra hay anh đã nhìn thấy thật những biểu ngữ bất thường như thế. Qua ngày hôm sau không ai nhắc lại chuyện đó nữa, mà cha cũng không nói thêm gì với anh. Cho đến bây giờ anh cũng không biết cha có nghi ngờ gì về sự bịa đặt của anh hay không.
Địa điểm đầu tiên cha đi nhận công tác là Lệ Thanh 1 ở Pleiku. Cha đi một mình và ở đó được vài ba tháng thì xin đổi về Đồng Hưu. Trong một lần về thăm nhà, cha đưa anh đi theo. Anh không nhớ rõ năm nào, vì lúc đó còn quá nhỏ nên khái niệm thời gian thật mơ hồ. Chỉ biết là anh đã biết đọc biết viết và làm toán cộng trừ nhân chia được rồi, nhưng chưa đến trường mà học ở nhà do mẹ hay cậu dạy. Bây giờ nhẩm tính thời gian đi ngược lại, thì có lẽ đó là khoảng đầu năm 1960.
Đồng Hưu là một địa điểm mới được khai hoang, nằm trong rừng sâu. Xe ủi đất ủi sập từng khoảng rừng rộng lớn, rồi gom lại và đốt. Những nơi cành cây và thân cây được gom lại để đốt được gọi là đống gom. Sau khi đốt dọn sạch sẽ và đất đai sẵn sàng để canh tác thì phân chia lô, rồi cho người tới ở. Anh nhớ khi mới tới, điều đầu tiên cha dặn là buổi tối đi ra ngoài nếu có lính gác hỏi “ai đó” thì phải đứng im la lớn lên “tui là con ông địa”, không được chạy, vì chạy có thể bị bắn vì lính nghi ngờ có kẻ gian đột nhập. Ngoài ra cha còn dặn kỹ là đừng đi chơi gần những đống gom, vì nhiều khi nó cháy chưa hết, hay là nó đang còn cháy ngầm ở dưới mà lớp tro ở trên thì nguội, không biết chạy vô thì bị chết phỏng. Cha còn kể thêm trước đó một thời gian có đứa nhỏ bằng tuổi anh chạy chơi rồi bị bỏng hết cả người càng làm anh sợ và nhớ kỹ hơn nên không dám mon men đi đâu cả.
Hai cha con ở trong những dãy nhà lá, chia thành từng ngăn dành cho nhân viên hành chánh của chính phủ, có trạm Y tá, có vài tiểu đội lính. Vì địa điểm nằm ngay giữa rừng sâu, nên đêm lạnh và sáng sớm cũng như chiều tối sương mù la đà dày đặc mặt đất. Kỷ niệm anh nhớ khá rõ đó là đi tắm suối trong rừng. Không có phương tiện đào giếng vì nước ở quá sâu nên người ta chặn các khe nước nhỏ trong rừng lại thành từng vũng nước để dùng tắm giặt. Một buổi trưa ngủ dậy, cha đưa cho anh quần áo và dắt anh ra khu vực suối nói anh xuống tắm rồi cha trở về văn phòng làm việc. Nhìn xuống khe suối, thấy tiếng cười nói huyên náo, anh mắc cở và e ngại quá, nên đứng im trên đó luôn. Không biết lâu hay mau sau đó thì cha trở lại tìm anh để dẫn về, thấy anh vẫn đứng như trời trồng, không nhúc nhích gì cả. Cha la cho một trận, rồi dắt về. Anh cũng quên không nhớ là sau đó có trở lại tắm không hay ở dơ luôn như vậy.
Trong thời gian ở Đồng Hưu, anh còn nhớ có cô Y tá tên Hoàng, cô ta người miền Nam. Khi đi theo cha lên Đồng Hưu, anh chưa có dịp sống ở ngoài với người khác, nên vẫn giữ nguyên tiếng nói của vùng Nghệ An là “mô, tê, răng, rứa”. Cô Hoàng nghe anh nói như thế rất thích và cứ chọc để cho anh nói. Cô ta có lẽ là một người phụ nữ tầm 25 – 30 tuổi, không con nên thích con nít. Thấy anh thì khoái lắm rồi hay làm những đồ ăn đồ uống như nước chanh hột é dụ anh sang chơi, nhưng lúc đó anh thấy những món này rất lạ nên không thích. Hơn nữa, theo cách giáo dục của cha mẹ, mình không được tự tiện lấy đồ người khác cho, không được ăn uống bất cứ cái gì người khác mời, nếu không được cha mẹ cho phép, cho nên anh dầu có thích cũng không dám ăn.
Hai cha con ở với nhau được một thời gian, có lẽ là không lâu lắm, nhưng cái cảm giác của anh lúc bấy giờ là rất lâu, thì mẹ đưa cả nhà lên Đồng Hưu với cha. Có lẽ lúc này chị Tuyết đang nghỉ hè. Mẹ từ Phan thiết đi lên Đồng Hưu với 3 đứa con nhỏ trên tay, là chị Tuyết, 7 tuổi rưỡi, anh Thạch 2 tuổi rưỡi và chị Vân mới mấy tháng, hình như là 5 hay 6 tháng.
Dân chúng sinh sống ở địa điểm Đồng Hưu không biết xuất phát từ đâu, lúc đó anh còn quá nhỏ để lưu tâm đến những chi tiết như thế. Nhưng anh nhận xét là người dân chất phác dễ mến, và đặc biệt là rất quý trọng cha. Cha hay dẫn anh đi tới thăm các gia đình trong làng khi có dịp. Bây giờ vẫn còn nhớ kỷ niệm gia đình ông Duệ và những lần đi ăn cháo lươn tại nhà ông ta.
Một buổi tối trong nhà, sau bữa cơm tối Thạch chơi đùa trên giường, cứ đứng trên giường quăng mình xuống chiếc gối và la lối thích thú là “coi Thạch nhảy dù”. Nhảy một lát không biết trái miếng ra sao mà bị trặc tay, khúc cùi chỏ sưng vù. Phải tìm người đến nắn. Không biết ông thầy chữa bệnh trặc có đến ngay buổi tối hay không, nhưng hình ảnh còn lại là ông ta dùng một que nhang để hơ cánh tay của Thạch. Hình như không đau đớn gì vì không thấy Thạch la hét gì cả.
Một lần khác, đang lúc có khách khứa đông đúc tại địa điểm, cha có vẻ bận rộn nhiều, anh với chị Tuyết và một vài đứa bạn rủ nhau đi bộ thơ thẩn ra xa khỏi làng, trên con đường đất đỏ duy nhất từ ngoài đường cái dẫn vào. Lúc đó trời đã chiều, và bóng tối xuống thật mau. Không biết tại sao bỗng dưng anh có ý tưởng tinh nghịch là về nhà nói với cha rằng trên đường đi con thấy có biểu ngữ đề “Đả đảo Việt Nam Cộng Hòa”. Bây giờ anh quên nội dung chính xác lời anh nói với cha là gì, nhưng tựu trung là một dấu hiệu có sự lai vãng hay thăm viếng của cs trong vùng. Ngay sau đó, cha đã cho một nhóm lính mang súng ống đi thăm dò về phía mà anh với chị Tuyết mới đi chơi lúc nãy. Dĩ nhiên họ đã không tìm thấy gì khả nghi, nhưng họ không thể biết đích xác là anh đã bịa ra hay anh đã nhìn thấy thật những biểu ngữ bất thường như thế. Qua ngày hôm sau không ai nhắc lại chuyện đó nữa, mà cha cũng không nói thêm gì với anh. Cho đến bây giờ anh cũng không biết cha có nghi ngờ gì về sự bịa đặt của anh hay không.
Viết thêm về cậu
Kể về cậu mà anh không chia sẻ kỷ niệm của anh với cậu cho các em thì thật là thiếu sót. Nên hôm nay anh ngồi viết lại tất cả những gì anh biết về cậu dưới nhãn quan của anh, theo sự cảm nhận của anh để các em biết thêm về một nhân vật khá thân thuộc trong gia đình mình. Thân thuộc là bởi vì ngoài cha mẹ, cậu là người thân duy nhất của gia đình đi theo cha mẹ từ ngoài Song Ngọc vô Nam năm 1955. Nhìn ra chung quanh mình thì người ta có ông bà nội ngoại, có dì cậu chú bác, còn lúc đó nhà mình thì chỉ có cậu. Phong nhận xét về cậu rất đúng khi nhắc lại rằng trong nhà chỉ dùng tiếng “cậu” mà không cần gọi thêm tên để nói về cậu Trực trong khi những cậu khác thì phải nêu tên như cậu Phan, cậu Hải.
Theo những mảnh chuyện giữa cha mẹ mà anh nghe lóm được thì khi di cư vô Nam, cậu là một thanh niên vừa mới lớn. Vừa đặt chân vô trại tạm trú thì cha tìm được việc làm rất tốt với công ty trồng cao su của người Pháp nên đã đề nghị nuôi cậu đi học. Hình như cậu cảm thấy tù túng trong gia đình hay là muốn bay nhảy tự do hay là không muốn bị lệ thuộc nên cậu không đi học như lời cha đề nghị mà bỏ đi lính một thời gian (hình như là đi quân dịch). Kỷ niệm của anh về cậu vào năm 1955 – 1956 là đang ở nhà thì thấy cậu được nghỉ phép về, lúc này anh cỡ 2 tuổi rưỡi. Có người bán bong bóng màu rất đẹp đi ngang nhà nên mẹ mua cho anh một trái. Lúc đó anh đang chơi với bong bóng, tung lên rồi chạy theo đánh, vô cùng thích thú. Cậu xin chơi với anh, nhưng dành đánh một mình, anh không đụng được cái nào cả. Tức quá ! Anh đòi bong bóng lại, cậu không cho mà cứ tiếp tục chọc giận anh. Anh càng nổi điên ! Chừng một vài phút sau, cậu trả bong bóng lại cho anh thì anh ôm chặt vô bụng cho nó bể luôn. Mẹ hỏi sao con không giữ mà chơi lại làm bể, anh nói bong bóng của con mà cậu dành không cho con chơi, con tức quá !
Sau này khi nhà mình rời An lộc về Phan Thiết, cậu ăn ở trong nhà với mình và đi học trường Ngô đình Khôi (từ năm 1963 đổi tên thành trường Chính Tâm) thì anh mới đụng chạm với cậu nhiều hơn. Hình như sau khi đi lính một thời gian, cậu mới thấy bằng cấp là cần thiết nên trở lại đi học. Cậu học giỏi, phần thưởng đủ loại, nhưng cậu thi mãi mà không đậu được Tú Tài 2 để lên Đại Học nên đành phải đăng lính vô trường sĩ quan Thủ đức và gác bỏ mộng học hành lên cao hơn. Anh có đôi lần nghe cha mẹ nói về mấy chữ “học tài thi phận” để nói về trường hợp cậu. Anh đụng chạm trực tiếp với cậu là bắt đầu từ khi ở Đồng Hưu về, mẹ nói cậu dạy cho anh học, tập đọc tập viết và làm toán để đến trường vì lớn đầu rồi mà còn long nhong. Những la mắng gõ đầu, dùng thước kẻ đánh vô tay sưng vù hay đánh lên đầu ứ máu là điều xảy ra hàng ngày. Anh chỉ học với cậu vài tháng thôi, trong lúc chờ đi học lớp tư ở trường tiểu học trong Vinh Thủy. Và lúc đó, anh không có sự phản kháng hay chống đối gì, vì nghĩ đó là chuyện bình thường. Nhưng lớn hơn, bắt đầu có nhận thức, và cá tính phát triển thì anh cảm thấy bị xúc phạm và sỉ nhục vì những la mắng xối xả như vậy. Anh hoàn toàn không giận cậu khi bị đánh vì đã phá máy chụp hình, như anh đã tâm sự trong câu chuyện “Kỷ niệm không vui”, cũng không ghét cậu vì đã hung hăng đánh đập trong lúc dạy anh học khi còn nhỏ, mà sự phản kháng nó thành hình do cách đối xử của cậu đối với anh trong suốt thời gian bắt đầu hiểu biết cho đến tuổi trưởng thành.
Cậu là người sống có tình có nghĩa. Anh nhớ là vào khoảng năm 1966 – 1967, khi cậu đi tu nghiệp bên Mỹ, tuy không giàu có dư giả gì mà cậu vẫn mua quà cho từng đứa cháu một, không sót một ai, và mua cho cả cha và mẹ nữa, khệ nệ mang xách từ bên Mỹ về tới VN. Nhưng cậu cũng là tiêu biểu của một con người gia trưởng, áp đặt và độc đoán. Đối xử với người ngoài thì vô cùng lịch sự lễ phép nhã nhặn, nhưng về nhà thì quát tháo ầm ĩ với người thân. Rất quan tâm, rất thương yêu chăm sóc, nhưng vô cùng cứng nhắc và nóng nảy. Cho nên anh không thể không đồng ý với chị Tuyết hay với Phong và Trinh là cậu rất thương các cháu, nhưng anh phải nói thêm là cậu có những cách xử sự làm thương tổn anh rất nhiều.
Có một lần, khi đó cậu vừa đi tu nghiệp ở Mỹ về, từ Nha trang về thăm cha mẹ ở Phan thiết, rồi nói với cha mẹ là “anh chị cho cháu Sơn ra ở chơi với em ít hôm cho đỡ buồn”. Lúc đó đang là mùa hè. Cha mẹ nói anh đi ra sớm vài ngày rồi ghé ở với cậu trước khi vô chủng viện nhập học. Anh đi xe đò ra bến xe Phước Hải ở Nha trang rồi đi xích lô tới trại lính của cậu mà bây giờ anh không thể nhớ được nó nằm ở đâu. Một buổi sáng ngủ dậy, cậu đưa đi ăn phở. Trước khi đi cậu hỏi: “Sơn muốn ăn phở gà hay phở bò”. Anh lí nhí trả lời: “ăn chi cũng được”. Vậy là cậu hét cho một câu nghe giật bắn cả người luôn : “muốn ăn cái gì thì nói, chứ tại sao lại ăn chi cũng được là sao”. Anh hoàn toàn mất hứng. Anh rất nhạy cảm, anh thích sự nhẹ nhàng dịu dàng từ tốn, nên những cách cư xử như thế ảnh hưởng rất nhiều và rất lâu trong anh. Anh nghĩ nếu cậu không vừa ý về câu trả lời thì cứ nói là “cháu không nên trả lời như vậy vì lý do này …vì lý do kia…” thì anh sẽ nghe lọt lỗ tai mà sửa lại những lần sau.
Một lần khác vào mùa hè năm 1968. Khi ấy nhà mình đang tị nạn ở Vinh Phú trong căn nhà mình mua lại bên cạnh nhà chú Điều. Trong bữa cơm, có ai đó đang nói về nhà thương, anh mới phát biểu là “khi nghe 2 chữ nhà thương mình thấy nó có vẻ tầm thường mà khi nói bệnh viện thì mình có cảm tưởng là to lớn hiện đại”. Cậu mắng anh xối xả rằng “ngu mà cũng nói, không biết thì im mà nghe, nhà thương Chợ Rẫy có nhỏ không”. Anh cụt hứng, ngồi im re. Phản ứng tự nhiên ngay lúc đó là anh cảm thấy mình không ra gì, là ngu dốt khờ dại nhất thế gian và mất mặt vô cùng trước mặt các em. Xét cho cùng thì đó chỉ là cảm tưởng của anh, tại sao anh không được quyền nói lên điều mình cảm nhận. Cậu lấy cơ sở gì mà nói rằng điều anh nói là sai, và điều của cậu là đúng. Mà giả như không đồng ý thì cứ trình bày một cách bình thường việc gì phải nói người khác là ngu.
Rồi một lần khác nữa … khi mình đang tị nạn bên Vinh Phú, ở bên cạnh nhà chú Điều. Đó là một buổi xế trưa, cậu lái xe jeep về dừng lại trước nhà, trên xe có chú Điều. Chú Điều bước xuống xe và đi vòng ra sau xe lấy đồ. Khi xe jeep của cậu về tới, thì anh đang đứng chơi trước nhà với Thiện, Hà, Hải và một vài đứa khác mà anh không còn nhớ tên. Cậu ngước mặt lên nhìn thấy anh thì chỉ mặt hét tướng lên một cách hung dữ rằng: “thằng Sơn, đứng trợn mắt ra mà nhìn à, ra giúp chú Điều mang đồ vô”. Anh cụp mặt riu ríu đi ra giúp chú ấy mang cái gì đó vô nhà, nhưng chú ấy nói không cần và tự động xách vô. Anh mất mặt với Thiện và mấy đứa con chú Bích vì bị nạt nộ la lối vô cớ như thế. Lúc đó anh ấm ức vô cùng, vì nghĩ rằng việc giúp đỡ là việc tự nguyện, không bao giờ có thể là một sự bắt buộc, đàng này, anh đang bị bắt buộc làm một điều mà anh không chủ động làm vì không biết. Nếu anh biết chú Điều cần thì anh cũng chạy ra, nhưng anh đâu biết là chú ấy sắp mang cái gì nặng từ ngoài xe vào, nên làm sao anh có thể tự động lon ton chạy ra xe giúp chú ấy khi xe vừa tới nơi.
Những quát tháo hùng hổ, những lời nói nặng nề … cũng có tác dụng làm chảy máu tâm hồn như những vết thương do gươm đao gây ra trên thân thể vậy thôi. Sự chống đối và mất thiện cảm của anh đối với cậu khởi từ những cách thức như thế và từ trăm ngàn tình huống khác tương tự mà trong đó có nhiều hò hét chửi mắng hơn là những phân tách thâm trầm nhẹ nhàng để anh cảm thấy mình được lắng nghe và tôn trọng, tôn trọng với tư cách là một đứa trẻ. Anh cảm thấy mình bị xúc phạm và bị coi thường, và trong một chừng mực nào đó, nó làm cho anh có khuynh hướng e dè, khép kín và mất tự tin.
Nhìn lại chặng đời đã qua, anh cảm thấy mình thật may mắn và hạnh phúc khi có cha mẹ là những người rất hiểu biết và dịu dàng, vừa chỉ dạy nhắc nhở bằng những lời khéo lời hay mà còn dùng cả đời sống mà làm gương cho các con. Chính những ân cần dịu dàng này của cha mẹ đã phần nào hóa giải những hung hăng khe khắt mà cậu đã gieo vào lòng anh trong những năm đầu đời.
Đó là kinh nghiệm của anh về cậu, rất cá nhân và hoàn toàn chủ quan. Chị Tuyết, anh Thạch, anh Phong hay chị Vân, cũng như các em về sau này, mỗi người có thể có cái nhìn khác về cậu, anh hoàn toàn chấp nhận điều đó và không hề nghĩ rằng cái nhìn của anh là đúng nhất và của người khác là sai. Dầu khác nhau về cái nhìn, về kỷ niệm hay về nhận định, cuối cùng anh vẫn nghĩ rằng gia đình mình thật may mắn khi có một người ruột thịt gần gũi là cậu bên cạnh.
Theo những mảnh chuyện giữa cha mẹ mà anh nghe lóm được thì khi di cư vô Nam, cậu là một thanh niên vừa mới lớn. Vừa đặt chân vô trại tạm trú thì cha tìm được việc làm rất tốt với công ty trồng cao su của người Pháp nên đã đề nghị nuôi cậu đi học. Hình như cậu cảm thấy tù túng trong gia đình hay là muốn bay nhảy tự do hay là không muốn bị lệ thuộc nên cậu không đi học như lời cha đề nghị mà bỏ đi lính một thời gian (hình như là đi quân dịch). Kỷ niệm của anh về cậu vào năm 1955 – 1956 là đang ở nhà thì thấy cậu được nghỉ phép về, lúc này anh cỡ 2 tuổi rưỡi. Có người bán bong bóng màu rất đẹp đi ngang nhà nên mẹ mua cho anh một trái. Lúc đó anh đang chơi với bong bóng, tung lên rồi chạy theo đánh, vô cùng thích thú. Cậu xin chơi với anh, nhưng dành đánh một mình, anh không đụng được cái nào cả. Tức quá ! Anh đòi bong bóng lại, cậu không cho mà cứ tiếp tục chọc giận anh. Anh càng nổi điên ! Chừng một vài phút sau, cậu trả bong bóng lại cho anh thì anh ôm chặt vô bụng cho nó bể luôn. Mẹ hỏi sao con không giữ mà chơi lại làm bể, anh nói bong bóng của con mà cậu dành không cho con chơi, con tức quá !
Sau này khi nhà mình rời An lộc về Phan Thiết, cậu ăn ở trong nhà với mình và đi học trường Ngô đình Khôi (từ năm 1963 đổi tên thành trường Chính Tâm) thì anh mới đụng chạm với cậu nhiều hơn. Hình như sau khi đi lính một thời gian, cậu mới thấy bằng cấp là cần thiết nên trở lại đi học. Cậu học giỏi, phần thưởng đủ loại, nhưng cậu thi mãi mà không đậu được Tú Tài 2 để lên Đại Học nên đành phải đăng lính vô trường sĩ quan Thủ đức và gác bỏ mộng học hành lên cao hơn. Anh có đôi lần nghe cha mẹ nói về mấy chữ “học tài thi phận” để nói về trường hợp cậu. Anh đụng chạm trực tiếp với cậu là bắt đầu từ khi ở Đồng Hưu về, mẹ nói cậu dạy cho anh học, tập đọc tập viết và làm toán để đến trường vì lớn đầu rồi mà còn long nhong. Những la mắng gõ đầu, dùng thước kẻ đánh vô tay sưng vù hay đánh lên đầu ứ máu là điều xảy ra hàng ngày. Anh chỉ học với cậu vài tháng thôi, trong lúc chờ đi học lớp tư ở trường tiểu học trong Vinh Thủy. Và lúc đó, anh không có sự phản kháng hay chống đối gì, vì nghĩ đó là chuyện bình thường. Nhưng lớn hơn, bắt đầu có nhận thức, và cá tính phát triển thì anh cảm thấy bị xúc phạm và sỉ nhục vì những la mắng xối xả như vậy. Anh hoàn toàn không giận cậu khi bị đánh vì đã phá máy chụp hình, như anh đã tâm sự trong câu chuyện “Kỷ niệm không vui”, cũng không ghét cậu vì đã hung hăng đánh đập trong lúc dạy anh học khi còn nhỏ, mà sự phản kháng nó thành hình do cách đối xử của cậu đối với anh trong suốt thời gian bắt đầu hiểu biết cho đến tuổi trưởng thành.
Cậu là người sống có tình có nghĩa. Anh nhớ là vào khoảng năm 1966 – 1967, khi cậu đi tu nghiệp bên Mỹ, tuy không giàu có dư giả gì mà cậu vẫn mua quà cho từng đứa cháu một, không sót một ai, và mua cho cả cha và mẹ nữa, khệ nệ mang xách từ bên Mỹ về tới VN. Nhưng cậu cũng là tiêu biểu của một con người gia trưởng, áp đặt và độc đoán. Đối xử với người ngoài thì vô cùng lịch sự lễ phép nhã nhặn, nhưng về nhà thì quát tháo ầm ĩ với người thân. Rất quan tâm, rất thương yêu chăm sóc, nhưng vô cùng cứng nhắc và nóng nảy. Cho nên anh không thể không đồng ý với chị Tuyết hay với Phong và Trinh là cậu rất thương các cháu, nhưng anh phải nói thêm là cậu có những cách xử sự làm thương tổn anh rất nhiều.
Có một lần, khi đó cậu vừa đi tu nghiệp ở Mỹ về, từ Nha trang về thăm cha mẹ ở Phan thiết, rồi nói với cha mẹ là “anh chị cho cháu Sơn ra ở chơi với em ít hôm cho đỡ buồn”. Lúc đó đang là mùa hè. Cha mẹ nói anh đi ra sớm vài ngày rồi ghé ở với cậu trước khi vô chủng viện nhập học. Anh đi xe đò ra bến xe Phước Hải ở Nha trang rồi đi xích lô tới trại lính của cậu mà bây giờ anh không thể nhớ được nó nằm ở đâu. Một buổi sáng ngủ dậy, cậu đưa đi ăn phở. Trước khi đi cậu hỏi: “Sơn muốn ăn phở gà hay phở bò”. Anh lí nhí trả lời: “ăn chi cũng được”. Vậy là cậu hét cho một câu nghe giật bắn cả người luôn : “muốn ăn cái gì thì nói, chứ tại sao lại ăn chi cũng được là sao”. Anh hoàn toàn mất hứng. Anh rất nhạy cảm, anh thích sự nhẹ nhàng dịu dàng từ tốn, nên những cách cư xử như thế ảnh hưởng rất nhiều và rất lâu trong anh. Anh nghĩ nếu cậu không vừa ý về câu trả lời thì cứ nói là “cháu không nên trả lời như vậy vì lý do này …vì lý do kia…” thì anh sẽ nghe lọt lỗ tai mà sửa lại những lần sau.
Một lần khác vào mùa hè năm 1968. Khi ấy nhà mình đang tị nạn ở Vinh Phú trong căn nhà mình mua lại bên cạnh nhà chú Điều. Trong bữa cơm, có ai đó đang nói về nhà thương, anh mới phát biểu là “khi nghe 2 chữ nhà thương mình thấy nó có vẻ tầm thường mà khi nói bệnh viện thì mình có cảm tưởng là to lớn hiện đại”. Cậu mắng anh xối xả rằng “ngu mà cũng nói, không biết thì im mà nghe, nhà thương Chợ Rẫy có nhỏ không”. Anh cụt hứng, ngồi im re. Phản ứng tự nhiên ngay lúc đó là anh cảm thấy mình không ra gì, là ngu dốt khờ dại nhất thế gian và mất mặt vô cùng trước mặt các em. Xét cho cùng thì đó chỉ là cảm tưởng của anh, tại sao anh không được quyền nói lên điều mình cảm nhận. Cậu lấy cơ sở gì mà nói rằng điều anh nói là sai, và điều của cậu là đúng. Mà giả như không đồng ý thì cứ trình bày một cách bình thường việc gì phải nói người khác là ngu.
Rồi một lần khác nữa … khi mình đang tị nạn bên Vinh Phú, ở bên cạnh nhà chú Điều. Đó là một buổi xế trưa, cậu lái xe jeep về dừng lại trước nhà, trên xe có chú Điều. Chú Điều bước xuống xe và đi vòng ra sau xe lấy đồ. Khi xe jeep của cậu về tới, thì anh đang đứng chơi trước nhà với Thiện, Hà, Hải và một vài đứa khác mà anh không còn nhớ tên. Cậu ngước mặt lên nhìn thấy anh thì chỉ mặt hét tướng lên một cách hung dữ rằng: “thằng Sơn, đứng trợn mắt ra mà nhìn à, ra giúp chú Điều mang đồ vô”. Anh cụp mặt riu ríu đi ra giúp chú ấy mang cái gì đó vô nhà, nhưng chú ấy nói không cần và tự động xách vô. Anh mất mặt với Thiện và mấy đứa con chú Bích vì bị nạt nộ la lối vô cớ như thế. Lúc đó anh ấm ức vô cùng, vì nghĩ rằng việc giúp đỡ là việc tự nguyện, không bao giờ có thể là một sự bắt buộc, đàng này, anh đang bị bắt buộc làm một điều mà anh không chủ động làm vì không biết. Nếu anh biết chú Điều cần thì anh cũng chạy ra, nhưng anh đâu biết là chú ấy sắp mang cái gì nặng từ ngoài xe vào, nên làm sao anh có thể tự động lon ton chạy ra xe giúp chú ấy khi xe vừa tới nơi.
Những quát tháo hùng hổ, những lời nói nặng nề … cũng có tác dụng làm chảy máu tâm hồn như những vết thương do gươm đao gây ra trên thân thể vậy thôi. Sự chống đối và mất thiện cảm của anh đối với cậu khởi từ những cách thức như thế và từ trăm ngàn tình huống khác tương tự mà trong đó có nhiều hò hét chửi mắng hơn là những phân tách thâm trầm nhẹ nhàng để anh cảm thấy mình được lắng nghe và tôn trọng, tôn trọng với tư cách là một đứa trẻ. Anh cảm thấy mình bị xúc phạm và bị coi thường, và trong một chừng mực nào đó, nó làm cho anh có khuynh hướng e dè, khép kín và mất tự tin.
Nhìn lại chặng đời đã qua, anh cảm thấy mình thật may mắn và hạnh phúc khi có cha mẹ là những người rất hiểu biết và dịu dàng, vừa chỉ dạy nhắc nhở bằng những lời khéo lời hay mà còn dùng cả đời sống mà làm gương cho các con. Chính những ân cần dịu dàng này của cha mẹ đã phần nào hóa giải những hung hăng khe khắt mà cậu đã gieo vào lòng anh trong những năm đầu đời.
Đó là kinh nghiệm của anh về cậu, rất cá nhân và hoàn toàn chủ quan. Chị Tuyết, anh Thạch, anh Phong hay chị Vân, cũng như các em về sau này, mỗi người có thể có cái nhìn khác về cậu, anh hoàn toàn chấp nhận điều đó và không hề nghĩ rằng cái nhìn của anh là đúng nhất và của người khác là sai. Dầu khác nhau về cái nhìn, về kỷ niệm hay về nhận định, cuối cùng anh vẫn nghĩ rằng gia đình mình thật may mắn khi có một người ruột thịt gần gũi là cậu bên cạnh.
13/4/10
Quá chén
Sau khi đưa gia đình gồm mẹ và 2 con Tuyết, Sơn vượt biên vô Nam bằng ghe đánh cá của gia đình ông Vinh mà cha gọi bằng cậu, cha đã tìm được việc làm khá tốt tại đồn điền trồng cây cao su của người Pháp có tên là Plantation Terre Rouge ở Hớn quản, An lộc, Bình Long. Chức vụ của cha thời đó là Kiểm soát viên, được coi là nhân viên trung cấp, tương tự như thầy cai. Trong khi những nhân công làm việc cho đồn điền chỉ được ở tại những khu nhà tập thể thì gia đình mình được một căn nhà biệt lập dạng villa, có vườn trước vườn sau và cây cối rộng rãi.
(Chị Tuyết : Đất đỏ nên rất màu mỡ, mẹ trồng mướp trồng su, rau đay mùng tơi, cải bẹ xanh . . . mà thỉnh thoảng cha tưới bằng vòi caosu. Chị còn nhớ có một bụi khoai vạc, miền nam gọi là khoai ngọt, mọc trong đống rác, để lâu năm đến khi đào lên to bằng «con khỉ» ! Phía bên hông nhà còn có một cây ổi khá lớn mà dịp cậu về thăm nhà đã đu vắt vẻo trên đó làm xiếc, móc hai bàn chân vào nhánh cây, đầu và tay thòng xuống đất đu đưa một cách tài tình !)
Đó là thời đại sung túc của gia đình, kinh tế vững chãi mà con cái còn ít. Cha mẹ không phải chật vật lo kiếm tiền. Vì còn trẻ và ham thích học hỏi, nên cha đã bắt đầu học tiếng Anh, và học ráp transistor để chế ra máy radio như một trò giải trí.
Hình ảnh về giai đoạn này của mình rất mù mờ, lẫn lộn. Bây giờ chỉ còn sót lại hình ảnh cây cối um tùm trong vườn, có hàng rào dâm bụt trước nhà, và ngay góc trái của vườn phía trước có cây vú sữa ai đó đã trồng sẵn rất lớn, trái chĩu chịt. Không hiểu sao mình lại không bao giờ lụm trái mà ăn, mà chỉ chơi mỗi một trò duy nhất, đó là lấy chiếc lá, xé ra làm chóng chóng. Phía sau nhà đất hơi dốc thoai thoải và xa hơn nữa là hoang sơ um tùm. Vì còn nhỏ quá, không bao giờ mình dám bén mảng ra xa phía sau, nhưng chỉ còn nhớ đó là những mảng rừng rậm rạp. Có điểm đáng nhớ, đó là nhà tắm thì nằm ngay phía sau, bên cạnh nhà bếp, còn nhà cầu thì xa lắc ở ngoài cuối vườn, mỗi lần đi ra thật bất tiện.
Trong bối cảnh như thế đã xảy ra một biến cố đáng ghi nhớ trong đời của anh. Đó là vào khoảng năm 1955 - 1956. Mẹ dắt chị Tuyết và bồng Hùng đi Sài gòn hay Phan thiết chơi. Ở nhà chỉ còn lại 2 cha con. Ban ngày đi làm thì cha chở anh xuống nhà chú Điều (chú Điều Lai Khê - chú Điều là con mồ côi đã được ông nội nuôi nấng, nên cha với chú Điều thân thiết với nhau như thể 2 anh em. Gọi là chú Điều Lai Khê là vì đã có thời gian gia đình chú ấy sinh sống tại Lai Khê) để cho mự ấy giữ anh, rồi chiều đến tan sở thì cha ghé chở anh về. Anh ăn trưa ở đó và buổi chiều ăn nửa bữa, nửa còn lại về nhà ăn với cha. Nên biết là trong thời gian anh còn nhỏ, cho tới 6 tuổi, anh chỉ được phép ăn 2 chén cơm mỗi bữa ăn. Có thèm ăn hay có sức ăn thêm cũng không bao giờ được phép ăn thêm chén thứ ba. Mà lúc đó anh luôn luôn muốn ăn thêm, vì con nít tham ăn mà, không bao nhiêu mà đủ. Bây giờ thấy các cháu ăn uống khó khăn, cha mẹ phải năn nỉ bày đủ trò, thiếu điều lạy lục đứa con cho nó ăn xong bữa cơm, thấy mà thương hại. Hôm đó, trong lúc ở nhà chú Điều thì ăn cơm chiều. Buổi trưa ăn gì thì anh không nhớ, nhưng cơm chiều thì anh nhớ. Cha đã dặn anh là chỉ ăn một bát cơm thôi, để dành bát còn lại về nhà ăn với cha. Chuyện này không khó khăn gì, anh nghĩ vậy, vì đã mấy ngày không xảy ra chuyện gì. Cho đến hôm đó, trong buổi cơm chiều, mự ấy nấu canh cà chua và đậu hũ, anh rất thích, và ăn ngon miệng vô cùng. Người lớn thấy đứa con nít ăn ngon như vậy thì họ thích và chú mự ấy ép anh ăn thêm một chén nữa. Anh biết là ăn thế nào về cha cũng nạt cho một trận vì không vâng lời, nên anh không dám. Nhưng chú mự ấy cứ thúc, và ép anh ăn thêm, còn nói thêm rằng “không sao đâu, cháu cứ ăn đi rồi chú xin phép cha cho”. Anh ngồi nhậu luôn một chén cơm thứ hai vui vẻ, nghĩ là đâu có gì quan trọng.
(Trinh: Em nghĩ không phải chỉ có anh bị giới hạn mà chị Tuyết cũng vậy vì mới đây em có nghe mẹ phàn nàn cha về việc đó nhưng mà với chị Tuyết chứ không phải với anh. Khi em đã có trí khôn thì không còn thấy chuyện giới hạn ăn nữa mà em lại bị ngược lại đó là ăn không hết phần cơm mẹ đã lấy cho và bị gọi là hay bỏ mứa , em rất khổ sở vì chuyện này , có lần em định giải quyết cơm thừa bằng cách chôn dưới cát nhưng chị Vân nói không được làm vậy , chôn cơm là có tội. Thế là em lại phải rón rén mang chén cơm thừa vào nhà và hên lắm thì mới không bị la rầy. Em nhớ có lần anh Sơn dọa em là ăn không hết thì anh sẽ đè cổ ra tống vào miệng cho khi nào hết thì thôi , anh Sơn ngày xưa thích dọa con nít lắm. Em không đồng ý với anh là con nít thì tham ăn và không bao nhiêu là đủ vì một đứa trẻ bình thường (không bệnh tật ) khi đang muốn ăn tức là chưa đủ , khi đã đủ thì nó sẽ không ăn nữa).
(Trinh: Em nghĩ không phải chỉ có anh bị giới hạn mà chị Tuyết cũng vậy vì mới đây em có nghe mẹ phàn nàn cha về việc đó nhưng mà với chị Tuyết chứ không phải với anh. Khi em đã có trí khôn thì không còn thấy chuyện giới hạn ăn nữa mà em lại bị ngược lại đó là ăn không hết phần cơm mẹ đã lấy cho và bị gọi là hay bỏ mứa , em rất khổ sở vì chuyện này , có lần em định giải quyết cơm thừa bằng cách chôn dưới cát nhưng chị Vân nói không được làm vậy , chôn cơm là có tội. Thế là em lại phải rón rén mang chén cơm thừa vào nhà và hên lắm thì mới không bị la rầy. Em nhớ có lần anh Sơn dọa em là ăn không hết thì anh sẽ đè cổ ra tống vào miệng cho khi nào hết thì thôi , anh Sơn ngày xưa thích dọa con nít lắm. Em không đồng ý với anh là con nít thì tham ăn và không bao nhiêu là đủ vì một đứa trẻ bình thường (không bệnh tật ) khi đang muốn ăn tức là chưa đủ , khi đã đủ thì nó sẽ không ăn nữa).
Buổi chiều, cha vừa dựng xe đạp ngoài sân bước vô, mự Điều đon đả khoe ngay là “thằng Sơn bữa nay nó ăn giỏi lắm, ăn được 2 chén cơm luôn, mà nó ăn nhìn ngon lành”. Ngay tại chỗ thì cha chỉ cười cười, không nói gì. Nhưng lên xe ngồi, thì bắt đầu một bài dài. Về đến nhà, rồi suốt buổi tối vẫn nghe cha nói. Lúc đó anh còn nhỏ lắm, có nhiều chuyện không nhớ gì cả, mà những điều xảy ra buổi tối hôm đó thì nhớ rõ. Ý chính là cha nói “con không vâng lời cha” và “con ăn no rồi bây giờ đâu có ăn được nữa, để cha phải ăn một mình”. Anh cảm thấy áy náy vô cùng và mặc cảm tội lỗi. Cũng may, qua hôm sau thì cái cảm giác đó không còn nữa.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)