Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong. Hiển thị tất cả bài đăng

22/4/10

Chuyến trở về

Đối với đất nước Việt Nam, ngày 30/4/1975 là một sự kiện lịch sử lớn. Đối với gia đình mình, đây cũng là một biến cố làm thay đổi cuộc sống của nhiều thành viên trong gia đình. 
 
Khi Đà Lạt, Nha Trang bị quân giải phóng chiếm giữ, anh Thạch (lúc đó đang học ở chủng viện Sao Biển Nha Trang) và anh Sơn (đang học ở Giáo hoàng học viện Đà Lạt) đều cùng với đoàn người di tản chạy về Phan Thiết. Đến khi Phan Thiết bị quân giải phóng chiếm thì hai anh lên thuyền đi vào Long Hải (Bà Rịa-Vũng Tàu) rồi về Sài Gòn. Tại đây, ba anh em gặp nhau. Lúc đó mình đang học ở dòng Phanxicô Thủ Đức. Tâm trạng lúc đó của 3 anh em như những đứa con mất cha, mất mẹ, tìm đến nhau để chia sẻ, đùm bọc nhau. Ba anh em lên đường đi Cần Thơ, nơi chị Tuyết đang tu ở dòng Chúa quan phòng. Trước tình cảnh đáng thương của mấy anh em, nhà dòng đã cho ba anh em tá túc và nuôi ăn uống đầy đủ. Sống trong nhà dòng được khoảng mươi ngày thì miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Mọi người xôn xao trở về quê cũ. Tâm trạng của những kẻ ra đi lúc đó chỉ muốn nhanh chóng về nhà để biết nhà mình thế nào sau cuộc chiến. Mình với anh Thạch cũng khăn gói lên đường. Lúc đó anh Sơn đang đi chơi nhà bạn ở Phú Quốc. Từ Cần Thơ về Sài gòn thì không có gì đặc biệt, chỉ có điều phải đi hai lần mới trót lọt. Lần đầu, tình hình an ninh chưa ổn, tiếng súng vẫn còn nổ, xe đi một quãng phải quay về lại. Chuyến đi từ Sài Gòn về Ban Mê Thuột mới đáng nhớ.
Hôm đó, hai anh em Thạch-Phong đi trên chiếc xe lam 3 bánh từ Sài Gòn lên Thủ Đức, ghé vào nhà dòng Phan Xi Cô để lấy đồ đạc còn để tại đây vì khi đi Cần Thơ chỉ mang theo một ít đồ cần thiết. Trên đường đi từ Sài Gòn đến Thủ Đức, hai bên đường, thậm chí ngay giữa đường là những đống quần áo, giầy mũ, vũ khí của lính quốc gia cởi bỏ, quăng vất bừa bãi từ khi quân giải phóng vào, chưa có ai dọn dẹp. Ngoài lề đường, có chiếc xe xúc đang đi thu dọn những xác chết không biết của bên nào đã bắt đầu trương sình lên. Sau khi lấy đồ trong nhà dòng ra, hai đứa đứng đón xe ở ngã ba Thủ Đức. Xe đi về miền Trung rất nhiều nhưng chiếc nào cũng đầy nhóc, không còn chỗ nào để nhét hoặc bám được nữa. Kể cả trên mui xe, ngoài đồ đạc, chỗ nào còn trống cũng có người ngồi hết. Định đón xe đi Nha Trang nhưng không được, cuối cùng thì hai đứa cũng lên được một chiếc xe khách đi Phan Thiết loại trung (cỡ xe 16 chỗ ngồi bây giờ) chật cứng nhưng vẫn dồn chứa thêm được hai đứa nhỏ. (Thạch: Theo trí nhớ của Thạch, xe này không phải là xe khách vì chung quanh bít bùng, chỉ có cửa mở phía sau, bên trong có 2 dãy ghế dọc như xe lam, chính giữa được kê thêm vài dãy ghế cho người ngồi thêm. Không biết xe được dùng làm gì trước đó nhưng 2 anh em đã đoán là xe đi chở than vì về đến PT thì mặt mũi ai cũng đen thui như mới từ lò than chui ra). Mừng hú vía. Xe lớn xe nhỏ nối đuôi nhau xuôi về miền Trung. Lúc bấy giờ, hầu hết các cây cầu trên quốc lộ 1 đều đã bị đánh sập (do khi rút lui quân Nam Việt đã phá hỏng để cản đường tiến công của quân giải phóng) nên xe phải đi len lỏi vào rừng để tránh cầu hoặc lao xuống khúc sông suối cạn bên cạnh chiếc cầu sập. Mỗi lần qua cầu sập như vậy, mọi người phải xuống chạy bộ theo xe vì xe không đủ mạnh để vượt qua những con dốc khi chở đầy người. Cũng may lúc này chưa vào mùa mưa nên mới có thể đi như vậy được. Bụi bay mù mịt. Cứ như vậy mà đi cho đến Phan Thiết.Lúc đó khoảng 8g tối, xe dừng tại một quán ăn bên đường. (Thạch: Lúc đầu 2 đứa tính đi về Vinh-thủy nhưng không biết những người quen đã trở về chưa, không biết trú nơi đâu nếu không tìm thấy ai ; hai đứa bèn xuống xe ở cổng chữ Y, vào quán ăn cái đã rồi tính sau). Hai đứa với hành trang, quần áo, mặt mày bám đầy bụi đất, khói xe, nhìn nhau mà không còn nhận ra nhau. Tiền bạc lúc này cũng rủng rỉnh vì trước khi về mấy bà xơ dòng chị Tuyết cho, nên hai anh em hiên ngang vào quán kéo ghế ngồi kêu cơm đĩa và một chai bia ‘con cọp’ để ăn mừng cho việc sống sót sau chuyến xe bão táp.
 
Ăn xong, bước ra ngoài, đang loay hoay định về Vinh Thủy kiếm chỗ nghỉ lại thì có chiếc xe từ Sài Gòn đi Nha Trang ghé lại đón khách. Đây là chiếc xe khách loại lớn (loại 50 chỗ). Xe đã đầy ắp người, anh lơ xe chỉ lên mui, muốn đi thì đi. Trên mui lúc này người ta cũng ngồi lố nhố chung với đồ đạc. Hai anh em hội ý nhanh, quyết định leo lên mui, phía sau cùng, vì phía trước không còn chỗ. Xe chạy. Vì ngồi phía sau nên người bị xóc tung lên mỗi khi xe gặp ổ gà.Mà đường lúc đó không trơn láng như bây giờ, lởm chởm và đầy ổ gà. Rất may, hai anh em ngồi cạnh mấy chiếc xe đạp. Xe đạp thì đã được cột chắc vào mui xe. Thế là mỗi đứa móc một tay vào bánh xe để giữ cho khỏi bị rớt xuống xe và ngủ gà ngủ gật cho đến khi xe ra đến Nha Trang vào khoảng 4,5 giờ sáng ngày hôm sau.
 
Hai anh em lên xe lam đi về chủng viện Sao Biển để anh Thạch lấy đồ đạc. Không hiểu sao, trong tình hình này mà hai đứa vẫn còn xuống tắm biển, ngắm bình minh trên vịnh Nha Trang xinh đẹp. Đi ngang qua nhà nguyện của chủng viện anh Thạch còn giới thiệu : nhà nguyện được lát bằng gạch hoa và được thường xuyên lau chùi bóng láng đến nỗi có cha đi làm lế bị trượt ngã...Chuyện này có thật hay không thì chưa biết, chứ còn trí tưởng tượng phong phú của anh Thạch thì có thật một trăm phần trăm. Nhớ lại lúc nhà đang ở Phan Thiết, có lần anh Thạch cùng với anh Sơn được đi chơi ở Bình Chính- Phan Rang (nơi cha Báu, cha đỡ đầu anh Sơn, đang coi xứ). Về nhà, mấy đứa em đứa nào cũng há hốc miệng để nghe anh Thạch kể chuyện. Nào là con dê nó chỉ đi trên đá, nhảy từ mỏm đá này sang mỏm đá khác, nào là đá ở đó muôn màu muôn sắc, đập vỡ ra như thủy tinh nhiều màu,...Lại nữa, sau chuyến đi Đắc Min, lên ở với cha Sinh tại nhà thờ Vinh An dịp nghỉ hè, anh Thạch đã kể lại những điều tai nghe mất thấy ở đó cho mấy đứa em. Nghe kể, đứa nào cũng tưởng tượng ra Ban Mê Thuột là một vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, sản sinh ra những loại cây trái to lớn khác thường như : mía voi to bằng cổ chân, chuối già hương thân lùn nhưng buồng dài chấm đất, mít tố nữ rụng không ai ăn, gà nuôi thả đầy vườn ngủ trên cây như chim,...Về sau, khi lớn lên và đến những nơi này mới biết tất cả là do trí tưởng tượng của anh Thạch mà ra cả. (Trinh: Anh Phong à, em nghĩ anh Thạch kể chuyện cũng đúng mà, không tưởng tượng nhiều lắm đâu. Khi gia đình mình về Đức Lập nay là ĐakMil lúc đó là sau giải phóng  được gần một năm rồi nên không còn là thời kỳ sung túc nữa , giai đoạn đó chỉ có người nghèo là thanh thản , còn người giàu thì lúc nào cũng nơm nớp lo sợ , luôn sống trong căng thẳng , ngột ngạt thì làm sao thấy được sự trù phú của miền đất này. So với Phan Thiết thì chuối , bắp , mía v.v..ở vùng này nó lớn hơn nhiều , hơn nữa cũng vì nhiều cây cối nên gà nó cũng ngủ trên cây như chim vậy)
(Thạch :Phong nói rất đúng là anh có một trí tưởng tượng rất phong phú. Nhớ lúc nhỏ, anh thường tưởng tượng chuyện anh hùng kiểu như superman bay trên nóc nhà để kể cho mấy em nghe, đứa nào cũng chăm chú nghe và có lúc cười sặc sũa. Chuyện ở Bình-chính thì anh không nhớ gì về những điều Phong nhắc nhưng chuyện ở Dakmil thì có thật.
Anh tới thăm cha Synh lúc cha ở xứ Vinh-an, anh vốn nhát gan và không ở chơi lâu nên không quen ai, chỉ ở quanh quẩn trong nhà xứ. Cha Synh nổi tiếng khó tính nên con nít không dám bén mảng vào phá nơi khu vực nhà xứ, thành ra cây trái gì trong nhà xứ đều còn nguyên vì đâu có ai ăn. Có 2 cây xoài tượng trĩu trái, nghe nói mỗi lần hái cũng được 2 bao tạ; mít quanh vườn có chín rụng xuống cũng chỉ có chó gà tới ăn nên anh đã có lúc leo lên cây mít, rạch một đường trên trái mít mật đã chín trên cây, moi ăn vài múi rồi để đó, mấy hôm sau trái mít mới rụng xuống.
Mía voi thì không thấy ở Dakmil nhưng ở Châu-sơn, gần thị xã Bmt. Chắc Phong đã thấy mía này rồi vì trước khi nhà mình dọn tới Bmt mẹ cũng có đi một chuyến thăm dò, lúc trở về có mang về mấy cây mía voi. Anh nghe kể : chị Vân cắt tặng cho mấy bạn, mỗi người một lóng nên Phong đã nói đùa là một cây mía voi đủ cho cả làng Vinh-hưng ăn) 

Sau đó, hai anh em ra bến xe về Ban Mê Thuột. Chấm dứt một chuyến đi để đời. Đến nhà mới biết cả nhà mình vẫn bằng yên, không bị thiệt hại gì mặc dầu nằm trong tầm đạn pháo khi quân giải phóng tiến vào đánh chiếm Ban Mê Thuột. Lúc này, hai anh em mới nghĩ : biết vậy mình đi chơi cho đã rồi hãy về.

Thành phố sương mù

Đà Lạt được gọi là thành phố sương mù vì cứ sáng sớm khi mặt trời chưa ló dạng hoặc buổi chiều khi mặt trời khuất sau dãy núi là sương mù giăng mắc khắp nơi. Lúc đó, cảm giác như mình đang ở trên mây, lâng lâng khó tả. Cả thành phố như mờ mờ ảo ảo trông rất thơ mộng.

Mùa hè năm 1972 là lần đầu tiên mình lên Đà Lạt. Cha Đạt chở đi từ Phan Thiết bằng xe Daihatsu qua đường đèo Ngoạn mục. Đến Đà Lạt, mọi thứ đều xa lạ đối với mình, từ khung cảnh, chốn ăn ở, cách sinh hoạt đến con người. Thật may, vẫn còn một người thân đó là anh Sơn. Anh Sơn lúc đó đang học ở Giáo hoàng học viện. Thời gian mình lên ở tại chủng viện Chúa Chiên Lành thì anh sang ở đây luôn. Thế là mỗi chiều, sau khi ăn cơm, hai anh em thường đi dạo trong sân vườn có những cây thông cao, những bụi sim và hoa các loại hoặc tản bộ dọc trên đường Nguyễn Tri Phương, từ chủng viện cho tới cây xăng Kim Cúc rồi quay trở lại. Ở Đà Lạt mà đi bộ thì rất thú vị, vừa được ngắm cảnh thơ mộng vừa được thưởng thức cái lạnh ngấm vào da thịt. Trên đoạn đường này lúc đó rất vắng vẻ, lác đác vài căn biệt thự tọa lạc trên những khu đất rộng, có vườn hoa và cây cối um tùm.

Một buổi sáng, anh Sơn rủ mình đi bộ lên đồi thông ở gần nhà. Lúc bấy giờ, nhà cửa thưa thớt chứ không dày đặc như bây giờ. Cả ngọn đồi chỉ toàn cây thông. Lên đến đỉnh đồi có thể quan sát toàn cảnh một góc thành phố với nhà cửa nhấp nhô chen lẫn những mảnh vườn trồng hoa, trồng rau bên sườn đồi. Anh Sơn ngồi bên gốc thông học bài, chuẩn bị cho kỳ thi môn triết học. Mình lấy ‘cua’ của anh Sơn mang theo, đọc mà chẳng hiểu tí gì cả, đành lang thang nhặt trái thông khô rụng nằm rải rác trên đồi.

Cha Đạt có chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki. Một buổi sáng chúa nhật, anh Sơn mượn để chở mình đi chơi đập Đa Thiện. Ở Đà Lạt, mùa hè cũng là mùa mưa. Mưa bất kể sáng hay chiều, có khi kéo dài cả ngày. Hôm đó, trời cũng mưa nhưng không lớn lắm, anh Sơn quyết định vẫn đi vì chờ hết mưa thì không biết đến bao giờ. Quãng đường từ nhà đi qua thành phố là đường nhựa nên xe đi bình thường. Ra khỏi thành phố, bắt đầu đi vào đường đất đỏ. Trời mưa nên đường trơn trợt. ’Tài xế’ vẫn rán giữ vững tay lái để vượt qua đoạn đường này. Nhưng không được nữa rồi : chiếc xe loãng quạng, mất thăng bằng, ngã và trượt tự do trên lớp bùn đất đỏ nhão nhẹt. Rất may, cú ngã không làm ai bị thương tích gì cả chỉ có điều quần áo lấm lem đất bùn đỏ. Cả mặt đường đều trơn ướt, người mình còn đứng không vững nên phải cố lắm mới dựng được chiếc xe lên. Thế là phải quay về, bỏ dở chuyến đi chơi để thưởng ngoạn một thắng cảnh của Đà Lạt.

Đến Đà Lạt ngoài phương tiện xe đò đi qua các con đèo còn có thể đi bằng máy bay đến phi trường Liên Khương, cách Đà Lạt hơn 20km. Hè năm lớp 7, sau trận ốm kinh hoàng, từ Ban Mê Thuột mình với anh Sơn đi Đà Lạt bằng máy bay ở phi trường Phụng Dực, cách thị xã hơn 10km. Vì đi trễ nên sau khi lấy được vé hai anh em phải bắt chiếc xe honda ôm để đi vì xe buýt chở hành khách ra phi trường đã chạy mất. Có lẽ do hối thúc vì sợ trễ chuyến bay, bác tài chạy nhanh và không tránh kịp một ổ gà đang chứa đầy nước do trời mới mưa xong. Nước bắn tung tóe, vào bu gi làm xe tắt máy. Hai anh em sốt ruột chờ bác tài lui cui lau chùi bu-gi. Một lúc sau xe nổ máy lại, tiếp tục lên đường. Cũng may, hôm đó máy bay đến trễ nên hai anh em không bị lỡ chuyến bay. Máy bay hôm ấy mình đi là loại 2 chong chóng. Vào thời điểm này hàng không dân dụng miền Nam hình như chỉ có 1,2 chiếc máy bay phản lực, còn lại là loại động cơ 2 chong chóng (DC3) và 4 chong chóng (DC4). Khi đến gần Đà Lạt, thời tiết xấu, máy bay xóc dữ dội. Nhiều lúc nó rơi tự do một quãng lâu làm mình có cảm tưởng như nó muốn rớt luôn xuống đất. Có tiếng trẻ con la khóc. Bên cạnh mình lúc đó là một cô bé mặt mày cũng xanh lét. Cô bé này cũng bằng mình, chỉ mua nửa vé nên phải ngồi chung ghế với mình. Thật ra mua nửa vé chẳng qua là để giảm giá cho trẻ em, chứ không phải mua nửa vé là ngồi nửa ghế. Nhưng hôm đó, máy bay chật cứng hành khách nên không còn cách nào khác là ai mua nửa vé thì phải ngồi chung với nhau một ghế.

Sau ngày giải phóng, năm 1976, lúc đang ở Phan Rang, mình được cha Đạt sai mang một bức thư lên Đà Lạt. Lên xe ở Phan Rang lúc 2, 3 giờ chiều, xe tới Đà Lạt khoảng 5 giờ. Xuống bến xe, mình lạnh muốn chết cóng luôn.Đang là mùa lạnh mà mình chỉ mặc một bộ đồ mỏng manh với chiếc áo sơ mi cụt tay. Khi ở Phan Rang mình không ngờ rằng Đà Lạt lạnh đến vậy nên không chuẩn bị quần áo ấm. Co ro một lúc, mình bắt xe ôm đi đến Giáo hoàng học viện. Anh Sơn đang ở đó. Thấy mình phong phanh có cái áo cụt tay, anh mới lấy cái áo ấm của anh cho mình mặc. Sau đó, hai anh em thả bộ xuống phố, mua bánh chuối chiên bán bên lề đường tại khu Hòa Bình. Trời lạnh mà ăn bánh chuối chiên nóng thật thú vị. Tối hôm ấy mình ngủ lại tại Giáo hoàng học viện đến sáng hôm sau thì về lại Phan Rang. (Sơn : Anh với Phong không gần nhau, vì giữa 2 anh em có anh Thạch và chị Vân chen vô giữa, nhưng nhờ có cha Đạt đã nhận Phong là con nuôi, mà cha Đạt là giám đốc Chủng Viện Chúa Chiên Lành rất thân với anh nên 2 anh em có cơ hội gần gũi nhau thật nhiều, thành ra giữa anh với Phong có rất nhiều kỷ niệm thân thiết, thân thiết không thua gì giữa anh với anh Thạch, hay giữa Nguyên và Giang. Những ngày Phong vừa xa nhà lên sống tại Đà lạt, rồi sau này trong thời gian trôi nổi, anh ghé qua Tháp chàm là nơi Phong ở và đi học PTTH cấp II, cấp III, 2 anh em gần gũi với nhau thường xuyên, chia sẻ tâm sự, ăn chung miếng kem miếng bánh hay ly chè cũng như kể lể với nhau bao nỗi âu lo thấp thỏm khác. Những chi tiết thân yêu nhỏ nhặt đó trở thành kỷ niệm dấu yêu theo anh suốt đời. Ý nghĩa nhất, đó là Tết năm 1980, khi anh đang thất tình và chán nản tột độ thì có Phong ở bên anh. Mồng 4 Tết, Phong với anh khăn gói lên đường, buổi trưa cuốc bộ ra ngã ba quận Dakmil đón xe, không có xe nên mình ghé nhà cậu Phan ngủ lại chờ xe sáng hôm sau. Âu cũng là cái số ! Nếu lần đó không có Phong cùng đi, thì chắc anh đã quay về Đức Mạnh tìm người ta, và … cuộc đời đã xoay theo hướng khác!)

Sau này mình còn lên Đà Lạt nhiều lần nhưng không còn cảm nhận được vẻ thơ mộng của thành phố sương mù như xưa nữa. Có lẽ do đã qua cái tuổi mộng mơ hay do Đà Lạt bây giờ dân cư đông đúc quá. Nhà cửa, công trình xây dựng lấn hết rừng cây, chiếm mất không gian tự nhiên cần thiết để tạo nên vẻ hoang dã, nét lãng mạn của thành phố cao nguyên này. Đà Lạt bây giờ không còn lạnh và nhiều sương mù như xưa nữa.
(Sơn : Phong chỉ ở Đà lạt tổng cọng có vài tháng, mà bây giờ còn quyến luyến vương vấn với hình ảnh thơ mộng lãng mạn xưa, huống chi là anh đã ở đó tới 7 năm. Đà lạt thời anh em mình còn ở đó thưa người, và thiên nhiên cảnh trí còn trinh nguyên. Từ nhà đi bộ ra bất cứ về phía nào dăm mười phút là có ngay rừng núi cỏ cây. Khu đường Nguyễn Tri Phương có rất nhiều biệt thự để hoang, nên 2 anh em hay lên đồi đi dạo chơi, nhìn xuống thung lũng xanh ngát, tai nghe gió thông reo vui. Hồn nhiên lắm! Tinh khiết lắm ! Nhưng dẫu xinh đẹp lãng mạn đến đâu thì mình cũng không thể tìm lại được Phong à, như trong tất cả mọi điều khác trên đời vì  « Không ai có thể tắm hai lần trên một giòng sông » như triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus đã viết mấy ngàn năm trước).
(Giang : Em đã có dịp lên Đà Lạt cách đây mấy năm và phải công nhận thành phố này rất đẹp, ấn tượng nhất với em  là những con đường thành phố, nó uốn quanh các ngọn đồi rất tự nhiên, hết xuống dốc rồi lại lên dốc,  mình đang đi trên đường này thì có thể nhìn thấy những con đường khác. Ở giữa thành phố lại có hồ nước, tạo cảm giác thoáng mát dễ chịu. Một thành phố thật dễ thương).

Nhặt rác

Thời gian định cư ở Phan Thiết, nhà mình lúc đầu ở đối diện với cổng lao xá (trại giam phạm nhân), góc đường đi vào nhà thờ Vinh Thủy (nay đã bị phá bỏ thay bằng khách sạn Novotel) ; sau này dời lên một đoạn khoảng 100m cũng nằm ở mặt tiền đường nhựa (nay là đường Thủ Khoa Huân), đối diện với đường vào nghĩa địa đồng thời là sở rác (là nơi rác được tập trung để thiêu hủy). Khu vực sở rác bây giờ đã biến thành một khu dân cư sầm uất, nhà cửa san sát nhau. Cư dân ở đây chắc cũng không ngờ mình đang ở trên một bãi tha ma và bãi rác cũ.Thỉnh thoảng mình cũng có dịp ghé nhà một người quen ở khu vực này và ký ức thời niên thiếu lại trở về.

Cha lúc đó đi làm công chức nhà nước. Mẹ ở nhà nội trợ và nuôi thêm heo, chỉ nuôi heo nái chứ không nuôi heo thịt. Mẹ rất mát tay, nuôi heo đẻ lứa nào cũng mười mấy con to khỏe, nuôi một vài tháng là xuất chuồng, có tiền để trang trải cho lũ con ăn học. Mình lúc đó đang học lớp 5. Buổi sáng đi học, buổi chiều ở nhà phụ mẹ dọn chuồng heo. Phân heo được hốt bỏ vào một cái thùng sắt (loại thùng bằng sắt đựng dầu ăn khoảng 20 lít được đục bỏ mặt trên, thường gọi là thùng sắt tây) để bán cho những người chuyên đi thu mua phân heo. Tiền bán phân được bao nhiêu (khoảng 5 đồng 1 thùng, tiền thời đó) mẹ cho hết để ăn quà vặt, mua bút mực. Ngoài việc tắm heo, quét dọn chuồng heo còn một việc mình làm cũng có liên quan đến heo nữa là đi nhặt thùng giấy cạc-tông để về nấu cháo heo.

Hằng ngày, cứ khoảng 3,4 giờ chiều, chiếc xe chở rác (loại giống như xe ben chở cát bây giờ nhưng ọp ẹp lắm) lại xuất hiện với tiếng leng keng phát ra từ những va chạm giữa các đồ đạc bắng kim loại mà người lấy rác tận dụng được treo lỉnh kỉnh trên thùng xe khi xe lắc lư do lọt vào những ổ gà ngay đầu đường đất đỏ dẫn vào sở rác. Mình vớ vội cái mũ, chạy theo ngay sau xe, khi bụi đường chưa tan. Ngày ấy, người ta chưa biết tận dụng rác để tái chế nên không có ai đi thu mua ve chai cũng như không có đội quân đi lượm rác đông đảo như bây giờ. Đồ không xài nữa là bỏ thùng rác để đem đi đổ, trong đó có những thùng giấy cạc-tông là cái mà mình có thể lấy về xé nhỏ ra để đun nấu. Xe vừa đổ rác xuống là mình nhào vô để nhặt nhanh những thùng giấy, không lấy kịp nó sẽ bị cháy hết.  Khi xe đổ xuống, nhiều thùng giấy nằm ở dưới, bị các loại rác khác đè lên, phải bới lên mới có thể lấy được. Rác lúc nào cũng cháy âm ỉ ở bên dưới, khói bốc lên bay táp vào mặt, thỉnh thoảng bùng lên thành ngọn lửa rồi lại tiếp tục âm ỉ. Nhiều khi mình bị sụp chân xuống lớp tro nóng nhưng may mắn chưa lần nào bị thương tích gì cả. Giữa bãi tha ma vắng vẻ, bên những đóng rác cao như núi đang âm ỉ cháy, mình lúc đó chẳng thấy sợ hãi gì cả, chỉ biết làm xong việc, có giấy cho mẹ nấu được vài nồi cháo heo. Giấy được xếp gọn, dồn thành từng đống. Mẹ mang quang gánh ra để gánh về. Hôm nào giấy ít, mẹ tranh thủ cắt thêm một ít cỏ dền gai, bỏ thêm vào cho đầy gánh. Dền gai là loại cỏ giống như rau dền nhưng cao lớn hơn và thân thì đầy gai nhọn, mọc rất tốt ở sở rác, có thể băm nhỏ nấu cho heo ăn. (Quang : Em cũng biết loại rau dền gai này, khi ở Đakmil em hay cùng mẹ hái rau này về băm nấu cho heo ăn, rau này còn sống gai rất cứng nhưng khi nấu chín thì mềm lùi đâu mất). Hôm nào nhặt được nhiều thì mình phải phụ với mẹ mang giấy về. Thùng giấy xếp lại thì gọn và nhẹ nhưng cồng kềnh. Với tầm vóc của một đứa trẻ mới mươi tuổi đầu thì không thể vác hoặc mang xách được mà chỉ có đội lên đầu mà đi.

Trong một lần đi nhặt thùng giấy như vậy, mình được tham gia một cuộc ‘hôi của’ có một không hai. Chiều hôm đó, khi đang lang thang nhặt thùng giấy thì thấy có mấy chuyến xe tải chở đầy những bao màu trắng vào sở rác và chất thành đống to cao như cái nhà. Sau này mình mới hiểu ra là người ta đi thiêu hủy bột mì quá ‘đát’. Lúc đó chỉ có mấy nhân viên đi làm nhiệm vụ, mình và mấy đứa trẻ chăn bò đứng xem. Một lúc sau, người dân biết được bắt đầu kéo đến rất đông, đứng xung quanh đống bột mì đã được bao quanh bằng dây thép gai. Người ta canh chừng không cho ai đụng đến, sau đó tưới xăng lên và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bùng lên cũng là lúc một cảnh tượng hỗn loạn xảy ra. Mọi người có mặt nhảy vào, kéo dây kẽm gai, dập tắt lửa và lấy bột mì. Họ giành giật, xô đẩy nhau. Mình cũng nhảy vào ‘tham chiến’. Lôi được một bao ra, thả xuống, vào lôi tiếp bao khác ra thì bao bên ngoài đã bị ai đó lấy mất rồi.Với sức lực của một đứa con nít thì kéo được một bao bột mì (có lẽ nặng khoảng 30-40kg) là cả một vấn đề. Cuối cùng đành phải đứng giữ bao mình lấy được và chịu đứng nhìn thiên hạ tranh giành nhau. Lúc đó, nhà nào biết tổ chức, cho 1 người đứng canh giữ còn lại cứ vào kéo ra thì sẽ lấy được nhiều. Lúc sau, cha cũng có ra nhưng 2 cha con không gặp nhau nên kết cục mỗi người cũng chỉ lấy được một bao. Gần như số bột mì được lấy hết, chỉ có một vài bao bị cháy vỏ bao, bột đổ tung tóe ra đất không thể hốt lại được. Thật tội nghiệp cho dân mình, do nghèo khổ, thiếu thốn mà phải giành giật nhau thứ đồ bỏ đi. 
(Sơn: Kỷ niệm về lượm rác của Phong làm anh rất cảm động. Đã từ lâu, nhất là từ khi rời xa gia đình và quê hương, anh mang tâm tình biết ơn đối với các em từ Thạch, Vân, Phong trở xuống, vì anh nhận ra rằng khi anh với chị Tuyết đi rồi, bao nhiêu gánh nặng công việc ở nhà để phụ giúp cha mẹ đều đặt lên vai các em hết. Anh với chị Tuyết sinh ra và lớn lên trong thời đại sung túc, ít con cái nên không có những chật vật lo toan như về sau này. Phong kể lại chuyện đi lượm rác, anh thấy xôn xao một nỗi niềm thương cảm, nhưng anh biết còn có bao nhiêu công việc cực nhọc không tên tuổi khác mà các em phải cáng đáng hàng ngày, ngoài việc học hành ở trường: tụi em phải đan lưới thêm kiếm tiền, phải nấu cháo heo, phải đi mót lượm đủ thứ… Như thế để đỡ phần công việc cho cha mẹ đã đành, mà còn để cung cấp cho anh đi học ở xa nữa. Anh nghĩ bây giờ anh có làm cho các em được gì thì cũng chỉ để nói lên lòng biết ơn các em đã “nuôi” anh khi xưa mà thôi.)

Tết mậu thân 1968

Tết Mậu Thân 1968 là thời điểm Việt cọng chọn để đánh chiếm Miền Nam. Gia đình mình lúc đó ở Vinh Thủy, Phan Thiết. Trước ngày chiến sự nổ ra chính thức, tình hình cũng đã có khác, chiều chiều thấy máy bay thả bom ở đâu đó xa xa. Mọi người cũng chuẩn bị cho một cuộc chạy giặc sẽ xảy ra nhưng chưa biết lúc nào. Mẹ nấu cơm, vắt thành cục tròn to bằng nắm tay, để dành sẵn để khi chạy giặc có cái để ăn. Nhà mình cũng đã làm một cái hầm ở ngoài vườn bằng cách xếp các bao cát lại với nhau để khi có xảy ra đánh nhau thì mọi người chui vào đó để tránh đạn. Hầm làm xong nhưng không sử dụng đến vì lúc xảy ra chiến sự thì cả nhà phải di tản đi nơi khác rồi.
Tối hôm đó, đang ngủ thi cả nhà bị thức giấc bởi tiếng súng nổ. Trước nhà mình, bên kia đường là trại giam nên có quân lính rất nhiều. Tiếng súng, tiếng đạn pháo bay và nổ ở gần đâu đó, bốc cháy sáng rực một góc trời. Một lúc sau, nhìn ra đường qua khe cửa, dưới ánh sáng hỏa châu, từng đoàn người gồng gánh, bồng bế nhau đi đầy ngoài đường. Mọi người đang lo chạy trốn để tránh bom đạn. Nhà mình lúc đó chỉ có mẹ với 6 đứa con thơ dại. Anh Thạch là đứa lớn nhất lúc đó cũng mới 11 tuổi, Thủy thì mới sinh ra. Hình như mẹ định không đi đâu cả, nhưng đến khi mọi người đã đi hết, đường vắng lặng, mẹ mới quyết định đi. Thế là 7 mẹ con đùm túm nhau lên đường. Không hiểu mẹ phân công như thế nào để mấy đứa trẻ con có thể mang đồ đạc, quần áo cho đủ dùng trong suốt thời gian đi tị nạn. Mẹ thì đã lo bồng Thủy và chỉ có thể mang thêm một túi xách trên vai. Có lẽ chỉ có anh Thạch và chị Vân là có khả năng mang xách. Mình được mẹ phân công ôm hai cái mền. Mền thì nhẹ nhưng cồng kềnh làm mình đi khó khăn nhưng nhờ ôm chặt nó mà mình có được cảm giác an tâm khi chung quanh biết bao nguy hiểm.
 
Cũng như bao người khác, nhà mình chạy ra hướng bờ biển. Có lẽ mọi người đều muốn tránh xa khu đô thị, nơi hai bên đánh nhau để giành quyền kiểm soát. Cuối cùng thì nhà mình được ở nhờ trong một căn nhà của người dân sát bờ biển Vinh Thủy, không phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Nhà xây gạch, lợp tôn kẽm, cũng tương đối tốt. Chủ nhà bố trí cho những người di tản ở đầy trong nhà. Nhà mình được bố trí ở một góc phòng khách. Mình không còn nhớ thời gian ở trong nhà này mấy ngày nhưng tối hôm ấy, khi mọi người đã vào chỗ của mình để ngủ thì bắt đầu có tiếng đạn pháo. Đạn được bắn từ tàu trên biển vào đất liền. Lúc đầu có vài tiếng nổ xa xa, sau đó có trái đạn rớt phía sau nhà gia đình mình đang tạm trú, vào bụi cây làm cháy sáng một góc trời. Mọi người hốt hoảng. Tiếng gọi nhau ơi ới.Gia đình mình cũng như những người ở trong nhà quyết định chạy ra bờ biển (cách đó khoảng 200m). Mẹ con túm tụm đồ đạc, hối hả chạy ra. Mình vẫn ôm mấy cái mền. Cả nhà vừa ra khỏi nhà được vài chục mét, một trái đạn pháo bay rít ngang qua đầu và rớt trúng ngay góc nhà nơi gia đình mình vừa rời khỏi. Căn nhà bốc cháy. Thật hú vía. Chỉ cần chậm mấy phút là cả nhà mình lúc đó đã lãnh trọn một quả đạn pháo. Tối hôm đó, cả nhà nằm ngoài bãi biển : đúng nghĩa cảnh màn trời chiếu đất.
(Trinh : Em nghe mẹ kể lại rằng : “Trong đêm hôm ấy, khi bồng con để chạy ra khỏi nhà, mẹ ngoái cổ nhìn lại chỗ gia đình mình nằm thì thấy còn một đứa con đang ngủ say sưa, mẹ vội quay lại nắm tay kéo dậy và chạy ra khỏi nhà , ra khỏi cửa được mấy bước thì căn nhà bốc cháy, đứa con đó là Trinh”. May mà đêm đó mẹ kiểm tra lại nếu không thì giờ này em không ngồi viết như thế này được).
             
Sau đó nhà mình qua Vinh Phú ở tạm nhà bà Bút, rồi nhà chú Điều một thời gian mới trở về lại Vinh Thủy khi chiến sự đã qua đi, nhà được sửa lại do bị hư hại vì bom đạn
 
(Thạch:
- Không nhớ được ai đi trước, ai đi sau; cũng không còn nhớ nhà mình ra đi như thế nào
- Nhớ đã rục rịch chuẩn bị cơm vắt mấy lần nhưng không phải chạy nên lại lôi cơm vắt ra ăn
- Nhớ có dùng bột đông sương (do gia đình chú Điều để lại) để thử làm trong dịp này
- Chị Tuyết có về nhà nghỉ tết và kẹt lại luôn, một thời gian sau mới trở lại nhà dòng. Trong những ngày chạy loạn vào xóm trong của Vinh-thủy, có cùng chị Tuyết dẫn Trinh lên đồi cát để thả Trinh chạy xuống
 - Đêm nhà ông Yên bị pháo kích, mọi người mới vừa ra khỏi nhà tới ngoài đường (cách khoảng 20-30m) là quả đạn đã rơi vào nhà nhưng là đạn cháy chứ không phải đạn phá nên không có tiếng nổ lớn và cũng không có mảnh đạn bay tứ tung
- Hầm trú ẩn: chỉ nhớ chắc chắn là nhà mình có bộ phản ghép bằng 3 miếng gỗ khá dày, lúc đó đặt ở nhà bếp, được đắp thêm một lớp bao cát chung quanh để thành hầm trú ẩn)    
       

19/4/10

Viết về cậu

1.Trong gia đình mình khi nói ‘Cậu’ là ai cũng biết là nói về cậu Trực, em ruột của mẹ. Không như khi nói về các cậu khác phải kèm theo tên riêng. Một danh từ chung đã biến thành tên riêng của một người. Có lẽ vì Cậu là người sống trong gia đình mình trong suốt thời gian cùng với mẹ đi vào Nam đến khi lập gia đình và sau đó gia đình Cậu tiếp tục sống kề cận với gia đình mình cho đến khi giải phóng (năm 1975). Bây giờ gia đình mình ở Đắc Min cũng là do đi theo Cậu lên Ban Mê Thuột lúc Cậu được thuyên chuyển lên đó.
 
Không biết Cậu ở với cha mẹ mình từ lúc nào, mình chỉ nhớ lúc mình được 8, 9 tuổi, đang học tiểu học, thì Cậu đang ở trong nhà mình. Lúc đó Cậu là sĩ quan quân đội. Ban ngày Cậu đi làm, trưa, chiều Cậu về. Mỗi khi Cậu về bước vào nhà, mình là người phải ra chào Cậu bằng tư thế quân sự (đứng nghiêm, đưa tay phải lên trán). Cậu rất nghiêm khắc, có cái quắc mắt và lên giọng rất khủng khiếp. Trong nhà đứa nào cũng sợ Cậu mặc dù Cậu không đánh đập ai. Chỉ một lần Cậu bạt tai anh Sơn vì đã phá máy ảnh của cậu. Cha mẹ cũng biết điều đó, nên lúc Cậu chuẩn bị lấy vợ mẹ có nói đại ý là tụi con sắp được ’giải thoát’ rồi. Còn nhỏ mình chưa hiểu được những thay đổi về mặt tâm sinh lý khi người ta lấy vợ, nhưng quả thật, sau khi lấy vợ, tuy vẫn ở chung trong nhà nhưng Cậu đã khác hẳn, không còn hay cáu gắt, la lối mấy đứa cháu nữa. Lúc đó, mình và chị Vân đang học chung một lớp ở bậc tiểu học. Cậu treo thưởng bằng tiền mặt (hình như 1 hoặc 2 đồng gì đó) cho đứa nào đứng nhất lớp trong tháng. Mình với chị Vân cứ thay nhau lấy tiền thưởng của Cậu.
(Vân: Khi nói đến cậu hầu như không có chuyện gì để kể vì từ khi có trí khôn (cỡ 7, 8 tuổi) thì biết là nhà  mình có một người cậu mà rất nóng nảy và nghiêm khắc. Rồi khi nhà dời lên BMT, có thời gian lên cậu ở để giữ em Lộc và làm việc trong nhà. Mỗi ngày cậu đi làm hai buổi, mợ cũng đi dạy hay đi làm gì đó hai buổi, nên mọi việc trong nhà đều phải chu tất, nào là nấu cơm, giặt đồ, chùi nhà, dọn giường, tắm rửa và cho em ăn. Chiều ăn cơm xong, cậu mợ lại chở nhau đi xem phim hay giải trí đâu đó, ở nhà chị em chơi với nhau rồi đi ngủ, sáng sớm 4h30 phải dậy học bài.) 
 
2.Hè năm 1974, đang học trong trường thì có dịch sốt thương hàn. Nhà trường cho nghỉ hè sớm, ai về nhà nấy. Nhà mình lúc đó ở cây số 5 thị xã Ban mê Thuột bên cạnh nhà Cậu. Về nhà được một thời gian thì mình bị sốt. Mẹ cho uống thuốc nhưng không bớt mà ngày càng nặng thêm. Cả nhà lo đi làm ngoài rẫy, một mình mình nằm chèo queo trên gác với cơn sốt hành hạ. Mấy ngày sau mình không biết gì nữa. Sau này nghe kể lại mình đã lên cơn mê sảng, chui xuống gầm giường và nói năng lung tung. May thay, đến lúc đó cậu sang thăm và quyết định phải đưa mình đi bệnh viện gấp.Trong trí nhớ mình còn ghi lại đến tận bây giờ là lúc mình ngồi trên chiếc xe jeep để cậu chở từ nhà ở cây số 5 lên bệnh viện Ban Mê Thuột và sau đó thì không biết gì nữa. (Thạch: Phong nằm nhà thương vì thương hàn: cậu Trực vào nhà thương quát tháo là đúng nhưng cậu Phan mới là người đưa tới bệnh viện, bằng xe Honda. Cũng sẽ thuật lại dưới vai trò người chăm sóc.)
Lúc đó mình đang nằm mê man trên giường bệnh, nghe tiếng ồn ào thì tỉnh lại. Một cảnh tượng còn lưu lại đến bây giờ là cảnh cậu, mặc trên người bộ quân phục sĩ quan, đang quát tháo những cô y tá  trong bệnh viện. Thì ra, sau khi được nhập viện, mình đã bị bỏ mặc cả một hai ngày, không được ai thăm khám. Sau khi bị la mắng và nhờ cái uy của một sĩ quan quân đội trong thời chiến, mình mới được nhân viên bệnh viện chữa trị và hai ngày sau thì tỉnh lại. Nếu không có cậu có lẽ bây giờ mình không còn được ngồi đây để viết lại những dòng này. (Trinh: Anh Phong ơi ! có lẽ phải vật lộn với bạo bệnh nên anh thấy thời gian một buổi dài như là một hai ngày vậy. Với cá tính của cậu thì chẳng có đứa cháu nào ưa cả nhưng cậu lại rất quan tâm và lo lắng cho các cháu. Em chắc là cậu không để anh nằm lâu hơn một buồi mà không tới thăm , một buổi cũng đủ để cậu tức giận rồi , chứ lâu hơn nữa thì không biết cơn thịnh nộ nó còn tới đâu)
 
3.Mình là đứa nhát gan, sợ bị đòn, nên hầu hết những lần bị đòn (từ khi có trí khôn) mình đều nhớ rất rõ. Ngay cả khi người khác bị đòn mình cũng không thể quên. Vào khoảng năm 1967, ở Việt Nam máy chụp hình (loại cơ chứ chưa có loại kỹ thuật số) là một vật dụng giá trị cao, rất hiếm, không phải ai thích cũng có thể dễ dàng mua được một chiếc như bây giờ. Cậu có một chiếc như vậy. Thỉnh thoảng, cậu lấy ra chụp một vài kiểu. Vào một buổi sáng, lúc đó ở nhà không có người lớn, chỉ có mấy anh chị em ở nhà, anh Sơn đã mở tủ, lấy máy ảnh của Cậu để chụp hình cho mấy đứa em. Anh Sơn lúc đó đã đi học ở Nha Trang nhưng đang trong kỳ nghỉ hè hay nghỉ tết gì đó. Mấy đứa em hồ hởi, đứng ngồi làm kiểu để anh Sơn nháy cho mỗi đứa một ‘pô’,vui vô cùng. Không ai ngờ rằng trò chơi này mang lại một ‘tai họa’. Sáng hôm ấy, ngày chúa nhật, sau khi đi lễ về, Cậu lấy máy chụp hình ra để chụp vài kiểu kỷ niệm cho cả nhà trước khi anh Sơn trở về lại chủng viện sau kỳ nghỉ. Mọi người đang đứng xếp hàng chuẩn bị cho Cậu chụp thì Cậu phát hiện ra có người đã lấy máy sử dụng trước đó. Cậu cho rằng ai đó đã làm cháy hết phim trong máy (không biết có thực như vậy không vì nếu anh Sơn không tháo máy ra thì không thể cháy phim được). Cậu nổi cơn thịnh nộ, quát lên. Đứa nào cũng đứng im phăng phắc nhưng Cậu biết chắc ai là ‘thủ phạm’. Thế là anh Sơn bị ăn bạt tai ngay tại chỗ, trước mặt mọi người. Cha mẹ có lẽ cũng đau lắm nhưng không thể nói câu nào để biện hộ cho lỗi của con mình. Mình không nằm trong hoàn cảnh của anh Sơn để hiểu hết được những lý do anh không thích Cậu nhưng sau đó khi anh Sơn về nhà trong các kỳ nghỉ mình nhận ra anh Sơn vẫn rất giận Cậu qua những câu trò chuyện với anh Thạch (vì lúc đó mình còn quá nhỏ để anh Sơn có thể chia sẻ những chuyện như vậy). Một cụm từ mà mình vẫn thường nghe anh Sơn nói lúc bấy giờ là :‘cóc cần của Cậu’ để thể hiện sự chống đối của mình.