22/4/10

Cũng do cái số

Người VN mình hay dùng 2 chữ “số phận” để cắt nghĩa cho sự may rủi tình cờ của đời người. Anh không tin ở số phận nhiều lắm, vì thấy nó hơi vô lý, nhưng ngẫm lại những chuyện xảy ra cho mình trong suốt gần 60 năm qua thì cũng phải nhìn nhận là có những chuyện mình chỉ có thể cắt nghĩa bằng số phận.

Số phận mà anh muốn nói tới ở đây là việc anh với anh Thạch hay được ở gần nhau, đúng như anh Phong đã nhận xét trong một lá thư viết cho anh đã lâu lắm rồi, khi nghe tin anh Thạch đã vượt biên thành công từ Cà Mau và đang ở trại tị nạn chờ đi định cư tại Canada. Nghĩ lại thì thấy thật đúng : anh Thạch với anh, cả 2 anh em đều đi tu học ở  TCV Sao biển, cả 2 anh em đều xuống ở Bến Lội với cậu Hải, cả 2 anh em đều vượt biên, đều sống ở Canada, và ở gần nhau. Lúc nhỏ ở gần nhau, đi tu cũng cùng trường, đi lao động học cưa học mộc cũng ở cùng nhà cậu Hải, và lớn lên có gia đình và làm ăn cũng ở cùng thành phố luôn. Như là có cái số phận nó ràng buộc để 2 anh em đi đâu cũng có nhau, mặc dù có nhiều chuyện mình không định trước.

Như chuyện bị bệnh cùng một thời gian, và đi vô nhà thương thì cũng nằm cùng phòng 2 giường sát cạnh nhau, thật là tình cờ hi hữu.

Lúc đó là Tết năm 1976, nhà mình vừa dọn xuống Xã Đoài (Dakmil), anh Thạch còn ở lại thị xã Ban Mê Thuột (BMT) để học tiếp lớp 12. Anh về nghỉ Tết ở nhà xong, mới lên BMT để chuẩn bị trở lại Đà lạt. Dừng chân BMT anh đi Châu Sơn thăm người bạn, sau đó đón xe đi Hà Lan thăm gia đình dượng Liên. Đang lúc còn ở Hà Lan thì anh bị cảm, rồi phát sinh sốt rét, và bắt đầu sưng lá lách. Dượng Liên phải thuê xe chở anh lên nhà thương BMT. Lên tới nhà thương thì sốt mê man, không tỉnh táo để nhận ra chuyện gì rõ ràng, chỉ nhớ là anh Thạch có đến thăm, nói vài ba câu gì đó. Nhưng điều ngạc nhiên là sau đó vài ngày, lại thấy anh Thạch lò dò vô nằm ngay giường bên cạnh, vì anh Thạch cũng bị lên cơn sốt rét luôn.

(Thạch: Nghe tin anh Sơn bị sốt rét phải nằm nhà thương, tôi có ghé vào nhà thương thăm và biết anh Sơn nằm ở phòng nào, lúc đó tôi cũng đã ngây ngấy sốt nhưng chưa nặng lắm. Một, hai hôm sau thì tôi cũng lên cơn sốt nặng, nằm mê mệt ở nhà trọ. Sau buổi trưa, Mạnh (bạn chung nhà trọ, người Đức-mạnh) đi học về thấy tôi như thế nên đề nghị nên đi bệnh viện, vì đã có anh Sơn nằm ở đó nên tôi nghĩ tới đó nằm chung luôn cũng tiện, nên nhờ Mạnh bắt xe ôm tháp tùng tới bệnh viện, trùm mền bước vào phòng làm thủ tục. Sau khi được đo nhiệt độ và chẩn bệnh thì nhà thương dặn ngồi chờ để được đưa tới phòng, tôi nêu lý do là đã có ông anh hiện đang nằm viện vì sốt rét, xin được xếp vào phòng đó luôn cho tiện, thế là nhà thương xếp tôi vào cùng phòng với anh Sơn và bảo tôi tự đi tới đó chờ tới phiên bác sĩ khám. Tôi trùm mền lò dò đi vào phòng và leo lên nằm cùng giường với anh Sơn)

Không nhớ là nằm nhà thương được mấy ngày thì có Vân lên thăm. Thật là tội nghiệp ! Ở nhà cha mẹ kiếm tiền đưa cho Vân lên thăm 2 anh và nấu nướng chăm sóc người bệnh. Nhưng xe cộ nhồi lắc, đông người chen chúc làm sao đó mà có được 40 đồng trong túi lại bị rớt mất (40 đồng thời đó tương đương với triệu rưởi bây giờ). Anh còn nhớ hình ảnh của Vân lúc đó mặc cái áo cánh màu xanh lá mạ. Sau đó Vân ở đâu, ra vô nhà thương thế nào thì anh quên hết. Chỉ nhớ là nằm được chừng 4 ngày, khi thuốc ký ninh đã có hiệu quả và cơn sốt đã lui, thì cha lên thăm. Nhìn thấy cha bước vô tự nhiên nước mắt trào ra vì tủi thân. Được chừng 1 tuần lễ thì cả 2 anh em đều tỉnh táo hơn. Có những đêm, vì đã nằm ngủ nhiều quá, hay vì tác dụng của thuốc, mà 2 anh em không thể ngủ được, nên cả 2 đứa thức dậy đi lang thang mò mẫm khắp nhà thương, cho đến gần sáng mới về nằm ngủ.

Đi học chung trường thì chắc không phải tại số, mà đó là tại vì mình muốn như vậy, hay do cha mẹ sắp đặt như vậy. Đi lập nghiệp ở Bến Lội chung với nhau thì đó cũng là vì mình tính toán như vậy chớ không phải số. Nhưng bị sốt rét cùng thời gian và vô nhà thương cùng lúc và nằm cùng phòng thì có lẽ đúng là cái số rồi ! Chạy đằng trời cũng không khỏi số, cái số phải ở bên nhau … Không ,  phải nói là cái số ĐƯỢC ở bên nhau !

Dọn nhà đi Đức-Minh

Ngày 25 tháng 12 năm 1975, trời vừa đủ sáng là cả nhà đã bắt tay vào việc ngay cho kịp thời gian : dỡ nhà để chuyển về Đức-minh.
Năm 1972, lúc gia đình chuyển tới miền cao nguyên đất đỏ để lập nghiệp thì cậu Phan là người đã dựng nhanh cho gia đình căn nhà gỗ để ở tạm. Với tính tháo vát và tay nghề thợ mộc của cậu, căn nhà được góp dựng toàn bằng những cây gỗ nhỏ, cột trụ nào cần  chắc thì cậu ghép 2-3 cây cho chắc. Nếu tháo rời tất cả thì không ai nghĩ đó là bộ xương của một căn nhà cho cả chục người sinh sống, vì chẳng thấy cột cái, cột con đâu cả.
Năm 1975, sau khi cha đi học tập về, thấy hoàn cảnh bị cô lập ở một nơi không người quen biết, lại có tin phong phanh thu đất, phóng đường nên cha bèn đi một chuyến thăm dò Đức-minh, từ đó quyết định thêm một lần nữa di cư lập nghiệp. Cô Nhuận và anh Canh, mỗi người tặng cho gia đình mình nửa miếng đất dính nhau thành ra mảnh vườn bây giờ.
Có mặt ở nhà, ngoài cha mẹ, có tôi 18, Vân 16, Trinh 12, Nguyên 11, Thủy 8, Quang 6, Giang 3 và bé Vũ 4 tháng. Khỏi cần phải phân chia vì ai cũng biết mình phải làm gì, thế là từ sáng sớm mọi người đã bắt tay vào công tác : cha và tôi lo leo trèo tháo dỡ, Nguyên chạy lon ton ở dưới để được sai vặt lượm đinh, đưa kềm búa, những em khác chắc núp chơi trong nhà bếp. Đồ đạc trong nhà đã gom lại hết cả, chuyển ra để ở khoảnh sân xi-măng nho nhỏ trước nhà bếp.
Khởi đầu bằng việc tháo mái tôn, rồi đến những tấm ván tường. Sau khi căn nhà chỉ còn là bộ khung mới là lúc căng nhất : tuy đã có đánh dấu nhưng 2 cha con phải rán làm sao nhớ những mấu chốt để có thể ráp nối lại được căn nhà như cũ. Có một lúc, ngồi trên cao, thoáng thấy có bóng người tạt qua, sau đó thấy Nguyên chuyển lại một lá thư, không nhìn cũng biết là của cô bé Nga, cô bé mà có lần mẹ thắc mắc khi thấy có người cứ lấp ló, thấp thoáng trong vườn nhà mình, là tác giả của những chữ tắt để lại trên những tảng đá, những gốc cây trong vườn.
Hơn nửa ngày thì căn nhà đã được tháo dỡ xong, cha đã thuê một chiếc xe tải lớn để chở tất cả đồ đạc trực chỉ Đức-minh. Chuyện cả gia đình di chuyển về Đức-minh cách nào thì tôi không còn một chút ký ức gì cả, hình như hai cha con cùng theo xe tải về Đức-minh thì phải?
Xe về tới Đức-minh lúc trời đã về chiều, đồ đạc được đổ xuống ngay tại vườn, giữa những hàng cây cà-phê. Tối hôm đó, cha và tôi phải ngủ lại trong vườn để canh giữ đồ đạc, đêm cuối tháng 12 khá buốt, hai cha con dùng mấy tấm tôn gác giữa hai đầu giường để che sương mà ngủ, quấn mấy tấm mền mà vẫn rét run.
(Trinh : Em còn nhớ hôm đó là ngày 26 tháng 12, đêm trước ngày dời nhà anh Thạch và anh Mỹ bạn anh Thạch thức suốt đêm ở dưới vườn cà phê, em có cảm giác anh Thạch đang rất quyến luyến vùng đất này. Còn Giang thì không chịu đi, trong thời gian dọn nhà Giang cứ nói là em ở lại một mình, em sẽ ở với Chúa, khi nào trời thấp xuống thì em sẽ cạy trời để lên ở với Chúa. Nhưng rồi cuối cùng thì cả nhà cũng đã lên xe, em không nhớ giờ khởi hành nhưng biết là chiều thì tới nơi , xe dừng lại trước nhà thờ, một lát sau em thấy cha lúc đó mặc áo pyraket và đi chân không cùng với một người nào đó vội vã đi lên phía trên dốc, một lúc sau quay lại thì ra là trước nhà thờ có cái cổng chào MỪNG CHÚA GIÁNG SINH  nên xe không đi qua được, cha phải đi lên nhà ông Giáo (lúc đó là chủ tịch hôi đồng giáo xứ) xin hạ cái cổng xuống. Lúc đó em mới hiểu vì sao cha phải vội vã như vậy đến nỗi không kịp mang dép vì nếu không được phép hạ cái cổng chào xuống thì sẽ phải dỡ đồ đạc xuống ngay tại đó lại phải thêm một khâu di dời đồ đạc nữa rất vất vả).
Qua hôm sau, những người quen biết tập trung lại, bắt đầu dọn dẹp chỗ để dựng lại căn nhà. Ai nhìn đống gỗ cũng phì cười và không nghĩ căn nhà sẽ đứng được lâu. Nhờ đã đánh dấu và ghi nhớ các cấu trúc nên công việc khá trôi chảy, khởi đầu cho một chuỗi ngày nơi vùng đất mới, căn nhà vẫn tồn tại cho tới lúc xây nhà mới.
(Vân: Cuộc dọn nhà không ghi nhiều dấu ấn, em chỉ biết lễ Giáng Sinh xong cả nhà mình được chuyển về Đức Minh trên một chiếc xe tải lớn. Điều nhớ nhất là cái lạnh thấu xương (đắp chiếu mới chịu nổi) khi về tạm trú chỗ nhà anh Thái (ông Đào). Từ đâu em trở thành một lao động thực thụ. Ông Hảo cho một số đất, thế là cha mẹ và em đi dọn đất để làm hoa màu. Vì là đất mới còn cây lớn ngổn ngang nên ngày nào cũng đốt (không có cưa như bây giờ) cứ bẩy cây sát nhau rồi kiếm mồi đốt và bữa ăn trưa là một nồi cơm nếp xéo khoai (10 bữa như 1) mà trời thì nắng (dọn rẫy vào mùa nắng) và ăn cơm nếp nữa thành ra khát nước dữ dội đến nỗi cha phải nói với em “muốn uống nước thì cứ im lặng mà đi” vì mỗi lần uống nước em lại hỏi cha có uống không? (chỉ có cha và em là hay uống nước còn mẹ thì ít uống hơn). Đến thời kỳ có bắp ăn thì đi rẫy đỡ đưa cơm và ăn bắp luộc, khi bắp bắt đầu già thì lại đưa chảo đi để rang, bữa ăn thật đơn giản nhưng đượm tình gia đình.
Khi công việc nhà làm xong thì lại đi làm cho Ô (dượng) Phúc , hái cà phê cho Ô. Canh, Ô Hòa, bà Nhuận. Khi đó chỉ biết đi làm chứ không biết có được tiền hay chỉ là để đền ơn. Cũng có thời gian đi làm cho cậu Phan, cậu Hải, ở suốt cả tuần ngoài đó, về nhà ru em cho cậu Hải, không biết em đã hát bài gì mà chỉ nhớ bà Kính vô nói là “tau tưởng máy hát”.)

Sữa nắng sữa gió

Năm 1975, sau khi mẹ sinh Vũ được một thời gian thì chị Tuyết trở lại nhà dòng và anh Sơn cũng trở lại GHHV. Ở nhà, tuy mới sinh em Vũ nhưng mẹ vẫn là lao động chính để cáng đáng mọi việc.
Trong vườn thì trỉa đậu lạc, thêm vào miếng rẫy lúa cách nhà không xa và mấy sào ruộng bên bờ suối. Tháng 6, tháng 7 là lúc phải cật lực làm cỏ, vun gốc. Mỗi sáng, mấy anh em (Thạch, Vân, Phong, Trinh) vác cuốc ra vườn làm cỏ, mỗi đứa lãnh một hàng đậu phụng và bắt đầu trò chơi đua xe, nào là Kim Long, Tiến Lực, Hiệp Phát, Thuận Thành... thi nhau chạy để rán qua mặt nhau.
Vì mải chơi nên hiệu quả không được cao lắm, bắt buộc mẹ phải để em Vũ ở nhà để ra tay cho được việc. Mỗi khi Vũ khóc thì có đứa phải đi kêu mẹ về cho em bú, mẹ vẫn thường than thở : « Tội nghiệp em, cứ phải bú sữa nắng, sữa gió! ». Không biết có phải vì vậy mà Vũ rất thường bị đau bụng lúc nhỏ, sau khi bú xong, thỉnh thoảng Vũ khóc xoắn người lên, không sao dỗ được. Phong chợt nhớ một loại thuốc trị đau bụng nên hai anh em đi lên tiệm thuốc ở cây số 3 (gần bến xe) và tìm mua được. Có vẻ Vũ chịu thuốc này nên mỗi lần Vũ lên cơn đau mà có thuốc vào thì bớt ngay. Phải đi mua mấy lần như thế và không nhớ tới lúc nào thì Vũ không cần thuốc nữa.

Kỷ niệm về Vũ

Vũ là con út trong nhà. Em được sinh ra vào tháng sáu 1975 đang là mùa mưa ở Ban mê thuột. Khi ấy các anh chị đã tụ tập về nhà đầy đủ sau cơn biến động tháng tư năm 1975. Trong nhà lúc ấy có tất cả đủ 10 đứa con từ chị Tuyết xuống cho tới Giang và mẹ, chỉ thiếu cha vì đang đi học tập. Khi mẹ đang ở nhà thương thì chị Tuyết mới tập họp các em lại và nói bây giờ mình nghĩ ra tên gì để đặt cho em bé vừa mới sinh. Nhà mình đang ở trong vùng rừng rú mà mưa liên tiếp từ mấy ngày qua nên chỉ sau vài phút bàn luận thì ai cũng thấy tên Lâm Vũ là trọn vẹn ý nghĩa vì Lâm là rừng và Vũ là mưa. Em Vũ như trận mưa rừng đang đổ ập xuống căn nhà gỗ mái tôn nơi tất cả các chị em đang quây quần bên nhau.

Hoàn cảnh mẹ đi sinh Vũ là cả một biến cố đáng ghi nhớ. Buổi chiều tối trước khi đi ngủ mẹ đã thấy khác trong người và biết là sắp sinh, nên mẹ mượn xe Honda của mợ Trực và dặn Thạch chuẩn bị để khi nào tới lúc cần thì chở mẹ đi nhà thương. Xe mợ để nhờ trong nhà của mình. Đêm đang ngủ nghe tiếng mẹ lục đục, rồi mẹ kêu Thạch dậy, anh cũng dậy theo.
(Thạch : Xe của mợ là loại xe Honda Dame, tuy cũng có đôi khi đã lái nhưng không rành rẽ lắm. Lúc đó chắc khoảng 5 giờ sáng, trong ánh đèn lờ mờ, hai anh em tìm được một chỗ, nghĩ là cái khóa xăng, và đẩy qua một vị trí khác với suy đoán là xăng đang khóa, đẩy qua vị trí ngược lại sẽ là mở. Xe nổ máy, Thạch chở mẹ và Vân đi nhà thương. Đi được tới gần bến xe ở cây số 3 thì xe Honda chết máy, đạp sao cũng không nổ, có vài người tới phụ đạp cũng không được. Thạch đành bỏ mẹ và Vân tại đó rồi cho xe thả dốc quay về, gần tới nhà mới phải dắt xe. Sau này về nhà nói chuyện với mợ Trực mới khám phá ra là thay vì mở bình xăng xơ cua, thì 2 anh em đã khóa xăng lại. Thật là xui xẻo ! Nếu mở bình xăng xơ cua thì xe còn chạy được cả trăm km nữa ngon lành chớ đâu đến nỗi phải để mẹ và Vân đi bộ giữa đường như thế).
Lúc này tình hình đã gấp rút lắm rồi, vì mẹ đang đau bụng rên hừ hừ, mà từ đó tới nhà thương còn xa lắm. Không còn cách nào khác hơn là mẹ phải tiếp tục cuốc bộ, Vân cầm đèn lẽo đeo theo bên cạnh. Tình hình thật bi đát. Khi Thạch dắt xe về đến nhà cho biết là xe hết xăng mẹ phải đi bộ thì mấy chị em lo lắng vô cùng, không biết mẹ có đón được xe hay không, không biết mẹ có kịp tới nhà thương để sinh hay không, hay phải sinh ngay giữa đường ? Lo lắng bồn chồn nhưng có làm gì được đâu. Sáng ra lên nhà thương thăm mẹ, thì mẹ đã sinh rồi, và nghe kể lại là mẹ với Vân đi bộ thêm một đoạn nữa thì đón được xe lam. Ông tài xế vừa chở mẹ đi vừa khấn vái trời phật cho mẹ đừng sinh ra dọc đường ngay trên xe của ông ta, vì sẽ rất phiền toái và có thể bị xui xẻo trong việc làm ăn. Xe đưa tới nhà thương thì cổng vào đóng kín, kêu cửa không có ai nên mẹ đã leo hàng rào mà vô. Thật không ai tưởng tượng ra được hoàn cảnh một bà bầu, sắp sinh, mà còn có sức để đi bộ một quãng xa như vậy và còn leo hàng rào để vô nhà thương.

Dĩ nhiên là cuộc sống gánh-vác-nặng-nhọc-trèo-cây-bẻ-lá-nuôi-hươu của mẹ từ nhỏ đã giúp mẹ cứng cáp lạnh lẹ trong mọi tình huống như thế, nhưng không thể không nhận ra nghị lực phi thường của một người mẹ thương con và hy sinh cho con. Trời bắt mẹ lam lũ cực nhọc, nhưng Trời lại thương cho mẹ sinh ra em Vũ khỏe mạnh bình an, không gặp khó khăn hay trắc trở gì cả. Cũng như trong 11 lần sinh nở trước đó, lần nào cũng “mẹ tròn con vuông”. Mẹ kể lại là những lần mẹ đi sinh bác sĩ luôn hỏi là mẹ bao nhiêu đứa con rồi, và mẹ nói số lần sinh thì bác sĩ nào cũng sợ, và dặn mẹ là nếu có biến chứng hay khó khăn gì thì họ phải can thiệp và giải phẫu ngay, nếu không thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Các bác sĩ cẩn thận như thế vì sau vài lần sinh con, cơ thể người mẹ trở nên yếu và dễ gặp biến chứng. Đúng là trời thương, lần sinh nào mẹ cũng khỏe, bằng an mà các con cũng ăn ngoan mau lớn. Trong trường hợp út Vũ thì hơi khác, vì trong mấy tháng đầu Vũ hay đau bụng và quấy khóc đêm nhiều lắm, so với các anh chị khác.

(Nguyên : Lúc mới sinh, Vũ có những bệnh lạ. Kinh nghiệm nuôi mười đứa con như cha mẹ cũng đành chào thua. Chứng bệnh đau bụng và khóc đêm có lẽ mang đến cho cha mẹ nhiều phiền toái nhất. Đến nỗi lực lượng quân sự canh phòng hằng đêm cũng phải ghé xem sự thể ra sao. May sao có ai bày uống mật heo mới ổn được …Ai ngờ bây giờ lại to bự nhất nhà.)

1975 phiêu lưu ký

Tháng 3 năm 1975, chiến sự bùng nổ ở Ban-mê-thuột nối tiếp bằng tin di tản chiến thuật chẳng bao lâu sau đó. Bạn bè nhìn tôi thông cảm vì biết tôi đã bị cắt đứt liên lạc với gia đình. Giữa tháng 3, chính phủ thu hồi quyền hoãn dịch và ban bố lệnh tổng động viên cho mọi thanh niên sinh năm 1957 trở về trước : nhiều người trong đám chủng sinh chúng tôi thuộc vào diện phải nhập ngũ, không còn tâm trí học hành, chỉ còn bàn tán xôn xao....
Buổi sáng ngày lễ thánh Giuse, 19 tháng 3, cha bề trên chủng viện tập trung học sinh và tuyên bố giải tán, không quên nhắc các chú trong hạn nhập ngũ tập trung lại chủng viện trước khi ra Đồng Đế trình diện. Mọi người thu xếp đồ đạc, ra về trong hoang mang vô tả. Tôi không có chỗ để về nên theo lời rủ rê của bạn (Phan), ghé về nhà nó ở Bình-Tuy.
Chơi ở Bình-Tuy mấy hôm rồi khăn gói về Phan-Thiết, đóng đô ở nhà chú Điều bên Vinh-Phú. Tại đây tôi được biết anh Sơn cũng đã về bên Vinh-Thủy, thế là anh em gặp nhau và cùng kéo về Vinh-Thủy. Lúc đó nhiều người đã rục rịch chạy vào Vũng-Tàu lánh nạn, còn vài gia đình trong xóm Thuận-Nghĩa trong đó có gia đình ông Chinh và gia đình chị Chức thương cảm cảnh lạc lõng của hai anh em nên đều rủ tá túc nơi gia đình họ. Mọi nhà lần lượt ra đi và hai anh em cuối cùng cũng đi theo gia đình chị Chức ra bến ghe Phú-Hài để chờ phương tiện xuôi Vũng Tàu vì đường bộ vào Bình-Tuy không còn thông thương được nữa.
Người đổ tới mỗi ngày một đông nên nằm mấy ngày vẫn chưa kiếm được chỗ. Rồi Nha-Trang bỏ ngỏ, Phan-Rang náo loạn theo dòng người  từ miền Trung đổ vào, Phan-Thiết trở thành đáy con ngõ cụt quốc lộ 1, người càng đông thêm, đủ mọi tầng lớp, tạo nên cảnh hỗn loạn mất trật tự. Thời gian nằm tại Phú-Hài đã có lúc thấy một người bị bắn chết vì ỷ có vũ khí dành chỗ lên ghe, xác nằm đó không người chôn cất. Một đêm kia, hai anh em ngồi trò truyện với một người trong dòng người xuôi từ Nha-Trang đến, anh ta kể lại tình trạng hỗn loạn xảy ra tại Nha-Trang, Phan-Rang và ngao ngán về cái viễn ảnh không mấy sáng sủa. Sau buổi trò truyện thì anh ta cũng thảy luôn xuống sông vũ khí tự vệ còn dấu lại trong người, như một dấu muốn cắt đứt dĩ vãng đau thương, đó là một khấu súng ngắn. Anh Sơn sau đó cởi đồ, xuống sông mò lại khẩu súng, có lúc bận áo giáp, lận khẩu súng bên trong, trở lại xóm Thuận-Nghĩa đi chơi, hình như có bắn thử một phát trong mấy đồi cát, gần nhà thờ ngoài.
Thấy tình hình không dễ dàng và chắc là cũng không muốn chịu ơn gia đình chị Chức nhiều nên hai anh em quyết định không đi nữa, anh Sơn trở về ở nơi nhà cha già Khiêm, với thầy sáu Cung (Nguyễn Thiên Cung) còn tôi vào ở trong nhà xứ cha Hiên với Nguyễn Vĩnh Long là bạn thời lớp nhì, sau này đi tu muộn ở Lâm Bích. Thời gian này, cha Hiên tổ chức một ban cứu trợ cho các người chạy nạn, anh Sơn và thầy Cung được giao việc đi lập danh sách, có lúc qua tận bên Vinh-Phú, tôi không còn nhớ đã được giao việc gì nữa. Ở trong nhà xứ, sáng sáng lo theo Long đi giật chuông, dọn đồ lễ, mở và đóng cửa nhà thờ. Những người sống hai bên tỉnh lộ, còn ở lại, vẫn sinh hoạt trong ngày như bình thường nhưng tối đến thì cùng nhau gồng gánh vào khu nhà thờ trong để ngủ qua đêm nên buổi tối chung quanh nhà thờ có rất nhiều người trải chiếu, giăng mùng; Long vẫn chọc tôi vì đôi lúc thấy tôi trò chuyện với Sách (bạn của Vân), lại còn được cung cấp bánh trái lai rai.
Một tối tháng 4 năm 1975, đứng trên dốc nhà thờ, mọi người đều đổ mắt về hướng xa xa, phía nhiều ruộng muối, tai nghe tiếng súng nổ, mắt nhìn các vệt đạn đan chéo nhau trong đêm, ai cũng biết chuyện gì đã tới. Sáng hôm sau nhiều xe lính kéo theo mấy khẩu 105 ly tiến vào khu vực hồ Vinh-Thủy và dàn mấy khẩu quay ra biển. Vài anh lính tập trung vào nhà xứ, thấy có đàn guitar nên xin được nghe vài bản nhạc vàng, tôi hơi lưỡng lự nhưng cuối cùng cũng đành cất tiếng...
              ..........     Lạy Trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
                            Mẹ ngồi ru con nước mắt nhục nhằn xót xa phận người……

Một, hai hôm sau, anh Sơn mượn xe Honda rủ tôi chạy lên cha Báu (xứ Thuận Nghĩa) xem tình hình ra sao, trước khi đi không quên mượn giấy xe mang theo vì nghe nói nếu bị du kích xét mà không có giấy thì xe có thể bị tịch thu. Ngang khoảng Vinh Lưu, du kích có chận lại hỏi giấy xe thật, nhưng đã chuẩn bị nên không hề hấn gì. Buổi trưa trở về, gặp thầy Cung càu nhàu vì tình hình chưa yên mà chạy đi bậy bạ.
Vài hôm sau, có tin đồn chính phủ cách mạng lâm thời sắp thu lại thẻ căn cước, hai anh em hội ý và nghĩ nên kiếm đường đi Vũng Tàu. Lúc anh Sơn đi lập danh sách cứu trợ, có quen biết một chị, nhà ở đối diện với bến cá, khu Thương Chánh; hai anh em chạy qua hỏi thăm và ngỏ ý định tìm đường vào Sài-gòn, chị ta nói hôm qua mới có ghe đi, bây giờ thì hơi khó nhưng khi nào có thì sẽ tin cho biết. Hình như không cần chờ đợi lâu vì 1,2 hôm sau, mới ngủ trưa dậy là thấy chị ta tới kiếm tôi trong nhà xứ và chở tôi ra tìm anh Sơn nơi nhà cha già Khiêm để thông báo là chiều hôm sau có chuyến đi, dặn dò là không nên mang theo đồ đạc nhiều. Chiều hôm sau, thầy Cung chở hai anh em qua điểm hẹn là nhà của chị ấy, tim bắt đầu đập nhịp lo âu. Trong nhà đã chuẩn bị cơm canh mời hai anh em nhưng không ai còn lòng dạ để ăn nên chỉ và qua loa vài miếng. Giờ đã đến, anh em vừa thò thụt đi từ nhà xuống xuồng để ra ghe vừa phập phồng lo sợ, vừa mới lên xuồng bơi ra thì thấy cách khoảng 50m có chiếc ghe nổ máy chạy, chị ta phải chỉ chỏ hô hoán cho ghe ngừng lại, vội vã chèo tấp xuồng vào cho anh em leo lên ghe. Sự việc diễn tiến thật nhanh chóng, trong vội vàng và  trạng thái lo âu nên không còn nhớ có ai trong hai anh em kịp nói một lời cám ơn với người ân nhân, ngoài cái vẫy tay từ biệt. Cùng lúc ấy, mấy chiếc xuồng du kích ập tới lên ghe xét giấy tờ, chất vấn mọi người, có lẽ mọi người cùng có chung câu trả lời là đi về với thân nhân  ở Sài-Gòn nên mấy anh du kích rời xuồng và còn chúc thượng lộ bằng an nữa. Thật là hú hồn!
Khoảng trưa hôm sau thì ghe cập bến Vũng Tàu, hai anh em ra bắt xe đò đi Sài-Gòn, đường VT-SG rất tốt, xe đò nối đuôi nhau chạy nhanh để giành khách. Có một lúc nhìn xe đò chạy phía trước, một anh lơ xe chỉ đứng bằng hai chân trên mui, tay lo cuộn dẹp mấy sợi dây chằng hành lý, ai cũng chỉ chỏ và đôi lúc hú lên khiếp đảm khi xe lắc lư như muốn hất anh chàng văng khỏi xe. Xuống xe ở Thủ-đức, hai anh em muốn đi tới chủng viện Phanxicô để tìm Phong, không còn nhớ đi tới đó bằng cách nào nhưng gặp Phong đang lang thang ở đó, dường như đang chơi chọc mấy con cóc trong vườn.  Gom góp ít đồ đạc cá nhân, Phong theo anh Sơn và tôi vào SG. Trên đường ra đón xe, ba anh em có ghé vào quán nước, hình như anh Sơn gọi bia 33 , tôi và Phong thí nghiệm uống côca với muối vì có nghe người ta  bày uống như thế sẽ không bị ợ, kết quả là cái bụng tôi cứ bị khó chịu suốt buổi tối vì anh ách hơi. Nhà o Lân là điểm đáp của ba anh em tại SG, ngoài gia đình anh Đăng 4 người sống tại đó, đã có thêm mấy người con chú Bích , nay lại thêm ba anh em chúng tôi nữa. Đối với tôi, nếu kể từ lúc đủ lớn để nhận thức được các sự việc, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi tới SG; đêm Sài-Gòn nóng bức trong căn nhà chật chội, tôi phải dỗ giấc ngủ bằng cách chui đầu xuống gầm bàn cho có cảm giác tránh được hơi nóng, từ trong nhà muốn ra ngoài đường cũng phải cẩn thận để khỏi dẫm trúng đồ đạc, ngay ngoài đầu hẻm có nhà vệ sinh công cộng, là nơi cho chúng tôi giải quyết nhu cầu thay vì dùng nhà vệ sinh bé tí trong nhà.
Thuở ấy, tôi không biết gì về SG nên dù có đi tới nhiều nơi cũng không biết chỗ đó là gì, chỉ nhớ mấy anh em có đi bộ từ nhà o Lân tới nhà sách Khai Trí, tới bùng binh công viên « Con Rùa » và đi tới một cơ sở của dòng Tên trên đường Yên-đổ, rất gần nhà o Lân, tại đây anh Sơn gặp lại người bạn học, từ Đà-lạt xuống tá túc lánh nạn  và cũng tại đây anh Sơn được người chỉ vẽ đường đi nước bước để tìm tới nhà dòng Chúa Quan Phòng (Cần-Thơ).
Trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, gia đình ly tán chắc trong lòng ai cũng nghĩ 4 chị em sống xa gia đình là những thành viên gia đình lúc đó còn sống sót, cùng gom lại một lần cho biết tương lai phải ra sao, vả lại ai cũng một lần muốn biết thành phố Cần-thơ thế nào. Bạn anh Sơn, anh Liên, tứ cố vô thân nơi đất Sài thành, cũng muốn tháp tùng ba anh em cho qua ngày tháng, thế là 4 người trực chỉ Cần-Thơ.
Sau khi qua phà Hậu-giang, tới bến xe Cần-Thơ đã bị cảnh sát chiếu cố ngay : anh Sơn và anh Liên có giấy hoãn dịch tu sĩ, Phong còn nhỏ, chỉ có tôi bị hạch hỏi vì thuộc diện nhập ngũ, cũng may là tôi nắm chắc quy định ngày nhập ngũ vào tháng 6 cho những người sinh cuối năm 1957 nên tôi vẫn còn hạn tự do đi lại được hơn một tháng nữa. Thủ tục xong xuôi, chúng tôi bắt xe lôi để tới nhà dòng chị Tuyết; Cần-Thơ có dạng xe lôi đặc trưng để chở khách, chỗ khách ngồi tương tự xe xích lô nhưng lớn hơn một chút, phía trước có cái càng để móc dính lên yên một chiếc xe máy, tài xế cứ thế kéo đi, thời đó thường là Honda hay Suzuki 50 phân khối.
Sự xuất hiện của ba anh em có lẽ là một sự bất ngờ cho chị Tuyết và cả nhà dòng, bốn vị khách được tiếp đãi rất nồng hậu và được sắp đặt cho ở nơi nhà khách, cơm nước đưa tận nơi, chị Tuyết được đặc trách vào việc tiếp đãi, thăm hỏi. Nhờ chuyến đi này mới thấy được cái không khí thân tình ràng bó khắng khít như chị em một nhà của các nữ tu : mọi người trong dòng đều rành rẽ ngọn ngành về gia đình chị Tuyết. Có lẽ sự hiện diện của bốn người khác phái đã ít nhiều khuấy động khung cảnh và sinh hoạt bình thường của các chị.
Một vài hôm sau khi ghé dòng CQP, anh Sơn và anh Liên lên đường đi Phú Quốc thăm bạn. Phong và tôi, hoàn cảnh những đứa mồ côi, được mời ở tạm lại nhà dòng trong lúc chưa có tin tức gia đình; hai đứa không còn ở nhà khách nữa nhưng được dọn qua khu ký túc xá của trường trung học, ở đó cũng còn dăm ba đứa học sinh lớn nhỏ, không biết vì lý do gì, vẫn còn ở lại đó, ngày ngày chỉ thấy tụi nó cười giỡn và vạch lưng ra cạo gió. Trong thời gian ở lại này, hai anh em đã được chị Tuyết dẫn đi vòng vòng trong vườn, tham quan nhà bếp và những nơi làm việc, vườn của nhà dòng có rất nhiều cây mận xốp, trái rụng đầy.
Tình hình mỗi ngày một căng thẳng cho tới một sáng kia, lời tuyên bố chuyển giao quyền lực được lặp đi lặp lại nhiều lần trên đài phát thanh SG.
Chờ một vài ngày cho tình hình lắng dịu, hai anh em quyết định rời nhà dòng; để làm gì thì chưa biết nhưng hai anh em đồng ý là phải về tận nhà xem xét tình hình rồi mới tính tới đi đâu sau đó. Trước khi rời nhà dòng, tôi đã rất nhạc nhiên khi mẹ bề trên ưu ái tặng một số tiền khá lớn, dành làm lộ phí và để chi tiêu trong những ngày lưu lạc, 20 hay 40 ngàn gì đó. Không xuôi chảy nhưng anh em cũng về tới được nhà o Lân ở SG, thành phố đã nhộn nhịp trở lại, vỉa hè bày bán la liệt đủ thứ đồ dân chúng thu hoạch được trong những cuộc tảo thanh các cơ sở và nhà cửa bỏ trống. Hải (con chú Bích) kể về món bánh mì trét bơ, rắc thêm chút đường cát một cách thèm thuồng nên sẵn có tiền trong túi, tôi rủ cả bọn ra phố mua liền một cục bơ về nhà ăn cho đã thèm.
Mọi người từ xa chạy nạn đến SG nay lục đục thu xếp để trở về, xe cộ đều đầy nhóc người. Phong và tôi đi ra Thủ-Đức, thành  phố vẫn còn ngổn ngang tàn tích , sau khi thu dọn đồ đạc, chúng tôi cũng hòa vào đám người đứng đón xe dọc bên đường, hy vọng nhảy lên được một chuyến xe để ra tới Nha-trang. Sau những chờ đợi và chờ đợi, chúng tôi chỉ hy vọng có xe để đi được đoạn nào hay đoạn đó.  May mắn quá, có một chiếc xe trờ tới : “Đi Phan-thiết không?”, không lưỡng lự, chúng tôi nhảy liền lên xe, kiểu xe thùng nhỏ bít bùng, có hai dãy ghế hai bên như xe lam, chính giữa kê thêm vài băng ghế gỗ cho bà con có chỗ ngồi. Đoạn đường quốc lộ từ SG ra tới Bình-Tuy thật vất vả cho xe cũng như cho hành khách, nhiều lúc xe phải đánh vòng tránh những khúc đường hư hay phải lội sông vì cầu đã sập; mỗi lúc như thế mọi người đều phải xuống để xe bớt nặng, chạy bộ theo xe để phụ đẩy lúc cần thiết, mùa mưa chưa tới nên bụi ơi là bụi. Rốt cuộc thì  xe đã vượt qua được mọi dốc đá và những lòng sông cạn để tiếp tục chặng đường. Không còn nhớ rõ có phải chuyến xe này, khi gần tới Phan-thiết, tài xế phải sử dụng hộp số để hãm xe vì hệ thống thắng bị trục trặc.
Xe tới PT thì trời đã tối, hai anh em tự hỏi không biết mình sẽ đi tìm ai, không biết những người nơi xóm Thuận-nghĩa đã trở về chưa và không biết phải làm gì nếu không tìm thấy ai quen.  Xe ngang qua cổng chữ Y, là nơi bao nhiêu xe dừng lại cho hành khách ăn uống, cũng là nơi để xe lấy thêm dầu, nước trước khi tiếp tục cuộc hành trình, hai anh em quyết định xuống xe tìm chỗ ăn uống rồi mới tính tiếp. Vào quán có đèn sáng, hai anh em nhìn nhau mà không khỏi ngạc nhiên bật cười : mặt mũi đứa nào cũng lem luốc bụi bặm và đen như vừa ở lò than chui ra. Sau khi rửa ráy, anh em gọi cơm phần nhưng nhà hàng chỉ có cơm dĩa, đành kêu mỗi người một dĩa cơm và chai bia con cọp để mừng qua khỏi chặng đường gian khổ.
Mới bước ra khỏi quán ăn, đang phân vân chưa quyết định đi đâu thì một chiếc xe đò tấp tới kiếm khách đi Nha-trang, anh em lại leo lên; trong xe đã chật ních người, lơ xe bảo leo lên mui, thế là anh em lại leo lên mui kiếm chỗ đặt mình giữa các bao hành lý, phía đầu xe đã có nhiều người nên hai anh em phải tụt lại phía sau, có mấy chiếc xe đạp được cột trên mui nên anh em bảo nhau nằm móc tay vào bánh xe đạp cho khỏi bị rơi xuống. Có một lúc, ngang qua khoảng Sông Mao-Chợ Lầu, xe bỏ quốc lộ chạy vào con đường nhỏ, hai anh em rán nép đầu xuống sát để khỏi bị mấy tàn cây trên đường đập trúng, thế mà có lúc cũng bị vài cú đau điếng. Khoảng 5 giờ sáng xe tới Phan-Rang, tài xế dừng lại chuyện vãn với ai đó một lát rồi đi tiếp, tới Nha-trang vào buổi sáng sớm.
Hai anh em bắt xe qua tiểu chủng viện bên Đồng Đế, nói là để thu góp đồ đạc nhưng dường như cũng chẳng lấy gì. Trong thâm tâm, tôi nghĩ nhà cửa chắc đã tan nát hết, người chắc cũng chẳng ai còn, có về nhà chăng là để nhìn lại căn nhà xưa, để tự mình xác thực những mất mát, đổ vỡ; và chắc rồi lại sẽ cuốn gói ra đi nên chẳng muốn mang theo gì cả. Hai anh em thảnh thơi thay đồ đi tắm biển, biển Nha-trang vào đầu tháng 5 còn rất lặng, nhất là vào buổi sáng sớm. Tắm biển, ngắm trời chán chê rồi hai anh em mới thủng thỉnh trở lại bến xe, không quên ghé quán gọi cơm phần cho hai người trước khi tới quầy vé. Sinh hoạt tại Nha-trang lúc đó có vẻ bình thường hơn, không hỗn độn tấp nập như ở Sài-Gòn, hai anh em mua được vé trên một chuyến xe lô, loại xe lẽ ra chỉ chở 4 người nhưng đã cải tiến để nhét được tới 8-9 người : 2 người cùng hàng với tài xế, 4 người trên dãy ghế phía sau, 3 người nữa phải vào bằng cửa sau, ngồi trên một băng ghế tí xíu đặt thêm trong cốp xe.
Chặng đường Nha Trang – Banmê rất bình thường, như không hề có chiến tranh. Bốn tiếng đồng hồ sau thì hai anh em đã có mặt trên con đường đất đỏ dẫn từ đường lộ vào nhà. Khung cảnh không có gì thay đổi, từ đường lộ, ở cây số 5, dốc đổ nhẹ đến một cây cầu nhỏ, lại lên một dốc và hơi quanh về tay phải, khu gia binh vẫn còn y, thêm vài chục thước nữa thì căn nhà nho nhỏ của tôi đã hiện ra, lành lặn, bình yên. Hai anh em bước vào nhà, chỉ thiếu bóng cha, tất cả đều bình yên, vô sự.

Chuyến trở về

Đối với đất nước Việt Nam, ngày 30/4/1975 là một sự kiện lịch sử lớn. Đối với gia đình mình, đây cũng là một biến cố làm thay đổi cuộc sống của nhiều thành viên trong gia đình. 
 
Khi Đà Lạt, Nha Trang bị quân giải phóng chiếm giữ, anh Thạch (lúc đó đang học ở chủng viện Sao Biển Nha Trang) và anh Sơn (đang học ở Giáo hoàng học viện Đà Lạt) đều cùng với đoàn người di tản chạy về Phan Thiết. Đến khi Phan Thiết bị quân giải phóng chiếm thì hai anh lên thuyền đi vào Long Hải (Bà Rịa-Vũng Tàu) rồi về Sài Gòn. Tại đây, ba anh em gặp nhau. Lúc đó mình đang học ở dòng Phanxicô Thủ Đức. Tâm trạng lúc đó của 3 anh em như những đứa con mất cha, mất mẹ, tìm đến nhau để chia sẻ, đùm bọc nhau. Ba anh em lên đường đi Cần Thơ, nơi chị Tuyết đang tu ở dòng Chúa quan phòng. Trước tình cảnh đáng thương của mấy anh em, nhà dòng đã cho ba anh em tá túc và nuôi ăn uống đầy đủ. Sống trong nhà dòng được khoảng mươi ngày thì miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Mọi người xôn xao trở về quê cũ. Tâm trạng của những kẻ ra đi lúc đó chỉ muốn nhanh chóng về nhà để biết nhà mình thế nào sau cuộc chiến. Mình với anh Thạch cũng khăn gói lên đường. Lúc đó anh Sơn đang đi chơi nhà bạn ở Phú Quốc. Từ Cần Thơ về Sài gòn thì không có gì đặc biệt, chỉ có điều phải đi hai lần mới trót lọt. Lần đầu, tình hình an ninh chưa ổn, tiếng súng vẫn còn nổ, xe đi một quãng phải quay về lại. Chuyến đi từ Sài Gòn về Ban Mê Thuột mới đáng nhớ.
Hôm đó, hai anh em Thạch-Phong đi trên chiếc xe lam 3 bánh từ Sài Gòn lên Thủ Đức, ghé vào nhà dòng Phan Xi Cô để lấy đồ đạc còn để tại đây vì khi đi Cần Thơ chỉ mang theo một ít đồ cần thiết. Trên đường đi từ Sài Gòn đến Thủ Đức, hai bên đường, thậm chí ngay giữa đường là những đống quần áo, giầy mũ, vũ khí của lính quốc gia cởi bỏ, quăng vất bừa bãi từ khi quân giải phóng vào, chưa có ai dọn dẹp. Ngoài lề đường, có chiếc xe xúc đang đi thu dọn những xác chết không biết của bên nào đã bắt đầu trương sình lên. Sau khi lấy đồ trong nhà dòng ra, hai đứa đứng đón xe ở ngã ba Thủ Đức. Xe đi về miền Trung rất nhiều nhưng chiếc nào cũng đầy nhóc, không còn chỗ nào để nhét hoặc bám được nữa. Kể cả trên mui xe, ngoài đồ đạc, chỗ nào còn trống cũng có người ngồi hết. Định đón xe đi Nha Trang nhưng không được, cuối cùng thì hai đứa cũng lên được một chiếc xe khách đi Phan Thiết loại trung (cỡ xe 16 chỗ ngồi bây giờ) chật cứng nhưng vẫn dồn chứa thêm được hai đứa nhỏ. (Thạch: Theo trí nhớ của Thạch, xe này không phải là xe khách vì chung quanh bít bùng, chỉ có cửa mở phía sau, bên trong có 2 dãy ghế dọc như xe lam, chính giữa được kê thêm vài dãy ghế cho người ngồi thêm. Không biết xe được dùng làm gì trước đó nhưng 2 anh em đã đoán là xe đi chở than vì về đến PT thì mặt mũi ai cũng đen thui như mới từ lò than chui ra). Mừng hú vía. Xe lớn xe nhỏ nối đuôi nhau xuôi về miền Trung. Lúc bấy giờ, hầu hết các cây cầu trên quốc lộ 1 đều đã bị đánh sập (do khi rút lui quân Nam Việt đã phá hỏng để cản đường tiến công của quân giải phóng) nên xe phải đi len lỏi vào rừng để tránh cầu hoặc lao xuống khúc sông suối cạn bên cạnh chiếc cầu sập. Mỗi lần qua cầu sập như vậy, mọi người phải xuống chạy bộ theo xe vì xe không đủ mạnh để vượt qua những con dốc khi chở đầy người. Cũng may lúc này chưa vào mùa mưa nên mới có thể đi như vậy được. Bụi bay mù mịt. Cứ như vậy mà đi cho đến Phan Thiết.Lúc đó khoảng 8g tối, xe dừng tại một quán ăn bên đường. (Thạch: Lúc đầu 2 đứa tính đi về Vinh-thủy nhưng không biết những người quen đã trở về chưa, không biết trú nơi đâu nếu không tìm thấy ai ; hai đứa bèn xuống xe ở cổng chữ Y, vào quán ăn cái đã rồi tính sau). Hai đứa với hành trang, quần áo, mặt mày bám đầy bụi đất, khói xe, nhìn nhau mà không còn nhận ra nhau. Tiền bạc lúc này cũng rủng rỉnh vì trước khi về mấy bà xơ dòng chị Tuyết cho, nên hai anh em hiên ngang vào quán kéo ghế ngồi kêu cơm đĩa và một chai bia ‘con cọp’ để ăn mừng cho việc sống sót sau chuyến xe bão táp.
 
Ăn xong, bước ra ngoài, đang loay hoay định về Vinh Thủy kiếm chỗ nghỉ lại thì có chiếc xe từ Sài Gòn đi Nha Trang ghé lại đón khách. Đây là chiếc xe khách loại lớn (loại 50 chỗ). Xe đã đầy ắp người, anh lơ xe chỉ lên mui, muốn đi thì đi. Trên mui lúc này người ta cũng ngồi lố nhố chung với đồ đạc. Hai anh em hội ý nhanh, quyết định leo lên mui, phía sau cùng, vì phía trước không còn chỗ. Xe chạy. Vì ngồi phía sau nên người bị xóc tung lên mỗi khi xe gặp ổ gà.Mà đường lúc đó không trơn láng như bây giờ, lởm chởm và đầy ổ gà. Rất may, hai anh em ngồi cạnh mấy chiếc xe đạp. Xe đạp thì đã được cột chắc vào mui xe. Thế là mỗi đứa móc một tay vào bánh xe để giữ cho khỏi bị rớt xuống xe và ngủ gà ngủ gật cho đến khi xe ra đến Nha Trang vào khoảng 4,5 giờ sáng ngày hôm sau.
 
Hai anh em lên xe lam đi về chủng viện Sao Biển để anh Thạch lấy đồ đạc. Không hiểu sao, trong tình hình này mà hai đứa vẫn còn xuống tắm biển, ngắm bình minh trên vịnh Nha Trang xinh đẹp. Đi ngang qua nhà nguyện của chủng viện anh Thạch còn giới thiệu : nhà nguyện được lát bằng gạch hoa và được thường xuyên lau chùi bóng láng đến nỗi có cha đi làm lế bị trượt ngã...Chuyện này có thật hay không thì chưa biết, chứ còn trí tưởng tượng phong phú của anh Thạch thì có thật một trăm phần trăm. Nhớ lại lúc nhà đang ở Phan Thiết, có lần anh Thạch cùng với anh Sơn được đi chơi ở Bình Chính- Phan Rang (nơi cha Báu, cha đỡ đầu anh Sơn, đang coi xứ). Về nhà, mấy đứa em đứa nào cũng há hốc miệng để nghe anh Thạch kể chuyện. Nào là con dê nó chỉ đi trên đá, nhảy từ mỏm đá này sang mỏm đá khác, nào là đá ở đó muôn màu muôn sắc, đập vỡ ra như thủy tinh nhiều màu,...Lại nữa, sau chuyến đi Đắc Min, lên ở với cha Sinh tại nhà thờ Vinh An dịp nghỉ hè, anh Thạch đã kể lại những điều tai nghe mất thấy ở đó cho mấy đứa em. Nghe kể, đứa nào cũng tưởng tượng ra Ban Mê Thuột là một vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, sản sinh ra những loại cây trái to lớn khác thường như : mía voi to bằng cổ chân, chuối già hương thân lùn nhưng buồng dài chấm đất, mít tố nữ rụng không ai ăn, gà nuôi thả đầy vườn ngủ trên cây như chim,...Về sau, khi lớn lên và đến những nơi này mới biết tất cả là do trí tưởng tượng của anh Thạch mà ra cả. (Trinh: Anh Phong à, em nghĩ anh Thạch kể chuyện cũng đúng mà, không tưởng tượng nhiều lắm đâu. Khi gia đình mình về Đức Lập nay là ĐakMil lúc đó là sau giải phóng  được gần một năm rồi nên không còn là thời kỳ sung túc nữa , giai đoạn đó chỉ có người nghèo là thanh thản , còn người giàu thì lúc nào cũng nơm nớp lo sợ , luôn sống trong căng thẳng , ngột ngạt thì làm sao thấy được sự trù phú của miền đất này. So với Phan Thiết thì chuối , bắp , mía v.v..ở vùng này nó lớn hơn nhiều , hơn nữa cũng vì nhiều cây cối nên gà nó cũng ngủ trên cây như chim vậy)
(Thạch :Phong nói rất đúng là anh có một trí tưởng tượng rất phong phú. Nhớ lúc nhỏ, anh thường tưởng tượng chuyện anh hùng kiểu như superman bay trên nóc nhà để kể cho mấy em nghe, đứa nào cũng chăm chú nghe và có lúc cười sặc sũa. Chuyện ở Bình-chính thì anh không nhớ gì về những điều Phong nhắc nhưng chuyện ở Dakmil thì có thật.
Anh tới thăm cha Synh lúc cha ở xứ Vinh-an, anh vốn nhát gan và không ở chơi lâu nên không quen ai, chỉ ở quanh quẩn trong nhà xứ. Cha Synh nổi tiếng khó tính nên con nít không dám bén mảng vào phá nơi khu vực nhà xứ, thành ra cây trái gì trong nhà xứ đều còn nguyên vì đâu có ai ăn. Có 2 cây xoài tượng trĩu trái, nghe nói mỗi lần hái cũng được 2 bao tạ; mít quanh vườn có chín rụng xuống cũng chỉ có chó gà tới ăn nên anh đã có lúc leo lên cây mít, rạch một đường trên trái mít mật đã chín trên cây, moi ăn vài múi rồi để đó, mấy hôm sau trái mít mới rụng xuống.
Mía voi thì không thấy ở Dakmil nhưng ở Châu-sơn, gần thị xã Bmt. Chắc Phong đã thấy mía này rồi vì trước khi nhà mình dọn tới Bmt mẹ cũng có đi một chuyến thăm dò, lúc trở về có mang về mấy cây mía voi. Anh nghe kể : chị Vân cắt tặng cho mấy bạn, mỗi người một lóng nên Phong đã nói đùa là một cây mía voi đủ cho cả làng Vinh-hưng ăn) 

Sau đó, hai anh em ra bến xe về Ban Mê Thuột. Chấm dứt một chuyến đi để đời. Đến nhà mới biết cả nhà mình vẫn bằng yên, không bị thiệt hại gì mặc dầu nằm trong tầm đạn pháo khi quân giải phóng tiến vào đánh chiếm Ban Mê Thuột. Lúc này, hai anh em mới nghĩ : biết vậy mình đi chơi cho đã rồi hãy về.

Chuyến đi dài

Năm 1975, anh đang học tại Đại Chủng Viện Giáo Hoàng Học Viện thánh Pio X ở Đà Lạt. Về nghỉ Tết xong vừa trở lại trường, đang chuẩn bị Phục Sinh thì nghe tin Ban mê thuột bị chiếm. Sau đó không lâu, tin xấu tràn về, ai cũng thấp thỏm lo âu. Sau lễ thánh Giuse 19.03.1975, các cha dòng Tên thuê xe chở các thầy theo đoàn xe di tản từ Đà lạt về Phan rang. Ở Phan rang, nơi tập trung đông đảo của những người chạy giặc từ Nha trang vào, và từ Đà lạt xuống, nên náo nhiệt vô kể. Nhưng dầu sao, nhờ vị trí ven biển, nhờ có làng Tri Thủy là quê hương của tổng thống đương thời Nguyễn Văn Thiệu, nên không ai ngờ rằng Phan Rang sẽ bị bỏ ngõ. Ở Phan rang vài hôm, mình đi vô Phan thiết. Đi bằng phương tiện gì, đi với ai, bây giờ không còn ý niệm gì. Phan thiết lúc này vẫn bình thường.. Trong thời gian ở Vinh Thủy, thì gặp Thạch từ bên Vinh phú về. Thạch theo bạn bè từ Nha trang về thẳng Bình Tuy, rồi sau đó trở ra Phan thiết, tá túc nơi nhà chú Điều (chú Điều ở Vinh Phú là người cùng quê Song Ngọc với gia đình mình và có họ hàng xa xa theo mối liên hệ như sau: ông nội của cha là anh ruột của bà nội chú Điều). 2 anh em gặp nhau. Nhưng hình như mỗi đứa ở mỗi nơi. Thạch ở trong nhà xứ Vinh thủy với cha Hiên còn mình ở ngoài nhà xứ Thuận nghĩa với cha Cung. Có o Lài ở trong nhà xứ. Trong thời gian ở Vinh Thủy vẫn đi lại chơi với nhà ông bà Chức, nhà ông Chinh, và nhà ông Yên. Ngôi nhà của mình ở Vinh Thủy bỏ trống từ khi cả nhà di chuyển lên Ban mê thuột vào năm 1973, đến lúc đó vẫn chưa bán được.
(Thạch: Trong thời gian loạn lạc, thương cảnh lạc lõng của 2 anh em nên có nhiều gia đình cũng ngỏ ý muốn bao che: gia đình ông Yên, ông Chinh, chị Chức. Đường Phan-thiết đi Bình-tuy không còn thông nữa. Lần lượt, nhiều gia đình bỏ Phan-thiết lên ghe đi Vũng-tàu, gia đình chị Chức là một trong những gia đình còn nấn ná ở lại nhưng cuối cùng cũng khăn gói ra bến ghe Phú-hài nằm chờ cơ hội kiếm ra chỗ trên ghe, 2 anh em cũng cùng chờ với gia đình chị Chức.
Số người chờ đợi thì đông trong khi ghe cộ thì không có mấy, còn phải tranh dành nên nằm đã mấy ngày mà vẫn chưa đi được. Vào thời điểm này có tin Nha-trang bỏ ngỏ, nhà tù bị phá cửa, dòng người di tản, trộn lẫn với các đơn vị quân đội tan hàng từ miền Trung đổ vào, qua Phan-rang vào đến Phan-thiết. Phan thiết là trạm chờ cuối cùng vì không thể đi xa hơn được nữa. mới tạm lắng dịu nhưng số người chờ đợi một cơ hội để bắt ghe vào Vũng-tàu tăng lên gấp bội, hỗn loạn cũng gia tăng vì tàn quân không có ai kiểm soát.
Có một buổi tối, ngồi trên nhà sàn trên sông, 2 anh em nói chuyện với một người mới tới trong dòng người chạy loạn từ Nha-trang, anh ta ngao ngán tường thuật những diễn tiến đã trải qua trên chặng đường và kết thúc bằng một câu “tôi chỉ còn có một thứ, mà thôi, bây giờ cũng chẳng cần giữ nó làm gì nữa”, sau đó anh ta thọc tay vào người lôi ra một vật gì,  ném cái “tủm” xuống sông và từ giã. Anh đoán đó là khẩu súng nên đợi anh ta đi khỏi hồi lâu, anh cởi đồ mò xuống chỗ anh ta vừa ném và tìm được khẩu súng Colt ngắn. Trong những ngày chờ đợi thì cũng có lúc đi tới đi lui về Vinh-thủy, có lúc 2 anh em cùng đi với con chó lửa đó trong người. Về sau khi Phan thiết đã có sự hiện diện của quân đội giải phóng  thì anh đã ném khẩu súng xuống giếng đàng sau nhà chú Bích để phi tang.
Cuối cùng, thấy tìm chỗ khó khăn lại không muốn phiền lụy gia đình chị Chức, 2 anh em quyết định ở lại, anh ở với thầy Cung nơi nhà cha già Khiêm, Thạch ở trong nhà xứ cha Hiên với Nguyễn Vĩnh Long, bạn cùng thời lớp nhì (lớp 4), cùng nhảy lớp để lên đệ thất, sau đi tu muộn ở Lâm Bích (Nha-trang))

 
Nhưng ít hôm sau thì làn sóng người tị nạn tràn về nhiều hơn nữa. Thạch và mình vẫn ở lại Phan thiết vì không biết đi đâu. Trong thời gian này, giữa tháng tư 1975, kỷ niệm đáng nhớ là lên phi trường đón Đức Giám Mục Huỳnh văn Nghi từ Sài gòn về nhậm chức Giám mục địa phận Phan thiết, là địa phận mới lập do được tách rời khỏi địa phận Nha trang, bao gồm 2 tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy.
 
Vào ngày 19 tháng 4, 1975 thì vc tràn vô tới Phan thiết. Người ta hoang mang, chạy náo loạn, vì không biết đi đâu, và làm gì. Chính quyền cũ không còn, mà chính quyền mới không biết là ai. Bỗng dưng thấy lo sợ, và mình chạy ra ngoài Vinh Phú, gặp mấy cô con chú È, hỏi thăm thuyền để đi vô Sài gòn. Ra Vinh Phú không gặp được nhiều người mà tình cờ gặp được một chị, mình hỏi thăm và tự giới thiêu tôi là thầy Sơn bên Vinh thủy, muốn tìm ghe thuyền vô Vũng tàu, nhờ chị chỉ dẫn. Ngay chiều hôm sau chị ấy chạy xe ra tìm mình ngoài Vinh thủy và nói là có thuyền đi, nếu muốn đi thì chuẩn bi liền. Được tin, chạy đi tìm Thạch, rồi 2 anh em nhờ người chở sang Vinh Phú, đến nhà chị ta. Chị ấy còn dọn cơm mời ăn nữa, nhưng lòng dạ đâu mà ăn, mình chỉ ăn vài ba miếng. Bây giờ nghĩ lại vẫn thấy cảm kích trước lòng tốt của chị ta, một người mình không quen biết gì trước, mà đã có lòng quan tâm và bỏ công đi tìm tòi và thông báo cho mình về chuyến đi.
 
Ngay chiều hôm đó, Thạch và mình xuống thuyền đi Vũng Tàu. Tới nơi, lên bờ, đón xe về Sài gòn. Sài gòn vẫn còn là vùng tự do, vì lúc ấy, những ngày cuối tháng 4, năm 1975, Sài gòn đang hỗn loạn vì những tin đồn ngược xuôi về chuyện đánh hay đầu hàng. Tới Sài gòn, ghé về nhà bác Châu bên Võ di Nguy – Phú Nhuận (hay là nhà chị Nguyệt anh Đăng, ở Nguyễn Cư Trinh – Phát Diệm). Sau đó đi Thủ đức tìm Phong. Và ít hôm sau, cả 3 anh em cùng đi xuống Cần Thơ thăm chị Tuyết. Có cả Trần Liên là bạn học của mình ở GHHV Đalat.
 
(Thạch: Tới Vũng Tàu, Sơn+Thạch đón xe đò về SG, xuống xe ở Thủ-đức để tìm Phong tại dòng Phan-xi-cô, gặp Phong còn lại một mình ở đó nên 3 anh em cùng đi tiếp vào SG. Trước khi đón xe có ghé vào quán nước uống côca, Thạch có nghe ai đó chỉ là bỏ chút muối vào coca thì uống vào sẽ không bị ợ, Phong cũng đồng tình vì hình như cũng có nghe nói vậy nên 2 anh em xin chút muối để bỏ vào nước: đúng là không bị ợ hơi nhưng chỉ tổ mất một buổi tối khó chịu vì cái bụng ách hơi lúc ở nhà o Lân (không phải nhà bác Châu).
Anh Sơn có 1 trụ sở của dòng Tên để liên lạc, nằm trên đường Yên-đổ (?), rất gần nhà o Lân nên anh Sơn có dẫn Thạch và Phong đi bộ từ nhà o Lân ghé tới đó, gặp bạn anh Sơn (thầy Liên). Hình như ở đó cũng có thầy nào biết về Cần-thơ và dòng Chúa Quan Phòng nên chỉ dẫn đường đi làm anh Sơn có ý định ghé xuống chị Tuyết.
Nằm ở SG không làm gì, cũng là trọ nhà người khác, lại không biết lúc nào yên ổn nên ai cũng đồng lòng đi thăm chị Tuyết, có thêm thầy Liên đi theo. Khi tới bến xe Cần-thơ có bị cảnh sát hỏi giấy, anh Sơn đã có giấy hoãn dịch tu sĩ, Phong thì còn nhỏ, chỉ có Thạch là đúng trong hạn tổng động viên mới được ban hành nhưng nhờ sinh vào cuối năm nên còn hơn 1 tháng nữa mới tới hạn trình diện, lý do chính xác nên việc xét giấy tờ êm xuôi. Bốn người lên xe lôi trực chỉ nhà dòng Chúa Quan Phòng. Xe lôi ở Cần thơ có dạng như xe xích lô nhưng lớn hơn một chút và do xe Honda kéo đi.
Ở Cần-thơ được 1 hay 2 hôm thì anh Sơn và thầy Liên đi Phú-quốc, Thạch và Phong ở lại nhà dòng vì đường xe về SG đã bị tắc. Từ đây mất liên lạc với anh Sơn cho tới lúc gặp lại ở Ban-mê-thuột)

(Phong: Tình hình ở Cần Thơ yên ắng, nhất là trong tu viện. Mấy anh em được nhà dòng ưu ái, cho ăn uống tử tế, suốt ngày đi rong chơi trong khuôn viên nhà dòng. Sau khi anh Sơn đi Phú Quốc được vài ngày, một buổi sáng khi đến nhà nguyện dự lễ mới hay tin VC đã vào đến SG. Không hiểu lúc đó sợ gì mà các xơ dặn dò đừng gọi bằng “xơ” nữa mà gọi bằng “chị”. Ngày hôm đó,  đài phát thanh phát lời kêu gọi binh lính đầu hàng của TT Dương Văn Minh. Qua 2,3 ngày sau, Thạch và Phong mới trở về Sài Gòn. Như vậy thời gian ở Cần Thơ khoảng 7-10 ngày).
 
Ghé dòng Chúa Quan Phòng Cần Thơ, cả dòng vui mừng vì được gặp các em của Sr Tuyết. Ăn uống vui vẻ. Ít hôm sau, Thạch và Phong quay trở lại SG, còn anh với thầy Liên tiếp tục đi ra Phú Quốc. Đây là lần thứ hai mình ra Phú Quốc chơi thăm Trông. Khi đang ở Phú quốc thì được nghe tin đầu hàng của chính phủ Dương văn Minh.

(Chị Tuyết: Chị đi tu từ ngày 15/06/1964 lúc mới có 12 tuổi. Đến năm 1975 là được 11 năm nhưng lúc bấy giờ chưa được lên chức “xơ” đâu. Chị hãy còn trong giai đoạn gọi là “Nhà Tập”, kéo dài 2 năm, là giai đoạn học đặc biệt về đời tu và thử tập sống đời tu xem có thích hợp với mình không. Khi biến cố xảy đến là chị mới xong một năm thứ nhất thôi. Sau khi ba anh em rời nhà dòng, biến cố xảy đến, thì các chị nhà Tập cùng lớp với chị cũng được nhà Dòng cho về nhà hết. Chỉ còn chị với chị Trầm, người ở ngoài Đức Mạnh là nhà xa và ở trong vùng nguy hiểm nên còn nán ở lại một thời gian nữa với bà thầy nhà Tập là xơ Joseph-Marie mà hiện nay là bề trên Tổng quyền của Hội Dòng mà anh Sơn và Thạch có dịp gặp ở Paris.
Chuyến trở về nhà chắc chắn là khó khăn lắm nhưng chị không còn nhớ ra sao nữa. Chỉ thấy thiên hạ đi lại tấp nập, đồ đạc lỉnh kỉnh. Nhất là hai bên đường thì đầy dẫy những xác xe đủ loại.

**** Ghi chú: Thời gian chị ở nhà là mẹ sinh em Vũ. Lúc đó cha đã đi học tập, viết thư nhắn mẹ, khi sinh mà gặp khó khăn thì bổ đôi trái đu đủ sống úp vào bàn chân gì đó … Số mẹ cực, có mang vẫn cứ làm việc cho đến ngày sinh. Hình như tối hôm trước khi sinh, mẹ luộc khoai ăn ban đêm. Sáng sớm mẹ dọn đồ để đi nhà thương. Thạch lấy xe tính chở mẹ đi, nhưng đạp máy hoài không nổ. Mẹ đành phải đi bộ lên nhà thương, chị không biết cách nhà mình bao xa. Khi người nhà lên đến nhà thương thì em Vũ đã mở mắt chào đời rồi !****

Chị còn ở nhà một thời gian nữa, đến khoảng tháng 7 thì cùng với chị Trầm trở lại nhà Dòng. Vào đến Sài Gòn thì nghe nói các chị cùng lớp đã khấn (tức là làm xơ) hết rồi. Cả hai không tin, vì đúng ra là phải một năm nữa mới được khấn. Xuống Cần Thơ thì quả là không còn nghi ngờ gì nữa. Các chị đã khấn và được gửi ra các xứ đạo hết rồi ! Sợ cs đến không cho tu nữa nên Bề trên đã quyết định cho “khấn non” trước một năm. Chị và chị Trầm may mắn có khoảng một tuần để chuẩn bị tâm hồn và khấn vào ngày 12/07/1975. Sau đó cả hai được gửi đi nơi khỉ ho cò gáy có tên là Cái Rắn thuộc tỉnh Cà Mau, nơi mà sau này khi đi học Cần thơ Trinh có xuống ở mấy ngày.)



Trong thời gian ở Phú Quốc, dân chúng làm nghề chài lưới dùng ghe đi ra khơi để lên tàu lớn. Lúc đó không ai biết đi như thế để làm gì, và sẽ đi tới đâu. Không ai tưởng tượng được là sẽ đi lập nghiệp ở một nơi nào khác. Mình không đi theo vì không biết gia đình ra sao. Ở lại thì dẫu xáo trộn, nhưng vẫn chắc hơn là ra đi. Gia đình Trông đi hết, giao chìa khóa nhà lại cho mình. Đến sáng thì thấy cả nhà Trông quay về, trừ bà mẹ. Tức là trong lúc chờ đợi lên tàu lớn, có người lên được, người chưa. Mẹ Trông ra đi viễn xứ một mình, trong khi các con kẹt ở lại.
 
Ít hôm sau, mình rời Phú quốc trở lại đất liền, về Sài gòn, rồi lần mò về BMT. Gặp Phong và Thạch ở nhà sẵn. Đó là vào tháng 5, 1975. Cha đã đi học tập.

Mẹ đánh đòn

Có một lần bé nhớ mẹ đánh đòn mấy anh em từ anh Nguyên trở xuống, lúc đó cũng ở BMT. Mẹ vừa đi chợ về, ở nhà mấy anh em phá phách chuyện gì thì bé không nhớ rõ, nhưng chỉ nhớ mẹ tức giận bắt mấy anh em vô nằm sấp xếp hàng trên giường để mẹ đi lấy roi. Anh Nguyên lớn hơn nên chọn chỗ ngay thành giường còn chị Thủy và bé nằm phía ngoài kế tiếp, không nhớ lúc đó có Giang không, chắc là không vì Giang còn nhỏ. Khi mẹ trở vào cầm một cái roi dài và đánh một lần mấy anh em chung, không nhớ mẹ đánh bao nhiêu roi, nhưng điều ấn tượng nhất lần đó là cách đánh đòn tập thể của mẹ và vị trí anh Nguyên chọn nằm - nằm ngay cạnh giường ngoài nên khi mẹ đánh roi không thể trúng vào mông anh Nguyên được.
(Giang: Lần đó em vô can! 3 người nằm trên giường, ở nhà mái tranh. Thật tội nghiệp mẹ vì không đủ thời gian giảng dạy cho từng đứa con. Cũng có lần mẹ xử oan khi chị Quang và chị Thủy gây gổ lúc dọn cơm buổi sáng, chị Quang cứ theo mẹ để “đòi công lý”, mẹ trả lời: “Làm như từ trước tới giờ chưa có như rứa hả?!”)

Ấn tượng Ban Mê Thuột

Trong trí nhớ về căn nhà đầu tiên của đời mình, là nhà ở BMT, chỉ lưu lại vài chi tiết: đó là những buổi sáng đi theo một vài anh chị, có lẽ là anh Nguyên và chị Thủy ra khỏi nhà tới gần bờ suối, em vẫn còn nhớ cảm giác lẻ loi khi anh chị chạy ra xa để em đứng một mình nhìn những ngọn cỏ đọng sương hai bên bờ. Còn khi ở trong nhà nhìn ra trước sân thấy đường đi rất xa và cao, vẫn còn hình ảnh những chiếc xe chạy vào khu gia binh.   

(Thạch : Giang thấy cao và xa là phải rồi, dưới mắt một trẻ em mới mấy tuổi thì những gì ngoài mấy chục thước chung quang mình rất là mênh mông. Căn nhà mình ở Bmt nằm trên một mảnh đất dốc thoai thoải, cách đường khoảng 20m về phía dốc đi xuống, phía bên kia đường là khu tập bắn. Diện tích của mảnh đất đó là xấp xỉ 2 mẫu, một nửa trồng cà-phê, nửa kia trồng sầu riêng và chôm chôm. Từ nhà đi xuôi xuống dốc khoảng 100m, hết phần đất của mình thì giáp một con suối )

Ngày cha đi tù về em đã có cảm giác mắc cở vì không biết cách thể hiện tình cảm, thực sự đó là cảm giác lạ lùng, bối rối chứ không hẳn là vui mừng vì trước đó đâu có biết mong chờ cha về đâu. Cảm xúc của cái ngày dọn nhà về Đak mil cũng vậy, mình chỉ muốn ở lại, còn lý do vì sao muốn ở lại thì nó rất là mông lung.

Ấn tượng đầu tiên

Hồi nhỏ không biết lúc đó bé mấy tuổi, hình như nhà mình đang ở BMT. Có lần bé bị bệnh gì mà cha bồng đi chích thuốc, nhìn thấy bác si cầm kim chích đau ơi là đau, cảm giác đau đó bé vẫn còn nhớ đến bây giờ. Sau đó có lần bé lại bị bệnh nữa, cảm giác đau lại hiện về nên buổi sáng ngủ dậy không dám dậy, sợ mình dậy sẽ bị cha bồng đi chích như lần trước nên đành giả bộ trùm mền nằm im hoài, lúc đó rõ ràng mình thấy cha cứ lâu lâu lại lên thăm coi mình đã dậy chưa, nhưng cứ mỗi khi thấy cha lên mình lại giả bộ nằm im như đang ngủ, nhưng thật ra mình đã dậy từ lâu và bé giả bộ nằm như vậy cảm thấy mỏi nhừ cả người, vậy mà cũng nằm đến gần trưa rồi sau đó có phải đi chích hay không chẳng còn nhớ nữa, chắc là không bị đi chích nên mới không còn gì để nhớ, đúng là mới nhỏ mà đã biết giả bộ rồi, tếu thật !