22/4/10

Đi qua vũng lầy

Nếu em nhớ không lầm thì đó là mùa hè năm 1973 , chị Tuyết về nghỉ hè vì là lần đầu tiếp xúc với đất đỏ nên chị rất khó chịu với cái kiểu dẻo dẻo dính dính dơ dơ của nó. Đêm trước ngày ra đi chị đã tính toán xem làm thế nào để lên xe với đôi chân sạch sẽ vì đoạn đường từ nhà ra đường cái có đi qua một cái cầu nhỏ mà chỗ đó rất lầy lội. Cuối cùng thì chị quyết định là sẽ xách theo một can nước khoảng 4 lít để rửa chân. Sáng sớm hôm ấy cha và em cùng đi với chị , chị bận áo dài trắng , em xách theo can nước , đi đến đoạn đường lầy đột nhiên cha quyết định cõng chị đi qua chỗ đó , thế là chị được cha cõng qua không hề dơ chân và can nước em xách theo trở thành vô tác dụng ( hôm đó em đi giày bata nên không có nhu cầu rửa chân ).Sau đó chị lên xe còn em và cha đi tới nhà thờ dâng lễ.
(Chị Tuyết : Trinh thật là tương đắc với chị khi nhắc lại câu chuyện cha cõng chị qua cầu. Chị cũng nhớ đến và có ý định kể lại câu chuyện ấy. Tuy nhiên có điều hay mà chị không nhớ là bi đông nước 4 lít xách theo để rửa chân và có em cùng đi theo vì sau đó cha con tiếp tục đi dự lễ.
Chị còn nhớ năm đó chị vừa thi xong tú tài, khoảng mùa hè năm 1973, Trinh được 10 tuổi thì phải. Lần ấy là cuối thời kỳ Đệ tử, chị trở lại nhà dòng để vào Thỉnh viện và sau đó là Tập viện. Lúc ấy chị hơi ngại , sợ nặng quá cha cõng không nổi (ít là gần 50 kí) nhưng cha lúc ấy khoảng 50 tuổi nên cũng còn đủ sức để cõng chị một đỗi như vậy.
Đó là những kỷ niệm, những khoảnh khắc sung sướng nhớ đời vì có cha có mẹ.
Đối với chị, cha mẹ, đó là hình ảnh rõ nét nhất của tình yêu thương ân cần Chúa dành cho mình. Chính Chúa nhờ cha mẹ để thương yêu săn sóc mình vậy !)

Thành phố sương mù

Đà Lạt được gọi là thành phố sương mù vì cứ sáng sớm khi mặt trời chưa ló dạng hoặc buổi chiều khi mặt trời khuất sau dãy núi là sương mù giăng mắc khắp nơi. Lúc đó, cảm giác như mình đang ở trên mây, lâng lâng khó tả. Cả thành phố như mờ mờ ảo ảo trông rất thơ mộng.

Mùa hè năm 1972 là lần đầu tiên mình lên Đà Lạt. Cha Đạt chở đi từ Phan Thiết bằng xe Daihatsu qua đường đèo Ngoạn mục. Đến Đà Lạt, mọi thứ đều xa lạ đối với mình, từ khung cảnh, chốn ăn ở, cách sinh hoạt đến con người. Thật may, vẫn còn một người thân đó là anh Sơn. Anh Sơn lúc đó đang học ở Giáo hoàng học viện. Thời gian mình lên ở tại chủng viện Chúa Chiên Lành thì anh sang ở đây luôn. Thế là mỗi chiều, sau khi ăn cơm, hai anh em thường đi dạo trong sân vườn có những cây thông cao, những bụi sim và hoa các loại hoặc tản bộ dọc trên đường Nguyễn Tri Phương, từ chủng viện cho tới cây xăng Kim Cúc rồi quay trở lại. Ở Đà Lạt mà đi bộ thì rất thú vị, vừa được ngắm cảnh thơ mộng vừa được thưởng thức cái lạnh ngấm vào da thịt. Trên đoạn đường này lúc đó rất vắng vẻ, lác đác vài căn biệt thự tọa lạc trên những khu đất rộng, có vườn hoa và cây cối um tùm.

Một buổi sáng, anh Sơn rủ mình đi bộ lên đồi thông ở gần nhà. Lúc bấy giờ, nhà cửa thưa thớt chứ không dày đặc như bây giờ. Cả ngọn đồi chỉ toàn cây thông. Lên đến đỉnh đồi có thể quan sát toàn cảnh một góc thành phố với nhà cửa nhấp nhô chen lẫn những mảnh vườn trồng hoa, trồng rau bên sườn đồi. Anh Sơn ngồi bên gốc thông học bài, chuẩn bị cho kỳ thi môn triết học. Mình lấy ‘cua’ của anh Sơn mang theo, đọc mà chẳng hiểu tí gì cả, đành lang thang nhặt trái thông khô rụng nằm rải rác trên đồi.

Cha Đạt có chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki. Một buổi sáng chúa nhật, anh Sơn mượn để chở mình đi chơi đập Đa Thiện. Ở Đà Lạt, mùa hè cũng là mùa mưa. Mưa bất kể sáng hay chiều, có khi kéo dài cả ngày. Hôm đó, trời cũng mưa nhưng không lớn lắm, anh Sơn quyết định vẫn đi vì chờ hết mưa thì không biết đến bao giờ. Quãng đường từ nhà đi qua thành phố là đường nhựa nên xe đi bình thường. Ra khỏi thành phố, bắt đầu đi vào đường đất đỏ. Trời mưa nên đường trơn trợt. ’Tài xế’ vẫn rán giữ vững tay lái để vượt qua đoạn đường này. Nhưng không được nữa rồi : chiếc xe loãng quạng, mất thăng bằng, ngã và trượt tự do trên lớp bùn đất đỏ nhão nhẹt. Rất may, cú ngã không làm ai bị thương tích gì cả chỉ có điều quần áo lấm lem đất bùn đỏ. Cả mặt đường đều trơn ướt, người mình còn đứng không vững nên phải cố lắm mới dựng được chiếc xe lên. Thế là phải quay về, bỏ dở chuyến đi chơi để thưởng ngoạn một thắng cảnh của Đà Lạt.

Đến Đà Lạt ngoài phương tiện xe đò đi qua các con đèo còn có thể đi bằng máy bay đến phi trường Liên Khương, cách Đà Lạt hơn 20km. Hè năm lớp 7, sau trận ốm kinh hoàng, từ Ban Mê Thuột mình với anh Sơn đi Đà Lạt bằng máy bay ở phi trường Phụng Dực, cách thị xã hơn 10km. Vì đi trễ nên sau khi lấy được vé hai anh em phải bắt chiếc xe honda ôm để đi vì xe buýt chở hành khách ra phi trường đã chạy mất. Có lẽ do hối thúc vì sợ trễ chuyến bay, bác tài chạy nhanh và không tránh kịp một ổ gà đang chứa đầy nước do trời mới mưa xong. Nước bắn tung tóe, vào bu gi làm xe tắt máy. Hai anh em sốt ruột chờ bác tài lui cui lau chùi bu-gi. Một lúc sau xe nổ máy lại, tiếp tục lên đường. Cũng may, hôm đó máy bay đến trễ nên hai anh em không bị lỡ chuyến bay. Máy bay hôm ấy mình đi là loại 2 chong chóng. Vào thời điểm này hàng không dân dụng miền Nam hình như chỉ có 1,2 chiếc máy bay phản lực, còn lại là loại động cơ 2 chong chóng (DC3) và 4 chong chóng (DC4). Khi đến gần Đà Lạt, thời tiết xấu, máy bay xóc dữ dội. Nhiều lúc nó rơi tự do một quãng lâu làm mình có cảm tưởng như nó muốn rớt luôn xuống đất. Có tiếng trẻ con la khóc. Bên cạnh mình lúc đó là một cô bé mặt mày cũng xanh lét. Cô bé này cũng bằng mình, chỉ mua nửa vé nên phải ngồi chung ghế với mình. Thật ra mua nửa vé chẳng qua là để giảm giá cho trẻ em, chứ không phải mua nửa vé là ngồi nửa ghế. Nhưng hôm đó, máy bay chật cứng hành khách nên không còn cách nào khác là ai mua nửa vé thì phải ngồi chung với nhau một ghế.

Sau ngày giải phóng, năm 1976, lúc đang ở Phan Rang, mình được cha Đạt sai mang một bức thư lên Đà Lạt. Lên xe ở Phan Rang lúc 2, 3 giờ chiều, xe tới Đà Lạt khoảng 5 giờ. Xuống bến xe, mình lạnh muốn chết cóng luôn.Đang là mùa lạnh mà mình chỉ mặc một bộ đồ mỏng manh với chiếc áo sơ mi cụt tay. Khi ở Phan Rang mình không ngờ rằng Đà Lạt lạnh đến vậy nên không chuẩn bị quần áo ấm. Co ro một lúc, mình bắt xe ôm đi đến Giáo hoàng học viện. Anh Sơn đang ở đó. Thấy mình phong phanh có cái áo cụt tay, anh mới lấy cái áo ấm của anh cho mình mặc. Sau đó, hai anh em thả bộ xuống phố, mua bánh chuối chiên bán bên lề đường tại khu Hòa Bình. Trời lạnh mà ăn bánh chuối chiên nóng thật thú vị. Tối hôm ấy mình ngủ lại tại Giáo hoàng học viện đến sáng hôm sau thì về lại Phan Rang. (Sơn : Anh với Phong không gần nhau, vì giữa 2 anh em có anh Thạch và chị Vân chen vô giữa, nhưng nhờ có cha Đạt đã nhận Phong là con nuôi, mà cha Đạt là giám đốc Chủng Viện Chúa Chiên Lành rất thân với anh nên 2 anh em có cơ hội gần gũi nhau thật nhiều, thành ra giữa anh với Phong có rất nhiều kỷ niệm thân thiết, thân thiết không thua gì giữa anh với anh Thạch, hay giữa Nguyên và Giang. Những ngày Phong vừa xa nhà lên sống tại Đà lạt, rồi sau này trong thời gian trôi nổi, anh ghé qua Tháp chàm là nơi Phong ở và đi học PTTH cấp II, cấp III, 2 anh em gần gũi với nhau thường xuyên, chia sẻ tâm sự, ăn chung miếng kem miếng bánh hay ly chè cũng như kể lể với nhau bao nỗi âu lo thấp thỏm khác. Những chi tiết thân yêu nhỏ nhặt đó trở thành kỷ niệm dấu yêu theo anh suốt đời. Ý nghĩa nhất, đó là Tết năm 1980, khi anh đang thất tình và chán nản tột độ thì có Phong ở bên anh. Mồng 4 Tết, Phong với anh khăn gói lên đường, buổi trưa cuốc bộ ra ngã ba quận Dakmil đón xe, không có xe nên mình ghé nhà cậu Phan ngủ lại chờ xe sáng hôm sau. Âu cũng là cái số ! Nếu lần đó không có Phong cùng đi, thì chắc anh đã quay về Đức Mạnh tìm người ta, và … cuộc đời đã xoay theo hướng khác!)

Sau này mình còn lên Đà Lạt nhiều lần nhưng không còn cảm nhận được vẻ thơ mộng của thành phố sương mù như xưa nữa. Có lẽ do đã qua cái tuổi mộng mơ hay do Đà Lạt bây giờ dân cư đông đúc quá. Nhà cửa, công trình xây dựng lấn hết rừng cây, chiếm mất không gian tự nhiên cần thiết để tạo nên vẻ hoang dã, nét lãng mạn của thành phố cao nguyên này. Đà Lạt bây giờ không còn lạnh và nhiều sương mù như xưa nữa.
(Sơn : Phong chỉ ở Đà lạt tổng cọng có vài tháng, mà bây giờ còn quyến luyến vương vấn với hình ảnh thơ mộng lãng mạn xưa, huống chi là anh đã ở đó tới 7 năm. Đà lạt thời anh em mình còn ở đó thưa người, và thiên nhiên cảnh trí còn trinh nguyên. Từ nhà đi bộ ra bất cứ về phía nào dăm mười phút là có ngay rừng núi cỏ cây. Khu đường Nguyễn Tri Phương có rất nhiều biệt thự để hoang, nên 2 anh em hay lên đồi đi dạo chơi, nhìn xuống thung lũng xanh ngát, tai nghe gió thông reo vui. Hồn nhiên lắm! Tinh khiết lắm ! Nhưng dẫu xinh đẹp lãng mạn đến đâu thì mình cũng không thể tìm lại được Phong à, như trong tất cả mọi điều khác trên đời vì  « Không ai có thể tắm hai lần trên một giòng sông » như triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus đã viết mấy ngàn năm trước).
(Giang : Em đã có dịp lên Đà Lạt cách đây mấy năm và phải công nhận thành phố này rất đẹp, ấn tượng nhất với em  là những con đường thành phố, nó uốn quanh các ngọn đồi rất tự nhiên, hết xuống dốc rồi lại lên dốc,  mình đang đi trên đường này thì có thể nhìn thấy những con đường khác. Ở giữa thành phố lại có hồ nước, tạo cảm giác thoáng mát dễ chịu. Một thành phố thật dễ thương).

Bệnh thương hàn của Phong

Đi học ở Nha-trang, mỗi lần về nhà tôi đều kiếm mua cho mấy đứa em ở nhà một ít kẹo. Dạo đó kiếm được một loại kẹo mà mấy đứa em đều thích nên trước khi lên xe về nhà tôi đã mua mấy gói để làm quà cho em út. Đó là mùa hè năm 1974.
Đầu tháng năm là lúc vào mùa mưa, đồng nghĩa với công tác cật lực chuẩn bị cho vụ mùa trong năm. Tôi về tới nơi, thấy nhà cửa khá vắng vẻ, chỉ có Phong đang nằm ủ rũ trên gác. Phong về nhà trước tôi nhưng đang bị bệnh, nóng sốt nhưng chưa biết bệnh gì, được cho uống thuốc và nằm chèo queo ở nhà; có lẽ cha mẹ nghĩ chỉ là một cơn cảm cúm xoàng, uống thuốc, nghỉ ngơi rồi đâu lại vào đấy.
Ngày hôm sau, vào khoảng gần trưa, có cậu Phan ghé thăm, nhìn thấy Phong dật dờ nóng sốt, cậu bảo mẹ phải đưa đi nhà thương chứ không thể để vậy được và cậu kêu tôi cùng đưa Phong đi nhà thương trên chiếc xe Honda của cậu.
Tới nhà thương, làm giấy tờ và được người ta chỉ vào nằm trong một phòng có khoảng 20 cái giường, bệnh nhân khá đầy nên chỉ còn 1 hay 2 giường trống. Không còn nhớ có được y tá lấy nhiệt độ hay cho uống thuốc gì hay không nhưng từ trưa đến tối không thấy tăm hơi bác sĩ đâu cả. Từ nhỏ tôi đã biết Phong rất nhạy với nhiệt độ vì mỗi lần Phong bị sốt hơi cao (trên 39 độ) là thế nào cũng có màn mê sảng, tự nhiên ngồi dậy làm gì đó hay bật dậy đi một vòng mà hỏi han thì không hay biết gì cả. Phong lúc này khi tỉnh, khi mê, thỉnh thoảng mở mắt nói vài câu vô nghĩa như đang nói chuyện với bạn bè ở đâu đâu. Tôi chẳng biết làm gì hơn, lâu lâu tới gõ cửa phòng y tá trực để được trả lời là chờ tới giờ bác sĩ sẽ khám.
Khu bệnh viện lớn nhỏ ra sao thì tôi không rõ, chỉ biết được những gì trong tầm nhìn từ phòng bệnh trong mấy ngày ở đó. Phòng bệnh miễn phí (mà người ta còn gọi là nhà thương thí) dường như nằm ở một góc cuối cùng của bệnh viện, khu vực có dạng như chữ L, nét đứng là dãy nhà hộ sinh, nét nằm là căn phòng 20 giường đó dính với một căn phòng nhỏ của y tá, có một khoảng trống và tiếp đó là một dãy nhà khác, không dài lắm, rồi sau đó là hàng rào bệnh viện; nhà vệ sinh có 2 buồng nằm riêng ở ngoài, ngay đầu dãy nhà,  nên mọi người phải ra khỏi phòng mới đi được tới nhà vệ sinh. Từ phòng bệnh nhìn ra, phía bên phải chỉ là khoảng đất trống rồi tới hàng rào phía xa xa, nhìn qua phía trái là dãy nhà hộ sinh.
Khoảng 7, 8 giờ tối (không còn nhớ rõ là ngày hôm đó hay qua ngày hôm sau) thì có cậu Trực vào thăm, khi biết được là chưa có bác sĩ ghé thăm từ lúc nhập viện, cậu hùng hổ tới đập cửa phòng y tá : không có ai trả lời, cậu đi ra ngoài loanh quanh, la lớn kiếm nhân viên trực. Cơn giận của cậu đã có hiệu quả ngay lập tức, khoảng 10 phút sau thì thấy y tá mang nước biển tới để chuyền cho Phong. Buổi tối hôm đó Phong vẫn sốt dật dờ, thỉnh thoảng nói nhảm và có một lúc đòi leo lên cái cọc mùng như người bị mộng du vậy.
Sáng hôm sau, Phong có vẻ khá hơn nhưng tại sao thấy cánh tay nối với chai nước biển sưng tấy lên, tôi đi kiếm y tá nhờ kiểm tra, họ bảo kim bị trệch ra ngoài ven vì cọ quậy nhiều quá nên phải đâm lại chỗ khác, y tá bắt đầu lần mò tìm chỗ đâm kim trên cách tay khác. Thuở nhỏ Phong có làn da trắng trẻo, mịn màng như con gái, thêm vào mấy ngày suy yếu nên mạch lặn đi đâu hết cả, y tá phải đâm mấy chỗ mới tìm ra được nhưng nửa tiếng sau thì chỗ mới lại có dấu hiệu sưng lên. Nhận thấy địa điểm thông thường nơi khuỷu tay không bảo đảm lắm, vì Phong không tỉnh táo để nằm yên, nên y tá phải thử qua chỗ khác, lại loanh hoay đâm tới đâm lui mấy chỗ quanh cổ tay và rốt cuộc thì thành công trên lưng bàn tay; cô y tá cũng không quên dán thêm mấy hàng băng keo và còn cho thêm một tấm ván nhỏ để quấn cả cánh tay vào đó cho cái kim được nằm yên vị trí. Ngày hôm đó có bác sĩ tới khám, chỉ thị cho y tá bơm thêm thuốc vào chai nước biển và dặn tôi phải canh chừng để cho nước biển xuống từ từ, đừng để xuống nhiều quá vì sẽ bị lạnh. Cơn bệnh của Phong bắt đầu thuyên giảm, riêng cánh tay bị sưng vì đọng nước biển thì cũng từ từ trở lại bình thường nhưng có nhiều chỗ tím tái và phải mất nhiều ngày sau mới mất hẳn dấu vết. (Sơn : Lúc Phong bị bệnh thì anh dù đã nghỉ hè nhưng chưa về nhà mà đang ở trong xứ Thuận Nghĩa, nơi cha Báu. Khi về đến nhà thì thấy Phong đã ở nhà mà người xanh xao và ốm tong teo, thật tội nghiệp. Hình như lúc này Phong còn yếu lắm, ăn uống chưa bình thường và đi đứng cũng chưa vững. Sau đó vài tuần thì anh đưa Phong lên Đà lạt với cha Đạt, 2 anh em đi bằng máy bay. Khí hậu mát mẻ và sự chăm sóc của các chị nấu bếp nơi cha Đạt đã là điều kiện rất thuận tiện để Phong dưỡng bệnh và bình phục mau chóng).
Tôi quên hẳn lúc đó ăn uống ra sao, Phong nằm viện bao lâu và về nhà và về bằng cách nào. Nhưng có một khung cảnh vẫn còn in rất rõ trong trí nhớ của tôi cho tới bây giờ : suốt ngày ngồi bên giường nhìn ra ngoài, sinh hoạt đập vào mắt tôi là các cô y tá đi đi lại lại trên hành lang của dãy nhà hộ sinh. Thoạt đầu, tôi cũng thấy hơi lạ vì các cô đi những bước như đang đi diễn hành, lúc nào tay cũng kẹp một cái gì ngang hông; nhìn nhiều lần vì cô nào cũng có một tư thế giống nhau, tôi mới thấy không phải họ kẹp cái gì nhưng chỉ là giữ cho cùi chỏ sát người trong khi cánh tay đưa ra phía trước để đỡ cái gì. Cuối cùng thì tôi biết các cô y tá đỡ những đứa trẻ sơ sanh trong tay để chuyển từ nơi này qua nơi khác, nhờ đó tôi học được một tư thế ẵm con rất an toàn, rất chuyên nghiệp mà mãi đến hơn 20 năm sau mới có dịp mang ra thử nghiệm.
(Phong : Mỗi khi xem số tử vi của em đều cho biết lúc nhỏ có qua cơn thập tử nhất sanh là em liên tưởng ngay đến cơn bạo bệnh này (ngoài ra còn một lần bị xe lam cán qua người nữa). Năm đó trong chủng viện có dịch sốt thương hàn, nhiều người đêm hôm lên cơn mê sảng chạy tứ tung trong chủng viện phải mang đi cấp cứu. Nhà trường đã cho chích ngừa toàn trường rồi mới cho nghỉ hè sớm để tránh lây lan. Không hiểu sao tuy đã chích ngừa nhưng về nhà em vẫn bị bệnh này. Có lẽ thời gian nằm ở bệnh viện khoảng 1 tuần lễ. Những ngày đầu mê man không biết gì nhưng khi đã tỉnh lại thì mới thấy cô quạnh. Nằm đếm từng giọt xi-rum nhỏ xuống mà thấy thời gian trôi qua thật chậm. Khi con người rơi vào hoàn cảnh đau yếu, mới thấy thèm được sự chăm sóc, lo lắng của người thân. Anh Thạch lúc đó chỉ hơn một thiếu niên, được cha mẹ phân công theo dõi, canh chừng chứ chưa thể làm một người nuôi bệnh được. Nhưng có anh là cả một niềm an ủi rất lớn với em. Những buổi chiều khi anh đạp xe về nhà ăn cơm, em nằm trên giường mà cứ ngóng ra cửa sổ xem anh đã lên chưa. Anh có đến thì cũng chẳng làm gì cả, nhưng sao em vẫn cứ trông cho có anh bên cạnh.
Một vài hình ảnh còn đọng lại trong trí nhớ của em khi nằm ở bệnh viện là : khi mới vào phòng thấy người ta đưa ra một người nằm trên xe đẩy, mặt che khăn, chung quanh tiếng người khóc than, em tỉnh lại và biết là có người vừa chết và mình được nằm vào cái giường của người mới chết nằm. Trong phòng bệnh lúc đó có một người bị bệnh gì mà la lối quậy phá, người ta phải trói tay chân lại, cả phòng náo loạn với bệnh nhân này. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chỉ còn xương và da. Em chỉ có thể nằm  nghiêng, không thể nằm ngửa được vì mông đâu còn thịt, khi nằm ngửa bị cấn xương chậu. Vì bị bệnh thương hàn nên phải kiêng ăn trong một thời gian sau khi khỏi bệnh. Thấy ai ăn gì cũng thèm nhưng không được ăn. Có lẽ do ảnh hưởng thuốc nên buổi tối em không ngủ được. Cả nhà ngủ cả, một mình mình nằm thao thức trên giường. Có một đêm khi đang nằm thao thức như vậy, em nghe tiếng bước chân người đi ngay bên cạnh nhà mình, hướng đi từ dưới bếp, dọc bên hông nhà và ra phía trước đường cái. Tiếng bước đi của một người mang giày kèm theo là tiếng lách cách của chén bát va vào nhau, nghe như tiếng người đi mang theo một giỏ trong đựng chén bát.. Em nghe rất rõ, bởi chỉ cách có bức vách gỗ. Lúc đó em không sợ gì cả, chỉ cố lắng nghe. Tiếng động đó tiếp tục lập đi lập lại. Em rón rén đến bên giường cha, đánh thức cha dậy và nói hình như có ai vào nhà mình lấy đồ. Cha thức dậy, len lén xuống bếp để quan sát khá lâu rồi mở cả cửa ra xem. Lúc sau cha lên, nói không có gì cả và lên giường ngủ lại. Em vẫn không ngủ được và lại tiếp tục nghe tiếng động như ban nãy. Nếu trên đời này có ma, thì đây đích thị là ma vì lúc đó em rất tỉnh táo chứ không mộng mị hoặc bị ảnh hưởng tâm lý gì cả.) (Sơn: Khó mà xác định đó là ma hay chỉ là tưởng tượng. Điều chắc chắn là chỉ có Phong nghe, còn cha không nghe thấy gì cả. Nếu thực sự đó là hiện tượng ma quỷ thì sự xuất hiện của cõi âm phải có chủ đích, hoặc là để nhắn nhủ điều gì hoặc là đòi hỏi điều gì.) (Trinh : Theo em thì không phải là ma, mà do mình đang đau bệnh thì thường thấy những điều rất kỳ lạ. Em nhớ là khoảng năm 1977 em đang bị sốt rét nằm trên giường, trên vách nhà bằng ván có một lỗ hổng nhỏ bằng đầu ngón tay, đang giữa ban ngày tự nhiên em thấy như có ai cứ thổi phù phù vào cái lỗ đó tiếng thổi rất mạnh, cái mắc áo treo cái áo sơ mi của cha ở gần đó cũng bị lắc dữ dội nhưng lại không bị rơi xuống. Em kêu Nguyên hay Thủy vào xem sao thì nó không thấy gì cả và cứ cho là em đang mê sảng. Sau khi hết cơn sốt em dậy và quan sát rất kỹ nơi lỗ hổng thì chẳng có ai cao đủ để đứng thổi vào đó và cái áo vẫn được treo ngay ngắn trên mắc chẳng có dấu hiệu gì khác là cả. Lần thứ 2 là vào mùa hè năm 1997 khi chị Vân đi mổ ở bênh viện BMT, đêm ở lại bệnh viện. Lúc đó em đang bị bệnh cường giáp nên khó ngủ, đêm đó em không hề chợp mắt đến khoảng 4h30 sáng em thấy anh Thế đến đứng ở hành lang ngay bên cửa sổ, em thấy rõ anh Thế nhìn vào phòng và anh mặc cái áo thun sọc ngang màu xanh (áo thường hay mặc). Cửa sổ là cửa kính mà đèn thì sáng trưng. Em nghĩ là anh Thế không ngủ được nên dậy sớm lên thay cho em. Nhưng sao mãi không thấy anh Thế đi vào phòng, em cứ nghĩ là anh đi đâu đó. Đến gần 7h sáng anh Thế đến không mặc cái áo thun sọc ngang màu xanh nữa em mới hỏi hồi sáng sớm anh đến đây phải không, anh Thế trả lời là không, anh nói là anh mới thức dậy là tới bệnh viện liền đây và lúc đó em mới hiểu rằng do mệt nên em bị ảo giác. Anh Phong à , lúc đó anh mới đau dậy nên dẫu có đang tỉnh táo thì thần kinh mình cũng không khỏe mạnh bình thường, nên anh nghe thấy những điều đó cũng không có gì là khó hiểu cả và chắc chắn là không phải ma đâu anh ạ.)

Khóc nhè

Em nhớ hồi nhỏ em có tính khóc dai. Một buổi chiều nọ hai anh em đang chơi, anh Phong đã xô em vào tường. Em bị đập đầu vào tường thế là cứ ngồi tại chỗ và khóc mãi. Một lúc sau anh Phong nhìn đồng hồ và biết cha sắp đi làm về, anh Phong sợ cha nên vội nói với em là nín đi rồi anh sẽ cõng chạy mấy vòng sân tùy ý. Trước đây những tình huống tương tự em vẫn bắt đền bằng cách anh Phong phải cõng em chạy có khi là 1 vòng, có khi là 2 hoặc 3 vòng sân tùy mức độ của sự việc để bắt đền. Nhưng hôm nay em lại thay đổi. Em biết anh Phong có một số hình (hình Chúa và hình Đức mẹ được các cha hay các thầy cho khi đi học giáo lý), em rất thích những tấm hình này. Thế là em ra điều kiện phải cho em những tấm hình đó em mới nín. Anh Phong hỏi muốn lấy mấy tấm, em nói là muốn lấy hết (khoảng 3 hay 4 tấm). Cầm hình trong tay em vui sướng quá chừng và nín ngay.
Sau khi ngắm nghía chán chê em cất vào ngăn tủ của mình để phía dưới quần áo. Sáng mai khi vừa thức giấc, niềm vui vẫn còn đầy nên em vội đến ngăn tủ của mình để lấy hình ra xem nhưng tìm mãi cũng không thấy tấm hình nào nữa. Ai đó dậy trước đã lấy mất rồi. Anh Phong đã rút kinh nghiệm nên cất rất kỹ những tấm hình đó vì thế em không có cơ hội để lấy lại.

Miếng sầu riêng đầu đời

Thuở nhỏ ở Phan Thiết, tuy nhà không có cây trái gì lạ nhưng thỉnh thoảng mẹ vẫn mua về những trái cây là lạ để cả nhà thưởng thức. Lúc thì được miếng mít để thọc tay gỡ từng múi và tìm những xơ cái cho bằng sạch, lúc thì đu đủ mà tôi thường cất dành hột để chơi. Măng cụt, vú sữa cũng có lúc được nếm qua nhưng chỉ đủ để biết mùi. Mùa dưa thì có lúc mẹ mua nguyên cả trái dưa hấu to mà có lần Nguyên đã tuyên bố là có thể ăn hết cả trái, … duy có trái sầu riêng thì từ nhỏ chỉ được biết mùi qua những viên kẹo.

Cho tới một ngày chị Tuyết về nhà nghỉ, trong mớ hành lý có thêm một trái sầu riêng mà chị muốn cả nhà được ăn thử cho biết. Ai cũng náo nức muốn nếm mùi nhưng phải đợi để sầu riêng thật chín, vài hôm sau thì trái sầu riêng đã bốc mùi thơm nực và chị Tuyết tuyên bố có thể mở ra ăn. Trái sầu riêng được tách ra cẩn thận, những múi sầu riêng được nâng niu gỡ ra sắp đầy một dĩa, mùi thơm ngào ngạt làm ai cũng nôn nóng nếm thử. (Sơn : anh không có mặt trong biến cố « trọng đại này » vì đi vắng, có lẽ lúc đó anh đang ở ngoài Bình Chính, nơi xứ cha Báu hay trên Đà lạt, nơi cha Đạt. Nói đến trái sầu riêng, anh vẫn thích mùi của nó và thích ăn bánh kẹo sầu riêng nhưng không thích ăn trái vì quá nóng, làm người mình nôn nao khó chịu, nổi mụn và nhất là vì cái vị mềm nhũn nhão nhẹt của nó).

Mỗi người đưa tay nhúm một miếng bỏ vào miệng … và thất vọng ê chề : hình như ít có người nếm tới miếng thứ hai và chắc chị Tuyết phải nhận thầu hết phần còn lại. Mùi sầu riêng thơm thiệt nhưng lần đầu đưa múi sầu riêng mun mủn nhão vào miệng ai cũng có cái cảm giác như ăn mắm ruốc, thành ra trái sầu riêng của chị Tuyết bị ế. Tuy nhiên hột sầu riêng luộc được chiếu cố tận tình và vỏ trái sầu riêng được cha ghép lại, buộc dây, treo trong nhà bếp cho tới lúc héo để vẫn được thưởng thức nhiều ngày mùi thơm thoang thoảng của sầu riêng.

Ở vùng Đức-lập, cho tới ngày tôi ra đi, ngoài một gia đình nào đó ở thôn Bác Ái có cây sầu riêng còn trong Đức Minh thì chưa thấy cây sầu riêng nào cả. Trở về nhà mười lăm năm sau, điều đập vào mắt tôi là cây sầu riêng đầy dẫy, nhà tôi cũng có cây sầu riêng trĩu trái, không biết những em ở nhà có cái cảm giác « ăn mắm ruốc » của tôi ngày nào không?

Nhặt rác

Thời gian định cư ở Phan Thiết, nhà mình lúc đầu ở đối diện với cổng lao xá (trại giam phạm nhân), góc đường đi vào nhà thờ Vinh Thủy (nay đã bị phá bỏ thay bằng khách sạn Novotel) ; sau này dời lên một đoạn khoảng 100m cũng nằm ở mặt tiền đường nhựa (nay là đường Thủ Khoa Huân), đối diện với đường vào nghĩa địa đồng thời là sở rác (là nơi rác được tập trung để thiêu hủy). Khu vực sở rác bây giờ đã biến thành một khu dân cư sầm uất, nhà cửa san sát nhau. Cư dân ở đây chắc cũng không ngờ mình đang ở trên một bãi tha ma và bãi rác cũ.Thỉnh thoảng mình cũng có dịp ghé nhà một người quen ở khu vực này và ký ức thời niên thiếu lại trở về.

Cha lúc đó đi làm công chức nhà nước. Mẹ ở nhà nội trợ và nuôi thêm heo, chỉ nuôi heo nái chứ không nuôi heo thịt. Mẹ rất mát tay, nuôi heo đẻ lứa nào cũng mười mấy con to khỏe, nuôi một vài tháng là xuất chuồng, có tiền để trang trải cho lũ con ăn học. Mình lúc đó đang học lớp 5. Buổi sáng đi học, buổi chiều ở nhà phụ mẹ dọn chuồng heo. Phân heo được hốt bỏ vào một cái thùng sắt (loại thùng bằng sắt đựng dầu ăn khoảng 20 lít được đục bỏ mặt trên, thường gọi là thùng sắt tây) để bán cho những người chuyên đi thu mua phân heo. Tiền bán phân được bao nhiêu (khoảng 5 đồng 1 thùng, tiền thời đó) mẹ cho hết để ăn quà vặt, mua bút mực. Ngoài việc tắm heo, quét dọn chuồng heo còn một việc mình làm cũng có liên quan đến heo nữa là đi nhặt thùng giấy cạc-tông để về nấu cháo heo.

Hằng ngày, cứ khoảng 3,4 giờ chiều, chiếc xe chở rác (loại giống như xe ben chở cát bây giờ nhưng ọp ẹp lắm) lại xuất hiện với tiếng leng keng phát ra từ những va chạm giữa các đồ đạc bắng kim loại mà người lấy rác tận dụng được treo lỉnh kỉnh trên thùng xe khi xe lắc lư do lọt vào những ổ gà ngay đầu đường đất đỏ dẫn vào sở rác. Mình vớ vội cái mũ, chạy theo ngay sau xe, khi bụi đường chưa tan. Ngày ấy, người ta chưa biết tận dụng rác để tái chế nên không có ai đi thu mua ve chai cũng như không có đội quân đi lượm rác đông đảo như bây giờ. Đồ không xài nữa là bỏ thùng rác để đem đi đổ, trong đó có những thùng giấy cạc-tông là cái mà mình có thể lấy về xé nhỏ ra để đun nấu. Xe vừa đổ rác xuống là mình nhào vô để nhặt nhanh những thùng giấy, không lấy kịp nó sẽ bị cháy hết.  Khi xe đổ xuống, nhiều thùng giấy nằm ở dưới, bị các loại rác khác đè lên, phải bới lên mới có thể lấy được. Rác lúc nào cũng cháy âm ỉ ở bên dưới, khói bốc lên bay táp vào mặt, thỉnh thoảng bùng lên thành ngọn lửa rồi lại tiếp tục âm ỉ. Nhiều khi mình bị sụp chân xuống lớp tro nóng nhưng may mắn chưa lần nào bị thương tích gì cả. Giữa bãi tha ma vắng vẻ, bên những đóng rác cao như núi đang âm ỉ cháy, mình lúc đó chẳng thấy sợ hãi gì cả, chỉ biết làm xong việc, có giấy cho mẹ nấu được vài nồi cháo heo. Giấy được xếp gọn, dồn thành từng đống. Mẹ mang quang gánh ra để gánh về. Hôm nào giấy ít, mẹ tranh thủ cắt thêm một ít cỏ dền gai, bỏ thêm vào cho đầy gánh. Dền gai là loại cỏ giống như rau dền nhưng cao lớn hơn và thân thì đầy gai nhọn, mọc rất tốt ở sở rác, có thể băm nhỏ nấu cho heo ăn. (Quang : Em cũng biết loại rau dền gai này, khi ở Đakmil em hay cùng mẹ hái rau này về băm nấu cho heo ăn, rau này còn sống gai rất cứng nhưng khi nấu chín thì mềm lùi đâu mất). Hôm nào nhặt được nhiều thì mình phải phụ với mẹ mang giấy về. Thùng giấy xếp lại thì gọn và nhẹ nhưng cồng kềnh. Với tầm vóc của một đứa trẻ mới mươi tuổi đầu thì không thể vác hoặc mang xách được mà chỉ có đội lên đầu mà đi.

Trong một lần đi nhặt thùng giấy như vậy, mình được tham gia một cuộc ‘hôi của’ có một không hai. Chiều hôm đó, khi đang lang thang nhặt thùng giấy thì thấy có mấy chuyến xe tải chở đầy những bao màu trắng vào sở rác và chất thành đống to cao như cái nhà. Sau này mình mới hiểu ra là người ta đi thiêu hủy bột mì quá ‘đát’. Lúc đó chỉ có mấy nhân viên đi làm nhiệm vụ, mình và mấy đứa trẻ chăn bò đứng xem. Một lúc sau, người dân biết được bắt đầu kéo đến rất đông, đứng xung quanh đống bột mì đã được bao quanh bằng dây thép gai. Người ta canh chừng không cho ai đụng đến, sau đó tưới xăng lên và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bùng lên cũng là lúc một cảnh tượng hỗn loạn xảy ra. Mọi người có mặt nhảy vào, kéo dây kẽm gai, dập tắt lửa và lấy bột mì. Họ giành giật, xô đẩy nhau. Mình cũng nhảy vào ‘tham chiến’. Lôi được một bao ra, thả xuống, vào lôi tiếp bao khác ra thì bao bên ngoài đã bị ai đó lấy mất rồi.Với sức lực của một đứa con nít thì kéo được một bao bột mì (có lẽ nặng khoảng 30-40kg) là cả một vấn đề. Cuối cùng đành phải đứng giữ bao mình lấy được và chịu đứng nhìn thiên hạ tranh giành nhau. Lúc đó, nhà nào biết tổ chức, cho 1 người đứng canh giữ còn lại cứ vào kéo ra thì sẽ lấy được nhiều. Lúc sau, cha cũng có ra nhưng 2 cha con không gặp nhau nên kết cục mỗi người cũng chỉ lấy được một bao. Gần như số bột mì được lấy hết, chỉ có một vài bao bị cháy vỏ bao, bột đổ tung tóe ra đất không thể hốt lại được. Thật tội nghiệp cho dân mình, do nghèo khổ, thiếu thốn mà phải giành giật nhau thứ đồ bỏ đi. 
(Sơn: Kỷ niệm về lượm rác của Phong làm anh rất cảm động. Đã từ lâu, nhất là từ khi rời xa gia đình và quê hương, anh mang tâm tình biết ơn đối với các em từ Thạch, Vân, Phong trở xuống, vì anh nhận ra rằng khi anh với chị Tuyết đi rồi, bao nhiêu gánh nặng công việc ở nhà để phụ giúp cha mẹ đều đặt lên vai các em hết. Anh với chị Tuyết sinh ra và lớn lên trong thời đại sung túc, ít con cái nên không có những chật vật lo toan như về sau này. Phong kể lại chuyện đi lượm rác, anh thấy xôn xao một nỗi niềm thương cảm, nhưng anh biết còn có bao nhiêu công việc cực nhọc không tên tuổi khác mà các em phải cáng đáng hàng ngày, ngoài việc học hành ở trường: tụi em phải đan lưới thêm kiếm tiền, phải nấu cháo heo, phải đi mót lượm đủ thứ… Như thế để đỡ phần công việc cho cha mẹ đã đành, mà còn để cung cấp cho anh đi học ở xa nữa. Anh nghĩ bây giờ anh có làm cho các em được gì thì cũng chỉ để nói lên lòng biết ơn các em đã “nuôi” anh khi xưa mà thôi.)

Mẹ tập hát

Thường thì cha hay tập hát cho các con, nhưng với mẹ thì em chỉ thấy có 1 lần duy nhất và em còn nhớ tới bây giờ. Đó là một buổi chiều tối mùa hè lúc đó mình đang ở nhà cũ (nhà trước lao xá) khoảng năm 68 hay 69 gì đó em không nhớ rõ nhưng biết rằng lúc đó mẹ chưa sinh bé Quang. Hôm đó trời nóng nực nên mấy mẹ con nằm hóng mát trên chiếc giường kê gần cửa sổ, cửa sổ này nhìn ra ngoài giếng có cây dừa và tàu lá dừa cứ đu đưa xào xạc, hôm đó mẹ tập cho các con 1 bài hát, em không biết tựa đề bài hát nhưng bài hát đó như sau "Kìa nhìn vầng hồng lên với ánh sáng vàng pha hết sức mơ màng, bóng đêm tan dần trong khi kim ô lên, lòng con nhớ Chúa khoan thay và con tin chắc vì Chúa đã ban đêm ngày. Chúa đến giúp con, biết mến Chúa hơn, biết sống buổi nay đầy công phúc hơn mọi ngày". Không biết sau đó có ai còn thuộc và hát bài này không, còn em thì dường như chỉ nhớ và thuộc trong đầu thôi chứ không hát bao giờ cả vì hồi nhỏ em ít nói và cả ít hát nữa.
 
(Phong: Anh  không nhớ ai đã tập cho bọn mình bài hát này và bài hát này đã được hát lúc nào nhưng đến nay anh vẫn thuộc và hát được. Hình như phải sửa lại một số từ như sau: “...ánh sáng vàng phá hết mơ màng...và con tin chắc vì Chúa đã ban thêm ngày.....”
              Trinh thử coi lại xem)
(Trinh: em cũng không biết thế nào là đúng , chắc phải hỏi mẹ thôi )

Kỷ niệm không vui

Một ngày chúa nhật, tháng 11 năm 1968. Lúc đó các em Thạch, Vân và Phong sinh hoạt Hùng Tâm Dũng Chí trong xứ, nên chúa nhật nào cũng mặc đồng phục đi lễ. Đồng phục nam là áo sơ mi trắng, quần sóc tây xanh dương đậm và khăn quàng màu. Còn đồng phục nữ là áo sơ mi trắng với váy rộng dài ngang đầu gối màu xanh dương đậm. Lúc đó vừa đi lễ về, khoảng 9g sáng, trời nắng đẹp. Anh cũng vừa hết mấy ngày nghỉ giữa khóa và chuẩn bị lên đường trở ra Tiểu chủng viện Sao Biển. Vào thời điểm này, đường bộ giữa Phan thiết và Nha Trang không còn đi được vì bị đắp ụ. Thông thương giữa Phan thiết và Nha trang phải đi bằng thuyền, hoặc bằng máy bay. Vì cậu là lính trong nghành truyền tin, có quen với những người phụ trách sắp xếp các chuyến bay quân sự từ Phan thiết ra Cam Ranh hay ra Nha Trang, nên đôi khi anh được đi ké máy bay.
 
Trời nắng đẹp, lại có áo quần xanh đỏ của mấy đứa, nên cậu cao hứng muốn chụp hình, vì cậu đang có một cuộn phim màu trong máy. Máy chụp hình cậu để trong tủ quần áo của cha mẹ. Trước đó mấy ngày anh đã lấy vọc phá chơi trong lúc có đủ mặt các em từ anh Thạch trở xuống. Tưởng là máy không có phim, nên anh nghĩ rằng chụp chơi đâu có thiệt hại gì, lúc đó anh chưa xài máy chụp hình nhiều để biết nhìn vào số phim còn lại mà biết là máy có phim ở trong hay không. Dựa vào suy luận sai lầm đó mà anh đã ngang nhiên lấy máy ra chụp giỡn chơi với mấy em. Sau khi đã bấm mấy pô, thì anh mở phía sau ra và thấy có cuộn phim trong máy, anh biết là cuốn phim bị cháy tiêu rồi. Lúc đó mới tá hỏa tam tinh vì coi như sự việc bị đổ bể rồi, trước sau gì cũng bị phát giác, chỉ không biết lúc nào thì sẽ bị phát giác mà thôi. Lo ngay ngáy một lúc rồi cũng quên bẵng đi cho tới buổi sáng chúa nhật hôm đó.
 
Cậu lấy máy ra nhắm rồi chụp một vài tấm, chụp xong thắc mắc tại sao thấy số phim còn lại không đúng với số phim phải có, hoặc là nhiều hơn hoặc là ít hơn. Cậu hồ nghi có ai đã vọc phá máy của cậu rồi. Thế là cậu hét lên: đứa nào vọc máy của cậu. Anh Thạch nhanh nhẩu báo cáo ngay là “cháu thấy anh Sơn lấy coi …”. Cậu tát cho anh mấy cái chúi nhủi, la mắng xối xả còn mấy đứa em thì thui thủi trốn vô nhà.
 
Ngay sau đó anh không có cảm giác buồn giận, không khóc không hận gì cả. Anh cảm thấy rất thanh thản bình an. Anh biết đó là tội của mình, mình làm thì mình chịu thôi. Anh lại càng không bực tức gì vì Thạch đã khai ra, vì không khai thì trước sau gì cũng tìm ra manh mối, thủ phạm chính là anh chứ có ai khác đâu. Trước đó, anh không đồng ý với cậu về nhiều chuyện, anh rất bực mình về tính cách gia trưởng của cậu, những hung hăng hách dịch của cậu, nhưng lần đó, cậu phản ứng như thế, anh không hề có một cảm giác bất mãn hay buồn giận gì cả. Không ! Tuyệt nhiên không ! Anh biết đó là tội của anh rồi, đã có gan làm thì phải có gan chịu. Khi mình không buồn, không giận, không hận gì cả thì thấy lòng nhẹ tênh. Cảm giác thật sướng ! Chuyện qua rồi, không phải lăn tăn than khóc gì cả. Suốt ngày hôm đó lên phi trường chờ máy bay không có nên chiều anh trở về nhà lại, qua hôm sau mới đi được.
 
Vài tuần sau, cha viết thư nhắc về biến cố này và dùng hình ảnh bức tranh thủy mạc có nét tối nét sáng để làm nên vẻ đẹp để khuyên anh biết dùng những cơ hội không vui đó mà hoàn thiện đời sống.

Thương Mẹ một đời vất vả!

Mẹ kể, lúc còn ở nhà với bà ngoại, mới lên 10 tuổi là đã phải lam lũ công việc đồng áng từ sáng cho đến chiều tối. Ngày xưa không có máy móc như bây giờ nên tất cả đều dựa vào sức người. Mẹ liễu yếu đào tơ chứ  đâu có to con và mạnh mẽ như Vũ bây giờ. Vậy mà phải gánh từng gánh phân chuồng nặng trĩu để bón ruộng. Nặng nề mệt nhọc và ngao ngán nhưng vẫn cứ phải nai lưng  ra mà làm. Rồi  phải gồng gánh ra chợ buôn bán, nay thì chợ này mai thì chợ khác. Ngày xưa đâu có xe cộ như bây giờ nên chỉ có một phương tiện duy nhất là cuốc bộ, và đi như vậy với gồng gánh trên vai, trên mươi cây số là thường. (Sơn: Nếu chỉ là trên mươi cây số thì chưa ghê gớm đâu chị à ! Mẹ đã phải đi bán thuốc lào ở chợ Ba Làng thuộc tỉnh Thanh Hóa. Ra đi khỏi nhà từ 4 hay 5 giờ sáng, gánh thuốc trên vai, đi bộ suốt ngày đến chiều mới tới nơi, bán xong, vội vàng quay về, về đến nhà cũng quá nửa đêm. Như vậy là mẹ đã phải đi bộ trên 60 km đó chị. Em nghe mẹ kể là vì đi vắng lâu quá nên em ở nhà đói bụng khóc la tơi bời, vì khi đó em mới có mấy tháng).
Phải tất bật làm lụng nên mẹ có được học hành gì nhiều đâu. Chỉ biết tính toán đôi chút với các phép cộng trừ nhân chia, nhưng mẹ rất có khiếu về buôn bán. Hơi tiếc một điều là cái gen đó của mẹ dường như không chuyển tiếp nơi hàng con cái. Hình như chỉ có Quang là có vẻ mang chút “máu nghề nghiệp” của mẹ thì phải.
Rồi đến khi lập gia đình, có mang, có con mọn, mẹ vẫn cứ  đều đều sáng tối gánh gồng mủng mẹt.
Mẹ biết số mẹ cầm tinh “con gà hay bươi” nên châm ngôn của mẹ là “chịu khó vì Chúa” để “chu toàn bổn phận hằng ngày” nuôi dưỡng đàn con.
Mẹ âm thầm lầm lũi, làm chưa xong việc này đã thấy việc khác tới nơi. Mẹ lo cho chồng rồi cho con, hết đứa này đến đứa khác, hết học gần rồi học xa. Cũng may Chúa thương cho mẹ được khoẻ mạnh để quán xuyến hết mọi sự. Hay dù có mệt nhọc đau ốm chắc mẹ cũng không dám nghỉ ngơi.
Mẹ ít nói và nhất là không bao giờ kể lể hoặc than phiền trách móc hoặc đay nghiến chồng con khi có điều không vừa ý. Mẹ âm thầm chịu đựng, vui lòng chấp nhận những sự khó xảy đến hằng ngày trong gia đình bằng sức mạnh ơn Chuá, như điều mẹ hằng cầu xin mỗi sáng mai khi thức dây. Mẹ thông cảm cảm với từng đứa con, nhất là con nào hay gặp sự khó với cha. Châm ngôn của mẹ là “một sự nhịn chín sự lành” nên mẹ ăn ở hiền lành với tất cả mọi người, chịu tất cả phần khó cho mình.
Cách mẹ sống, người phụ nữ ngày nay khó có được, hay đúng hơn là khó chấp nhận, “phụ nữ vùng lên” mà ! Tuy nhiên con thầm nghĩ, hoàn cảnh gia đình mình mà không có mẹ như vậy thì chúng con sẽ khốn khổ biết bao. Nhờ mẹ hi sinh mà chúng con mới được như ngày nay. Nhờ thừa hưởng một phần nhân đức của mẹ mà đại gia đình ta luôn đầm ấm thụân hoà vui vẻ với nhau. Nhờ đó gia đình luôn mãi là tổ ấm yêu thương thật sự, là nơi mà con cái cháu chắt vui vẻ và mong đợi được tụ về.
Con gái lớn của mẹ xa nhà đi tu từ lúc 12 tuổi. Mỗi năm về nghỉ hè khoảng 1 tháng cũng rán phụ giúp mẹ đi kiếm rau, xắt chuối cho heo, dọn dẹp nhà cửa, vá may quần áo cho em, nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.
Còn nhớ nhất là lúc nhà mình đã lên BMT, làm ruộng làm rẫy giang nắng dầm mưa thì mẹ càng cực hơn nữa. Có lúc đến mùa đậu chín tới chưa kịp hái thì mưa dầm dề, không phơi được nắng nên đậu mọc mộng, đậu xấu thế là mất mùa toi công.
Trước khi trở lại nhà Dòng thì mẹ hay làm món này món khác cho ăn, lại còn chuẩn bị cho đem đi nữa, nhưng con đâu có lòng dạ nào mà ăn. Thường vài ba ngày trước khi lên đường là cảm thấy lòng quặn thắt lại. Lên xe trở lại nhà Dòng, nhớ đến cảnh mẹ gồng gánh vất vả cực khổ, cảm thấy đau xót vô cùng, nhiều khi ngồi khóc mãi sưng cả mắt.
Có một lần kia về thăm nhà, đang khệ nệ xách bộ từ chỗ xe đò bỏ khách về nhà, trên con đường đất đỏ. Lúc đó trời chập choạng tối. Bỗng nhiên thấy trước mặt bóng dáng một bà đang lầm lũi gánh gồng . . . Ôi !  thì ra là mẹ, mãi giờ này  mới  từ rẫy đang trở về. Mẹ ơi !!! Vậy là  bỏ đồ vào thúng mẹ gánh luôn cho. Ôi có mẹ sướng quá !
Rồi những buổi sáng. Mẹ thức thật sớm để gánh rau ra cho kịp bữa chợ. Để có đồng ra đồng vào mà mua sắm trong nhà.  Đói bụng, mẹ cũng không dám ăn gì nhiều, để dành tiền mua sắm cho con !
Cám ơn mẹ hằng tần tảo hôm sớm nhọc nhằn để nuôi con.
Cám ơn mẹ một đời hi sinh tất cả cho con, cho gia đình.

Mẹ bị phỏng

Sau tết Mậu Thân , nhà của hư hại chưa kịp tu sửa nên phải tạm trú bên Vinh-phú. Mới đầu ở tạm nhà bà Bút, sau đó mới dọn tới căn nhà sát căn của chú Điều.
Lúc đang ở nhà bà Bút, tội nghiệp con mèo còn nằm ở nhà không ai chăm sóc nên cha có về nhà bắt con mèo bỏ vào bao bố mang qua Vinh-phú, tới nơi vừa thả ra, bị con chó gầm gừ mấy tiếng là nó đã chạy biến mất, ít hôm sau có dịp ghé qua Vinh-thủy thì thấy con mèo đã về lại nhà.
Nói về căn nhà ở sát bên chú Điều thì hình như 2 căn do cùng một chủ xây dựng cho nên phần trước căn nhà thì riêng nhau nhưng phần nhà bếp của hai bên đều nhỏ lại, tạo ra một khoảng sân vuông chung ở giữa, dùng làm nơi giặt giũ, nấu nướng. Tại sân này, tôi đã nhiều lần ngồi nhìn mẹ làm món chả cá thửng : con cá thửng, sau khi bỏ đầu, chặt vi, lóc vảy được xẻ dọc dưới bụng rồi mở ra để lấy xương sống rồi phần thịt được băm nát, tẩm nước mắm, hành, tiêu nhưng vẫn dính da, sau đó con cá được gấp lại và đem chiên, ngon hết chỗ chê! (Sơn : món chả cá thửng là đặc sản của nhà mình, do mẹ sáng chế ra. Anh đi ăn ở ngoài nhiều nơi, tại các gia đình cũng như ở tiệm, nhưng không nhớ đã bắt gặp món chả cá thửng như của mẹ. Lúc đó ở Phan thiết có sẵn cá tươi nên các anh chị được ăn món này khá thường, còn các em từ Trinh trở xuống thì chỉ nghe nói mà thôi. Sau này anh thấy mẹ còn sáng chế ra món thịt heo kho rim rất ngon, ai cũng thích mà đặc biệt là Phong).  Một diện tích khá lớn trong nhà bếp là phần nổi của bồn chứa nước mưa, cao khoảng hơn nửa thước, có mặt xi-măng che kín nên trở thành chỗ ăn cơm hay ngủ nghỉ.
Có một buổi cơm chiều, mẹ bưng nồi canh cá từ khoảng sân vuông vào nhà, sắp sửa đặt lên bục ăn cơm thì tuột tay đổ, mẹ lãnh nguyên nồi canh lên cánh tay và cả người. Vết phỏng trong người ra sao thì chẳng ai thấy nhưng ở cánh tay thì phình lên một bọc nước, phủ dài từ dưới vai tới tận cổ tay. Mẹ mang cánh tay phỏng đi gánh nước, ai nhìn cũng thấy ớn. Phải mất một thời gian vết phỏng mới lành lại.
(Sơn : Mẹ là người có số phận lam lũ cực nhọc và nhất là phải chịu nhiều đau đớn thể xác. Có lẽ vì đã trải qua nhiều cơn đau nên mẹ rất kiên nhẫn và có một sự chịu đựng can trường. Phương châm của mẹ là “chịu khó” hay “ chịu khó mà đền tội”.
Nói về những đau đớn thể xác mẹ phải chịu thì anh nhớ trước tiên là mẹ bị áp xe ở mông  vì chích thuốc. Lúc đó mẹ còn trẻ lắm, 24 tuổi, mới từ Bắc di cư vô Nam. Không biết bác sĩ hay y tá chích thuốc làm sao mà sau khi chích, thuốc không tan nên nó tạo thành một ung nhọt khá lớn ở sâu trong thịt, vùng mông. Mẹ rất đau, và phát nóng lạnh, sau đó phải mổ.
Nhưng chưa hết, mỗi lần sinh con là mỗi lần mẹ đau vú. Không hiểu nguồn gốc của căn bệnh ra sao mà cứ mỗi lần sinh là mỗi lần cha chạy đi tìm thuốc cho mẹ, vì mẹ đau lắm. Đau nhưng không thể tự tiện điều trị bằng thuốc kháng sinh được vì mẹ nuôi con bằng sữa mẹ nên uống thuốc kháng sinh tự tiện sẽ có hại cho đứa bé. Hình như càng về sau thì càng đau nhiều hơn. Cho đến lần sinh em Thủy (anh không chắc chắn là Thủy hay Nguyên) thì phải mổ vì vết đau trong ngực mẹ trở thành một ung nhọt có mủ và rất lớn. Thương mẹ lắm ! Vì anh nghe chính mẹ kể lại là ung nhọt tự nó đã làm mẹ đau kinh khủng, rồi khi bác sĩ mổ cũng không có thuốc tê cho hữu hiệu mà cũng không gây mê toàn thân, nên mẹ tỉnh táo và cảm giác đau đớn rõ rệt, vừa đau vừa sợ, người run bần bật, toát mồ hôi dầm dề. Cha đứng bên cạnh nắm tay mẹ an ủi và nói mẹ cầu nguyện xin Chúa giúp sức. Bác sĩ vừa cầm dao rạch vừa né qua một bên vì sợ mủ từ trong ung nhọt bắn ra !! Sau khi đã mổ, mẹ phải trở lại gặp bác sĩ nhiều lần nữa để kiểm tra, thay băng, mỗi lần thay băng là mỗi lần đau không kém gì lần đầu tiên nên mẹ vẫn sợ, đến mãi lần thứ ba hay thứ tư gì đó, càng ngày càng bớt đau, mẹ mới hết sợ.
Một kỷ niệm khác về sự chịu đựng âm thầm của mẹ, đó là vào năm 1977 - 1978, anh để ý thấy mẹ bị nhiễm trùng da ở vùng nách rất nặng, giống như bị lác, vết thương lớn như bàn tay, sần sùi, thâm tím, có cả máu và mủ, vừa ngứa vừa rát, mà không thấy mẹ kêu than, không thấy mẹ đi bác sĩ, đi mua thuốc gì cả, không thấy mẹ nói gì với ai mà mẹ chỉ im lặng chịu đựng, rồi tự tìm lá cây nhai với nước miếng và đắp lên, ngày này qua ngày khác như thế, cho đến mấy tháng sau mới lành).