22/4/10

Di tản Mậu Thân

Chiến tranh không để lại dấu vết tang thương trong gia đình mình, nghĩa là trong nhà không có cha, hay anh, hay chú bác cậu bị tử nạn trên chiến trường, hay bị thương tật vì chiến tranh. Phải nói đó là một sự may mắn lớn lao, vì nhìn ra chung quanh, bạn bè, làng xóm, người quen biết xa gần, phần lớn ai cũng chịu những mất mát do bom đạn chiến tranh gây ra, không nhiều thì ít. Tuy không có dấu vết tang tóc, nhưng xáo trộn và đổ vỡ về vật chất thì không thể thiếu được. Có những xáo trộn đáng nhớ trong đời, đó là cuộc chạy giặc đầu năm 1968.

Tháng Giêng 1968, Tết Mậu Thân, mẹ vừa sinh em Thủy được ít tuần lễ. Đang ngủ say, độ chừng 2 hay 3 giờ sáng gì đó, mẹ đánh thức anh và chị Tuyết dậy, vì tiếng người đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường cái. Mẹ nói Việt cộng nó về đến nơi rồi, ai người ta cũng chạy giặc, rồi mẹ nói thôi 2 con đã lớn, thì theo người ta mà đi trốn, khỏi bị bắt bớ. Mẹ với mấy em còn nhỏ ở lại không ai làm gì đâu. Vậy là anh với chị Tuyết mắt nhắm mắt mở đi tay không ra khỏi nhà, nhập vào dòng người gồng gánh vác mang đi vô trong nhà thờ xứ Vinh Thủy. Anh quên hết các chi tiết, không nhớ lúc vô đến nơi thì gặp ai, và ở đâu. Chỉ biết là đến gần trưa thì mẹ cũng bồng Thủy và dắt thêm mấy em đi vô. Hãy tưởng tượng, mẹ vừa mới sinh xong đang ở cữ, nhi đồng Thủy đỏ hỏn còn khóc oe oe trên tay, mà lại còn phải kéo thêm một cái rờ mọc 5 em bé: Thạch -10 tuổi, Vân - 8 tuổi, Phong - 6 tuổi, Trinh - 4 tuổi và Nguyên - 3 tuổi, thật là vất vả vô cùng. Đến lúc đó thì anh nhớ là mình tá túc bên thềm nhà ông Yên, Nguyễn Thanh Yên. Bà vợ của ông Yên là chị ruột của o Lài và bà Thảo. Những người cùng tị nạn, ai thấy mẹ phải nuôi con nhỏ cũng động lòng. Thời gian này thật sướng, vì cả ngày chạy nhong ngoài đường ghé chỗ này tạt vào chỗ kia. Khu Vinh Thủy tấp nập người tị nạn. Ở được vài ngày, bỗng dưng một đêm kia, trời chập choạng tối, nghe tiếng đại bác rất gần, đạn bay ngang trên đầu kêu vèo vèo. Thì ra các tàu chiến ngoài khơi đang thi nhau nả đạn vào đất liền. Vì đã quen với tiếng đạn bom, nên không ai tỏ vẻ hốt hoảng gì đặc biệt. Nhưng bỗng nhiên nghe những tiếng nổ thật gần, và nhiều tiếng la hét. Anh chạy ra ngoài coi thì thấy lửa cháy sáng một góc phía ngoài đường cái. Quay vô nhà nói với mẹ, không hiểu linh tính thế nào mà mẹ lại bồng Thủy và dắt cả mấy đứa con ra khỏi nhà giữa đêm. Vừa ra khỏi nhà ông bà Yên được mấy bước thì một trái đạn cháy rớt ngay nhà ông ta. Lửa cháy rực, căn nhà bị thiêu rụi trong vòng dăm phút. Lúc ấy mới nghe nhiều tiếng nổ lách tách của những viện đạn loại nhỏ từ đám tro. Thì ra mấy hôm trước, trong khi chạy giặc anh Phong đã ôm cái tượng đức mẹ bằng thạch cao trắng của nhà mình, mà trong đó cha đã nhét những viên đạn súng lục … Trong lúc vội vã chạy ra khỏi nhà, mẹ quên không xách theo cái giỏ đựng bình thủy đựng nước sôi để pha sữa cho Thủy, nên sau đó vài tiếng, đến giờ ăn mà không có Thủy tru tréo la khóc quá trời.
(Chị Tuyết: Sau một ít ngày tá túc trong nhà ông Yên, vào một buổi chiều ChúaNhật, thấy có ít người ở ngoài đường cái trở về nhà nên chị với Vân thì phải, cũng quay trở về nhà để lấy thêm đồ đạc. Trên đường đi, thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng súng “cắc bụp”, chị em vừa lom khom vừa chạy. Đó là thời điểm sau Tết nên trong nhà còn lại một ít thức ăn. Chị kiểm tra lương thực thấy có dưa chua và trứng nên nấu một nồi canh. Một lát sau cơm và canh vừa chín tới, thơm ngon hấp dẫn quá chừng ! Chị em đang chuẩn bị để “đánh chén” . . . thì bỗng đâu, thật không đúng lúc chút nào, tiếng súng đạn bắt đầu vang lên và càng lúc có vẻ càng thêm dữ dội hơn. Trời thì về chiều, màn đêm gần buông xuống làm cho bầu khí thêm vắng lặng và dễ sợ. Chị sợ quá! Tiếc nồi cơm và canh ngon vừa nấu nhưng không dám liều mạng. Thế là chị em vội vàng túm đồ đạc và chuồn nhanh. Mùi thơm nồi canh dưa cải với trứng ấy vẫn còn phảng phất đến bây giờ !)
 
Vài ngày sau đó, tình hình tạm thời lắng dịu, cha về, rồi cả nhà mình đi sang Vinh Phú. Mấy ngày đầu ở tạm nơi nhà bà Bút, người cùng làng Song Ngọc, sau đó mẹ mua căn nhà nhỏ bên cạnh nhà chú Điều, để ở.
(Vân: Những điều em nhớ được thì các anh đã viết cả rồi nhưng dẫu sao thì cũng còn một chi tiết nhỏ của mình đó là mỗi lần chạy (dời chỗ) phần việc của em là cõng Trinh vì mỗi người đều được chia việc chẳng hạn như mang đồ ăn, mùng mền, đồ áo ..vv.
Sau biến cố Mậu Thân thì nhà mình di tản sang Vinh Phú một thời gian, được tạm trú nhà chú Điều. Em không nhớ rõ, hình như phải về Vinh Thủy để học xưng tội. Mỗi lần về là em lại theo đường dọc bờ biển (đường tắt) để đi. Có một lần em gặp một người (có lẽ say rượu) sợ muốn chết nhưng rồi cũng tai qua nạn khỏi. Tạ ơn Chúa!)

Tết mậu thân 1968

Tết Mậu Thân 1968 là thời điểm Việt cọng chọn để đánh chiếm Miền Nam. Gia đình mình lúc đó ở Vinh Thủy, Phan Thiết. Trước ngày chiến sự nổ ra chính thức, tình hình cũng đã có khác, chiều chiều thấy máy bay thả bom ở đâu đó xa xa. Mọi người cũng chuẩn bị cho một cuộc chạy giặc sẽ xảy ra nhưng chưa biết lúc nào. Mẹ nấu cơm, vắt thành cục tròn to bằng nắm tay, để dành sẵn để khi chạy giặc có cái để ăn. Nhà mình cũng đã làm một cái hầm ở ngoài vườn bằng cách xếp các bao cát lại với nhau để khi có xảy ra đánh nhau thì mọi người chui vào đó để tránh đạn. Hầm làm xong nhưng không sử dụng đến vì lúc xảy ra chiến sự thì cả nhà phải di tản đi nơi khác rồi.
Tối hôm đó, đang ngủ thi cả nhà bị thức giấc bởi tiếng súng nổ. Trước nhà mình, bên kia đường là trại giam nên có quân lính rất nhiều. Tiếng súng, tiếng đạn pháo bay và nổ ở gần đâu đó, bốc cháy sáng rực một góc trời. Một lúc sau, nhìn ra đường qua khe cửa, dưới ánh sáng hỏa châu, từng đoàn người gồng gánh, bồng bế nhau đi đầy ngoài đường. Mọi người đang lo chạy trốn để tránh bom đạn. Nhà mình lúc đó chỉ có mẹ với 6 đứa con thơ dại. Anh Thạch là đứa lớn nhất lúc đó cũng mới 11 tuổi, Thủy thì mới sinh ra. Hình như mẹ định không đi đâu cả, nhưng đến khi mọi người đã đi hết, đường vắng lặng, mẹ mới quyết định đi. Thế là 7 mẹ con đùm túm nhau lên đường. Không hiểu mẹ phân công như thế nào để mấy đứa trẻ con có thể mang đồ đạc, quần áo cho đủ dùng trong suốt thời gian đi tị nạn. Mẹ thì đã lo bồng Thủy và chỉ có thể mang thêm một túi xách trên vai. Có lẽ chỉ có anh Thạch và chị Vân là có khả năng mang xách. Mình được mẹ phân công ôm hai cái mền. Mền thì nhẹ nhưng cồng kềnh làm mình đi khó khăn nhưng nhờ ôm chặt nó mà mình có được cảm giác an tâm khi chung quanh biết bao nguy hiểm.
 
Cũng như bao người khác, nhà mình chạy ra hướng bờ biển. Có lẽ mọi người đều muốn tránh xa khu đô thị, nơi hai bên đánh nhau để giành quyền kiểm soát. Cuối cùng thì nhà mình được ở nhờ trong một căn nhà của người dân sát bờ biển Vinh Thủy, không phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Nhà xây gạch, lợp tôn kẽm, cũng tương đối tốt. Chủ nhà bố trí cho những người di tản ở đầy trong nhà. Nhà mình được bố trí ở một góc phòng khách. Mình không còn nhớ thời gian ở trong nhà này mấy ngày nhưng tối hôm ấy, khi mọi người đã vào chỗ của mình để ngủ thì bắt đầu có tiếng đạn pháo. Đạn được bắn từ tàu trên biển vào đất liền. Lúc đầu có vài tiếng nổ xa xa, sau đó có trái đạn rớt phía sau nhà gia đình mình đang tạm trú, vào bụi cây làm cháy sáng một góc trời. Mọi người hốt hoảng. Tiếng gọi nhau ơi ới.Gia đình mình cũng như những người ở trong nhà quyết định chạy ra bờ biển (cách đó khoảng 200m). Mẹ con túm tụm đồ đạc, hối hả chạy ra. Mình vẫn ôm mấy cái mền. Cả nhà vừa ra khỏi nhà được vài chục mét, một trái đạn pháo bay rít ngang qua đầu và rớt trúng ngay góc nhà nơi gia đình mình vừa rời khỏi. Căn nhà bốc cháy. Thật hú vía. Chỉ cần chậm mấy phút là cả nhà mình lúc đó đã lãnh trọn một quả đạn pháo. Tối hôm đó, cả nhà nằm ngoài bãi biển : đúng nghĩa cảnh màn trời chiếu đất.
(Trinh : Em nghe mẹ kể lại rằng : “Trong đêm hôm ấy, khi bồng con để chạy ra khỏi nhà, mẹ ngoái cổ nhìn lại chỗ gia đình mình nằm thì thấy còn một đứa con đang ngủ say sưa, mẹ vội quay lại nắm tay kéo dậy và chạy ra khỏi nhà , ra khỏi cửa được mấy bước thì căn nhà bốc cháy, đứa con đó là Trinh”. May mà đêm đó mẹ kiểm tra lại nếu không thì giờ này em không ngồi viết như thế này được).
             
Sau đó nhà mình qua Vinh Phú ở tạm nhà bà Bút, rồi nhà chú Điều một thời gian mới trở về lại Vinh Thủy khi chiến sự đã qua đi, nhà được sửa lại do bị hư hại vì bom đạn
 
(Thạch:
- Không nhớ được ai đi trước, ai đi sau; cũng không còn nhớ nhà mình ra đi như thế nào
- Nhớ đã rục rịch chuẩn bị cơm vắt mấy lần nhưng không phải chạy nên lại lôi cơm vắt ra ăn
- Nhớ có dùng bột đông sương (do gia đình chú Điều để lại) để thử làm trong dịp này
- Chị Tuyết có về nhà nghỉ tết và kẹt lại luôn, một thời gian sau mới trở lại nhà dòng. Trong những ngày chạy loạn vào xóm trong của Vinh-thủy, có cùng chị Tuyết dẫn Trinh lên đồi cát để thả Trinh chạy xuống
 - Đêm nhà ông Yên bị pháo kích, mọi người mới vừa ra khỏi nhà tới ngoài đường (cách khoảng 20-30m) là quả đạn đã rơi vào nhà nhưng là đạn cháy chứ không phải đạn phá nên không có tiếng nổ lớn và cũng không có mảnh đạn bay tứ tung
- Hầm trú ẩn: chỉ nhớ chắc chắn là nhà mình có bộ phản ghép bằng 3 miếng gỗ khá dày, lúc đó đặt ở nhà bếp, được đắp thêm một lớp bao cát chung quanh để thành hầm trú ẩn)    
       

Cái đèn trung thu

Năm 1966 tôi học lớp ba, môn thủ công cho dịp tết trung thu là làm lồng đèn, thời hạn là một, hai tuần gì đó. Cái thời 9-10 tuổi đâu có nhiều sáng kiến, cũng chưa đủ lớn để dám làm khác chúng bạn nên đứa nào cũng nghĩ tới làm một cái đèn trái trắm hay đèn ngôi sao để mang đi nộp, nếu có kiếm được thêm điểm là ở chỗ dán giấy, trang hoàng.
Cũng như bao đứa bạn cùng lớp, tôi trình bày dự án và nhờ tới cha giúp để thực hiện cái lồng đèn. Chắc để dạy tôi biết tháo vát, tự lập cha chỉ nói cứ làm đi rồi cha giúp. Tôi cũng bắt đầu chẻ tre, vót lạt nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì tuy đã bao nhiêu năm nhìn đèn trái trắm, đèn ngôi sao trong các dịp trung thu hay giáng sinh nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn ai làm lồng đèn cả. Hạn nộp bài sắp tới, một buổi chiều, tôi nhắc lại với cha để giúp thực hiện lồng đèn, cha bảo tôi muốn làm cái gì thì bắt đầu làm đi; lúc ấy tôi có cảm giác bị bỏ rơi nên bật khóc tức tưởi…
Rốt cuộc thì cha cũng ra tay giúp tôi, nhưng không làm đèn ngôi sao mà dựa theo một kiểu lồng đèn lạ hoắc tìm thấy trên một bức tranh rước đèn trung thu; cái đèn chỉ có hai mặt, phình ra ở giữa, mỗi mặt gồm có hai diện tích tròn đan vào nhau thành như hình số tám, trong bức tranh thì cái lồng đèn này được gắn trên đầu một cây gậy nhưng cha chế lại thành lồng đèn xách tay.
Ngày nộp bài tới, chẳng đặng đừng, tôi cũng phải rón rén xách cái đèn tới lớp, nhưng giấu biệt dưới gầm bàn vì mắc cở khi thấy cái đèn của mình chẳng giống ai. Giờ thủ công tới, bạn bè hí hửng mang đèn lên chấm điểm nhưng tôi nhất định không thèm nộp, chẳng thà chịu ăn trứng vịt chứ không muốn thành trò hề cho cả lớp. Khi thầy hỏi còn ai chưa nộp không thì mấy đứa bạn mới phát giác cái lồng đèn của tôi còn nằm nguyên dưới gầm bàn nên tụi nó moi ra đưa lên nộp, ai cũng cười vì thấy nó giống cái giỏ đi chợ, lồng đèn của tôi được chấm 4 điểm trên 10 coi như có công nộp bài. Dường như sau buổi học thì nó đã bị đá nát tả tơi và tôi cũng chẳng màng lấy lại đưa về nhà.
Từ kinh nghiệm này tôi cẩn thận hơn trong việc giáo dục hai đứa con, dẫu mình có muốn chúng có căn bản để biết sống tự lập nhưng cũng phải từ từ và tùy theo độ tuổi; ở cái tuổi thiếu nhi, cái tuổi chưa có bản lãnh để khẳng định mình thì không dễ dàng gì để sống khác những bạn bè chung quanh.

Phong bị xe cán

(Chuyện tôi không được chính mắt thấy, chỉ được nghe thuật lại nhưng xét thấy không thể thiếu trong danh sách những biến cố gia đình nên viết lại đây để hầu có thể chuyển đạt cho các em còn nhỏ hay con cháu về sau.)

Chúa nhật, ngày 17 tháng 10 năm 1965 - Buổi chiều, chưa tới giờ cơm nên cha dẫn mấy anh em đi chơi đánh vũ cầu, có thêm mấy người con chú Bích cùng tham gia, chơi ở miếng đất hoang đối diện nhà chú Bích. Thời đó chưa có những dãy nhà của người chạy nạn nên khoảng đất hoang trải từ nhà ông Kỷ (sát bên đường ra biển) tới nhà anh gì đó, con ông giáo Quang.
Sau khi chơi xong, trên đường đi về nhà, cha cõng Trinh trên cổ trong khi Thạch, Vân, Phong đi theo sau. Chỉ mới đi quá nhà chú Bích được mươi thước thì nghe tiếng la ơi ới, quay nhìn lại thì thấy một chiếc xe lam chở 3, 4 con heo dừng lại trên đường, Phong thì đang nằm giữa đường. Cha bỏ Trinh xuống dặn tôi dẫn mấy em về nhà để bắt xe đưa Phong tới nhà thương. Buổi tối, cha và Phong đã trở về nhà với một miếng băng thật lớn che một bên mặt và một miếng băng khác trên vai và cánh tay. Sau khi xét nghiệm thì Phong chỉ bị trầy trụa bên ngoài do bị xe kéo chà xuống mặt đường một khúc nhưng nội tạng không hề hấn gì vì lúc đó bụng đang lép kẹp. Thực là một điều may mắn.
Nghe chú Bích, từ phía sau đã mục kích sự việc, kể lại : Phong bị gió thổi bay cái nón ra giữa đường nên phóng ra đường để lượm lại, trong lúc đó thì có chiếc xe lam chở heo lên chợ đang trờ tới, tài xế đã lách tránh qua một bên nhưng Phong thấy xe, vội vàng lượm nón và thụt lại nên lọt vào hướng xe đâm tới, bị xe táng vào, ngã xuống và bị xe kéo lê một chút trước khi một bánh xe lăn ngang lên bụng.
Cái may mắn ở đây là xe chạy không nhanh, cũng không chở quá nặng và đã cán qua người Phong ở một chỗ ít bị tổn thương nhất. Nếu một phần nào khác trong thân thể chận trúng bánh xe thì mình không thể tưởng tượng kết quả ra sao!
(Sơn: Khi xảy ra tai nạn thì anh đang học ở Nha trang. Cha viết thư kể chuyện và gửi kèm cho anh mấy tấm hình Phong bị băng tay và đầu. Khi nhận được thư cha thì cơn nguy hiểm đã qua rồi, anh không còn lo âu hồi hộp nữa, nhưng chỉ có cảm giác thương xót và tội nghiệp khi hình dung ra cảnh tượng Phong đon đả tất tưởi chạy theo gió chụp cái mũ vừa bị bay mất. Nhờ có lá thư của cha mà anh đã cho anh Thạch biết ngày giờ chính xác khi tai nạn xảy ra. Phong thật lớn số!)
(Phong: Lúc đó em mới được 4 tuổi, còn quá nhỏ để có thể nhớ được những gì đã xảy ra, chỉ còn đọng lại trong trí óc một số hình ảnh sau:
- Khi em được đặt nằm lên chiếc xe đẩy bằng inox ở bệnh viện, do vết thương còn dính cát nên khi tiếp xúc với inox cát lại chà lên vết thương làm cho đau thêm và lưu vào “bộ nhớ”.
- Cởi áo, quần đứng trước cái máy chụp X quang. Đây là lần chụp X quang đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của em.
- Buổi tối hôm đó, đang nằm trên giường sau khi ở bệnh viện về, em nhìn thấy có nhiều người (hình như là hàng xóm biết chuyện xảy ra từ lúc chiều) tới nhà thăm đứng lố nhố ngoài hành lang, bên cửa sổ. Trong số đó có bác tài chiếc xe lam. Qua câu chuyện em nghe được là chiếc xe đó bị hư thắng nên mới xảy ra tai nạn như vậy.)

Quà chợ tỉnh

Nhớ những ngày còn nhỏ ở Phan-thiết, thỉnh thoảng mẹ đi chợ “tỉnh” (gọi là chợ tỉnh vì là chợ ở thị xã, hàng hóa đa dạng, để phân biệt với chợ Ba-làng, ở Phú-hài, chủ yếu bán hải sản). Đi chợ tỉnh về, thế nào mẹ cũng mua cho cái gì, thường là đồ ăn : lúc thì bánh da lợn, bánh tai heo, khi thì khúc mía, nải chuối, lạ hơn thì những tràng trái hồng quân hay một nhúm trái du da,…nói chung là những thứ bình thường không có. Đặc biệt hơn là cả nhà sẽ được ăn thịt bò hay thịt heo ngày hôm đó.
Đi chợ tỉnh, mẹ thường đi vào buổi sáng, khoảng trưa thì về. Trong những ngày đặc biệt đó, tới buổi trưa, tôi và mấy đứa em thường ngồi đợi mẹ về (lúc đó chắc chỉ có Vân, Phong). Để có trò chơi giải khuây, chúng tôi thường thi nhau dự đoán xem mẹ sẽ về trong chuyến xe thứ mấy, đôi khi còn bày trò cá cược xem ai thắng (đoán trúng) thì sẽ có quyền chọn phần quà trước, hay sẽ được hưởng phần nhìn có vẻ dồi dào nhất. Những xe được đếm là xe chở khách từ thị xã đi về hướng Phú-hài, thường là xe lam ba bánh hay xe ngựa. Ngày xưa trên tuyến đường đó còn có loại xe lớn hơn, thường được ghi bên hông « Phan Thiết – Rạng – Mũi Né », cho tới giờ thì tôi vẫn không biết Rạng là khúc nào, còn Mũi Né là một địa điểm chưa bao giờ đi tới trong thời gian gia đình sống tại Phan-thiết.
Thường thì tới lúc mẹ về, mọi đứa đều quên hết, nỗi vui có quà đánh tan hết những cá cược trước đó, ai cũng bằng lòng với những gì mẹ cho. Nhớ những chuyện này, so sánh hai đứa con của tôi với những đứa trẻ cùng lứa trong những gia đình khác, tôi nhìn ra chúng thừa hưởng một nét rất đặc thù của gia đình tôi : rất ít bon chen, ganh tỵ
(Quang : Em cũng nhớ hồi nhỏ mỗi khi thấy mẹ đi chợ về là rất mừng vì không có bao giờ mẹ đi chợ về mà không có quà bánh cho mình. Khi còn ở Ban Mê, nhà mình cách mặt đường một đoạn dốc thoai thoải, mỗi sáng mẹ đã dậy từ sớm đi chợ lúc nào mình không hay nhưng mẹ thường về lúc nửa buổi, mẹ thường gánh gánh chứ không xách giỏ. Mẹ hay mua mía, có lần mẹ mua mía nhưng để nguyên cây về cho mỗi đứa một cây, lúc đó chỉ nhớ có anh Nguyên, chị Thủy và em ôm cây mía dài vừa gặm vừa thúc vào nhau (mỗi lần nghịch ngợm sao chẳng nhớ thấy bóng giáng chị Trinh đâu cả, chắc tại chị Trinh ít nghịch cho nên em không nhớ). Khi ở Đakmil món quà mà em nhớ nhất là trái mận quân, ăn xong hàm răng bị đen vì mủ của nó). 

Xe gắn máy

Thời tôi bắt đầu lớn để biết chuyện thì phương tiện di chuyển của cha là cái xe đạp, nhờ thế tôi sớm làm “thợ vịn” cho cha trong những lúc vá ruột xe, đốn mắt xích, thay bố thắng.
Lúc cha hết làm ở công ty điện lực thì thấy ở nhà có chiếc xe gắn máy, người ta gọi là chiếc mobilette. Loại xe này không có tay số, chỉ có tay ga, lúc muốn nổ máy thì đạp như chiếc xe đạp để lấy trớn rồi vặn tay ga cho nổ máy. Chiếc xe này đã cũ lắm, không biết tự đâu ra, và chạy cũng không tốt lắm nên vào khoảng năm 1966-67 thì nhà mình có một chiếc xe mới, là một chiếc Honda SS50. (Sơn: Cũng vì cứ nghĩ như anh Thạch là “muốn nổ máy thì đạp như chiếc xe đạp để lấy trớn rồi vặn tay ga cho nổ máy” mà anh có kỷ niệm nhớ đời với nó, cậu chuyện có liên hệ tới chị Tuyết nữa, không biết chị có còn nhớ ! Đó là một dịp nghỉ hè, anh từ Nha trang về và chị Tuyết từ Cù lao giêng về. Buổi trưa cả nhà đang ngủ trưa, anh ngứa ngáy tay chân, nên rủ chị Tuyết lấy xe mobilette của cha ra chạy thử. Chị Tuyết cũng đồng tình. Hai chị em hì hục, người đạp người đẩy, rồi lại thay phiên nhau người đẩy người đạp, tháo mồ hôi mà vẫn không nổ. Lý do 2 chị em quyết tâm làm như thế là vì đã thấy cha chạy ngon lành: đạp vài vòng cho nó chạy như xe đạp rồi vặn tay ga là nó vọt lên ngay. Sau nửa tiếng vật lộn với chiếc xe … đành phải đầu hàng, dắt xe về, mặt mày tái mét, mồ hôi mồ kê đầy người. Về đến nhà thấy cha đã ngủ trưa dậy chuẩn bị đi làm, cha mới nhẹ nhàng tiết lộ mánh khóe, đó là: trong lúc đạp như xe đạp thì phải vặn tay ga ngược về phía trước, đến khi nghe tiếng lạch phạch thì mới vặn xuôi về phía sau để tăng ga. Nhưng cha nói thêm một câu mà anh nghe mát lòng vô cùng và nhớ mãi đến hôm nay, đó là “con hỏi cha trước rồi cha chỉ dẫn cho con, có phải con khỏi mất công sức như vậy không”. Câu nói ngắn gọn, nhẹ nhàng, nhưng tạo nên tâm trạng gần gũi thân yêu và sự tin tưởng giữa hai cha con với nhau.)

Chiếc xe Honda SS50 của nhà mình và của chú Bích là 2 chiếc được đặt chở về từ Nhật chứ không phải là hàng lắp ráp tại VN, xe xuất xưởng chưa được căn chỉnh gì cả nên phải mất cả tháng mày mò, so sánh mới điều chỉnh được mức xăng/gió thích hợp để bu-gi khô ráo và có màu đỏ “như gạch cua” chứ không còn đen thui và ướt nhẹp xăng.
Xe mới thì cần phải chạy rô-đa, nghe nói đâu khoảng 500 cây số. Vì ít sử dụng nên cha hay để ở nhà, chống xe lên và nổ máy thay vì phải chạy rô-đa. Tôi chưa đủ lớn để chạy chiếc xe này nên chỉ biết chờ khi xe được chống lên thì ngồi trên xe, đạp cho nổ máy, sang số, trả số. Lúc nổ máy chán rồi thì cùng với mấy em, chắc là Vân, Phong, đè phía sau xe để kích bánh trước lên rồi dùng tay quay bánh xe để coi kim vận tốc di chuyển và các con số từ từ nhảy.
Ngoài cha ra thì chắc chỉ có anh Sơn là người sử dụng chiếc xe này, thỉnh thoảng anh Sơn chở theo tôi chạy ra Phú-long, qua khỏi mấy đám ruộng muối trên quốc lộ 1 là đoạn đường thênh thang nên anh Sơn rồ ga phóng, tôi ngồi sau nghe gió phần phật mà phát khiếp.
Có một lần cha phải tránh hay vì cán trúng một con chó mà bị té, xe ngã đè lên cha, bàn chân bị cần số cấn lên làm bị thương khá nặng, sưng húp lên, phải băng bó, bóp thuốc khá lâu mới lành. Nhớ thêm một lần, cha chở tôi đi mua thùng dầu lửa 20 lít ở khu gần nhà thương cũ, trên đường Hải Thượng Lãn Ông; trên đường về, chưa tới được ngã tư bưu điện (trước 1975, bốn góc ngã tư này gồm có ty bưu điện, ty ngân khố, tiểu khu và công viên) thì sém bị va chạm với một xe khác cắt qua trước mặt để quẹo phải, cha bị luýnh quýnh, tôi ngồi sau vất vả ôm thùng dầu vuông vức cũng bị chao đảo làm cha mất thăng bằng, thế là cha con và thùng dầu cùng đo đường, gặp khúc đường có cát nên bị kéo trượt đi vài thước, ai cũng bị trầy sướt mấy chỗ, thùng dầu hơi móp méo và bị hở bung một chút ở mặt trên nên có một ít dầu bị đổ xuống đường nhưng rồi cha con cũng lại lên xe tiếp tục về nhà.
Không biết cha có bị thêm tai nạn nào không nhưng chắc mẹ thấy cha chạy xe tay côn không nhuyễn lắm nên sinh ra ý định bán chiếc SS50 để thay thế bằng loại xe ít rắc rối hơn. Hình như xe được bán lại cho ông Yên, trong lúc chưa mua xe khác thì cha Hoa cho chiếc xe Gobel để chạy đỡ, tôi đã có dịp lấy xe chạy lên tới phố (đường Trần Hưng Đạo), loại xe cũng phải bóp côn sang số nhưng vặn bằng tay trái chứ không phải số chân.
Ngoài ra, cậu Trực có một chiếc xe Solex, giống xe đạp nhưng có máy ở phía trước, xe này chạy cũng không tốt lắm nên hình như cậu cũng tháo máy để làm thành xe đạp luôn.

Đuổi mèo

Thuở nhỏ, nhớ có lần mẹ đi Sài-gòn, hình như bế theo cả Trinh, chị Tuyết và anh Sơn đã đi học xa, cha còn làm tại “nhà đèn” Phan-thiết và làm ca tối, từ khoảng 4-5 giờ chiều đến gần nửa đêm.
Buổi chiều cha cho mấy đứa ăn cơm rồi đi làm, ở nhà chỉ còn lại Thạch, Vân, Phong. Lúc trời còn sáng thì ham chơi nên không nhớ gì, tối đến mấy anh em mới bắt đầu thấy sợ. Trong nhà chỉ có ngọn đèn dầu leo lét, ba anh em lên giường ôm nhau mà không ngủ được; chợt bên ngoài có tiếng mèo gào làm cho Phong hay Vân sợ quá nên ba anh em lại dắt díu nhau, lò mò ra ngoài sân lượm đá đuổi mèo chạy.
Giấc ngủ rồi cũng đến nên chẳng đứa nào biết mèo có còn kêu không và cũng không ai hay cha đi làm về lúc nào nữa. (Trinh: Em còn nhớ một lần nào đó không có cha mẹ ở nhà hình như là mẹ bế Nguyên đi Sài Gòn, buổi tối chỉ có 4 anh em ở nhà đó là Thạch, Vân, Phong, Trinh. Tối đến cứ ngồi dỏng tai lên nghe ngóng hễ có một tiếng động là đoán một người nào đó, có một lần anh Thạch đoán là thầy Quý (người này em không biết chỉ nghe các anh chị hay nhắc đến – thầy Quý là người dạy anh Sơn học lớp Ba. Thầy ấy người Nha Trang, vô Vinh Thủy ở tạm 1 năm để dạy học. Thầy Quý rất quý trọng cha mẹ và thương anh. Vào dịp Tết năm 1962 anh được thầy Quý rủ về nhà thầy ở Nha trang nghỉ Tết, đi bằng xe lửa. Trong nhà  chỉ có chị Tuyết, anh Sơn và anh Thạch là biết về thầy Quý mà thôi) mấy anh em chạy ra khe cửa nhìn nhưng không có ai cả. Một lát sau lại nghe tiếng động, lần này anh Thạch đoán là anh Sơn về, 4 anh em lại chạy ra cửa , ngó qua khe cửa thì đúng là anh Sơn về, đeo ba lô sau lưng. Ai cũng mừng rỡ, anh Sơn nói anh đi về bằng ghe nên về ban đêm. Một lát sau anh nói hình như anh bị rớt tiền, thế là quyết định đi tìm. Năm anh em dắt díu nhau đi về phía Ba Làng, em được anh Thạch cõng, không biết lúc đó có đèn đường hay không nhưng có ánh sáng mờ mờ, hễ thấy cái gì trắng trắng là dừng lại xem nhưng không phải thế là cả đoàn phá lên cười, đến khoảng nhà thờ ngoài thì anh Sơn quyết định quay về không tìm nữa. Em nhớ chuyến đó anh Sơn mua về cho các em sữa tươi trong lon và loại bánh hơi giống bánh phồng tôm bây giờ. Hình như ai cũng thích bánh hơn vì chưa quen uống sữa tươi không đường nên nó bị ế đến mấy ngày sau).(Sơn: Trinh nhớ quá tài và nhớ rất chi tiết. Anh không còn nhớ gì về chuyện này cho đến khi đọc lại những chia sẻ của Trinh thì dần dần hiện ra kỷ niệm cũ. Đúng là thời đó anh hay đi về buổi tối hay tờ mờ sáng, vì đi bằng ghe từ Phan rí. Mà khi anh về đến nhà cũng chưa quá khuya nên các em còn thức, như vậy mới rủ nhau đi bộ để tìm tiền bị rớt. Mà tìm làm sao được giữa đêm tối như vậy, thật là trẻ con !)

Căn nhà tuổi thơ

Căn nhà tuổi thơ của tôi ở Phan-thiết nằm ngay góc ngã ba của con đường từ thị xã ra Phú-hài và con đường đất dẫn ra biển. Thuở đầu, ngõ vào nhà nằm trên mặt đường cái, được lát bằng gạch, nhà nằm thụt sâu vào trong một chút, giữa những cây na (măng cầu ta). (Sơn : Khi ngõ nhà mình còn hướng ra đường cái, thì ngay bên ngõ có cây trứng cá. Đây là một cây lá nhỏ, cao độ dăm ba thước, có trái tròn lớn bằng ngón tay cái, khi chín, đỏ mọng, thơm và ngọt. Không biết chị Tuyết hay các em, có ai còn nhớ đến cây trứng cá này không). (Tuyết : Chị đi tu một năm sau trở về vẫn còn leo cây trứng cá này để hái trái. Có lúc người ta nói ăn trái đó coi chừng bị “cát” của nó, nhỏ li ti, dính vào bao tử là nguy hiểm. Vậy mà vẫn cứ “sa chước cám dỗ” ! Ngày xưa trẻ con không có dư thừa thực phẩm và đồ chơi như bây giờ, nên bất cứ thứ gì dù tầm thường vẫn cảm thấy thích thú và ngon lành). Đứng từ ngõ nhìn vào nhà, ngang với căn nhà thì phía trái còn có một cây nhãn, phía phải có một cây dừa; suốt mười mấy năm ở đó tôi chưa hề được thấy trái của hai cây này. Cây nhãn hình như bị đốn trước khi nhà đổi cổng về phía đường ra biển, còn cây dừa thì sau khi bán nhà cho ông Thảo mới có trái.
Nhớ lúc mới ở căn nhà đó, tôi thường quanh quẩn ra vườn búng mấy trái na xem đã chín chưa, có lúc thấy mẹ hái vào mỗi lần cả 2, 3 thúng nhưng có điều bị rầy bám nhiều lắm, không hiểu tại sao mà sau đó thì mấy cây na bị đốn hết nên chỉ còn lại mảnh đất trống. Chung quanh vườn thì 2 phía là hàng rào cây xương rồng, mặt giáp đường ra biển có thêm mấy cây găng (còn gọi là cây keo), trái từa tựa trái me, mỗi mắt có một hột được bọc bằng một lớp cơm trắng và hơi xốp, ăn lớp cơm này thì hơi ngọt pha một ít vị chát. Trái găng lủng lẳng mời gọi thế đấy mà cứ bị cấm ăn, có lần chị Tuyết hái cho tôi ăn và dặn không được mách mẹ, thế mà sau khi ăn xong tôi lại đi khai tuốt hết, làm chị Tuyết bị mẹ la nên bực tôi vô cùng.
Căn nhà lúc đầu có vách làm bằng đất sét trộn rơm, bên ngoài có một lớp áo mỏng bằng ciment, có đôi chỗ lớp áo đã bị bong đi mất, là địa điểm cho tôi say mê theo dõi mấy con tò vò khoét từng lỗ trên tường, lấy đất sét để xây tổ. Từ từ, vách tường đất sét được đổi qua xây bằng gạch. Có lẽ vì tọa lạc trên vùng đất hơi trũng nên nhà được xây cao hơn mặt đất khoảng nửa thước, chung quanh có hàng hiên khá rộng. Tôi thích nhất hàng hiên này vì đây là chỗ cho chúng tôi chơi đùa mà không bị mưa, nắng; nào chơi ô, chơi cò cò, bò lê lết, trò cá sấu lên bờ và buổi tối còn có thể giăng ghế bố nằm ngủ nữa. (Tuyết: cũng nơi hàng hiên này mà những lúc rảnh rỗi sau trưa, hiu hiu gió mát thỉnh thoảng mẹ ngồi bắt chí cho chị. Cũng là nơi lúc còn ở nhà chị hay ngồi đan lưới.) Nhớ dịp đám cưới cậu Trực, có buổi tối, tôi và anh Sơn nằm nơi đây nghe cậu Phan lấy cửa sổ nhà anh Dân làm đích để giải thích nguyên tắc khẩu M-79. (Sơn: Nhân dịp đám cưới cậu Trực, cậu Phan từ Ban mê thuột xuống đi đám, anh mới có dịp gặp và làm quen với cậu Phan. Đó là buổi tối trước ngày cậu Phan ra về. Anh còn nhớ như in buổi nói chuyện với cậu Phan vào buổi tối hôm đó và nghe cậu ấy kể chuyện bắn súng M79, không ngờ Thạch cũng ngồi bên cạnh hóng chuyện và còn nhớ. Chưa gặp cậu Phan lần nào, nhưng thấy cậu hiền hiền, ít nói và có vẻ gần gũi, nên anh đến làm quen bắt chuyện. Nhờ đó mà tình cậu cháu thân thiết hơn. Sau đó vài năm khi anh đang học tại Tiểu chủng viện Chúa Chiên Lành Đà lạt, hình như là vào năm 1971, trong một dịp nghỉ giữa khóa, anh tự thân mua vé may bay lên Ban mê thuột thăm cậu và làm quen với toàn gia đình cậu mự Phan. Lúc này, Hùng, Dũng, Dung, Hòa còn nhỏ xíu. Đó là một chuyến phiêu lưu thật đáng nhớ).
Căn nhà bếp nằm về hướng nhà bà Thảo (tức là hướng đi lên tỉnh), lúc đầu liền với căn nhà nhưng sau này được xây lại thụt ra sau một tí nên khoảng nền nhà bếp cũ trở thành sân chơi cho mấy trò cần nhiều chỗ hơn : đẩy xe, lắc lư xoay vòng trong cái chảo lớn, nhảy nhún trên cái xăm xe to tổ bố do cậu mang về. Cùng lúc di chuyển nhà bếp thì có thêm nhà tiêu, nhà tắm và bồn chứa nước mưa, trên bồn nước mưa này là chỗ sinh hoạt rất thú vị vào những đêm trăng thanh gió mát, đứng ở đây có thể với tay hái chùm ruột trên cây sau nhà tắm. Sát bên nhà bếp, ngay bên giếng nước còn có một cây chùm ruột khác nữa.
Khi nhà chưa nuôi heo thì dường như vườn chẳng trồng gì cả, chung quanh vẫn là hàng rào xương rồng để mỗi chiều tôi lang thang ra đó tìm bắt chuồn chuồn, châu chấu. Sau này, chuồng heo được dựng lên về phía góc vườn, cách nhà bếp và giếng nước khoảng 10 thước, khoảng trống này sau đó có thêm giàn bầu, giàn mướp và trồng cà, vườn cũng bắt đầu được đánh luống để trồng rau lang.
Trước mặt nhà lúc đầu chỉ là bãi đất hoang, cây cối lơ thơ, cho tới khoảng năm 1964 mới bắt đầu khởi công xây lao xá. Thời gian này mẹ mở quán tạp hóa, chủ yếu bán hàng cho các công nhân xây cất công trình lao xá, hằng ngày các công nhân ghé mua bánh, nước, thuốc lá hoặc nốc vội một ly rượu đế trong giờ giải lao; có một bác cai có thói quen rất lạ là mỗi ngày ghé uống một chai bia con cọp với mấy muỗng đường và chỉ cầm chai uống chứ không bao giờ rót ra ly. Trò chơi của tôi lúc này là sắp những chai nước ngọt trên nền nhà và lăn tới, lăn lui cả buổi, tưởng tượng như đang lái một chiếc xe tải. Thỉnh thoảng, sau bữa ăn tối, mấy cha con dạo chơi thám hiểm những căn nhà đã xây xong trong công trình lao xá, nằm chơi hóng mát trên những bục xi măng của nhà giam tập thể. Sau một thời gian thì không còn thấy công nhân xây dựng nữa, trung tâm thấy để trống, có vẻ như công việc chưa hoàn tất nhưng bị đình chỉ. Một thời gian sau thì thấy lính tráng, xe cộ kéo tới và lao xá trở thành hậu cứ của trung đoàn 53BB, ngày ngày có các buổi thao luyện và những hồi kèn trompette vang dội. Có lẽ vì tọa lạc chính diện với lao xá, hay trại lính lúc đó, có nhiều điều bất tiện nên ngõ vào nhà được từ từ chuyển qua phía con đường đi ra biển.
Sau khi cậu Trực lập gia đình, cậu cũng ở nhà này, căn phòng tôi thường nằm ngủ được ngăn ra dành riêng cho gia đình cậu, giường ngủ của tôi lúc ấy chuyển thành cái ghế bố, được kê lên mỗi đêm trên hàng hiên phía sau, gần lối đi vào nhà bếp. Có lẽ có thêm gia đình cậu nên mình mới chuyển tới chỗ khác để có chỗ cho cậu dựng được một căn nhà riêng bên cạnh. 
(Tuyết : Hình như căn nhà mà Thạch mô tả trên đây là ngôi nhà thứ hai. Ngôi nhà đầu tiên nằm ở sau ngôi nhà này. Mặt tiền nhà quay về phía đường đất đi vào nhà thờ Vinh Thuỷ, mái lợp bằng tranh. Ở bên hông nhà có một bụi hoa trúc đào. Lúc ở nhà này không biết được bao lâu, mẹ mướn bà Liễu, có hai con gái là chị Hương và Vân, đến giúp công việc nhà. Chính trong nhà này mà chị bị mẹ cấm nhảy dây. Cũng ở nhà này Sơn bị cậu đánh sưng cả cánh tay vì tội thò tay vào lu nghịch nước thì phải. Sau này khi dời nhà ra phía trước, cha mẹ để lại cho một gia đình công chức có người con trai tên Hoè cùng lớp với chị. Anh này bị chết đuối trong hồ Vinh Thủy đang lúc cùng với các bạn, sau dịp cắm trại trong trường, tháo gỡ một cái cầu bắc ở dưới hồ. Có lẽ mình dời nhà ra gần đường cái để tiện việc buôn cây bán lá.)

Chiếc bẫy kỳ nhông

Đầu năm 1964 – Sau buổi cơm chiều, đang chơi ngoài vườn với mấy em, bỗng có khách tới nhà, mẹ sai anh đi mua điếu thuốc về mời khách. Chạy sang quán bên cạnh nhà không có, anh phải lấy xe đạp đi xuống quán ở xa phía Ba Làng, gặp anh Thạch xớ rớ gần đó nên rủ anh Thạch đi chơi luôn. Đến nơi thấy có người đang đứng mua cái gì và đang thối tiền, nên anh chờ. Trong khi chờ tới phiên mình để hỏi mua vài điếu thuốc lẻ, thì nhìn bên cạnh, thấy cái bẫy kỳ nhông, hình như là có cả miếng mồi trong đó, nên anh chồm người tới để nhìn cho rõ. Bỗng chạm phải cái gì đó, thùng dầu ăn đổ ra. Đó là thùng dầu cỡ 5 lít. Theo suy luận của con nít, quay lưng đi không còn nhìn thấy vấn đề tức là vấn đề không còn nữa, nên anh ba chân bốn cẳng vọt ra khỏi tiệm đạp xe về nhà, trong lòng nhẹ nhõm vì vấn đề đã được giải quyết nhẹ nhàng ổn thỏa. Đến nhà anh nói với mẹ là tiệm hết thuốc lá rồi con mua không được, mà lúc đó khách cũng ra về. Nói dối phi tang xong anh tiếp tục chơi đùa vui vẻ mà quên bẵng đi chuyện thùng dầu ăn bị đổ lúc nãy trong tiệm tạp hóa. Chơi một lát, trời sẩm tối thì thấy có người vô nhà nói chuyện với mẹ, rồi mẹ kêu anh vô hỏi tội. Tội trạng rành rành đâu chối cãi đường nào được. Mẹ phải bồi thường cho người ta nguyên thùng dầu ăn mới. Tối đó anh không bị đòn mà chỉ bị la, mà hình như mẹ cũng không tức giận gì nhiều lắm, chỉ nói nhè nhẹ. (Theo như chị Trinh kể lại, thì em thấy buổi tối hôm đó mẹ khóc …) (Trinh: Chị lúc đó mới có mấy tháng tuổi làm sao mà biết được !!  Anh Sơn à, em nhớ có lần nghe chị Tuyết nói là chị thấy mẹ khóc 2 lần, lần thứ nhất là khi anh Hùng mất, lần thứ 2 là khi nghe bà bán tạp hóa mắng vốn chuyện anh làm đổ thùng dầu, anh hỏi chị Tuyết xem em nhớ có đúng không?)
(Chị Tuyết: Chị nhớ là dịp đó đã nghe mẹ khóc và kể lể, chị không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái nói rằng mẹ thì lo dành dụm chắt chiu mà con thì dại dột phá phách phải bồi thường cho người ta tốn kém !)

Cuộc chạy đua buổi sáng

Năm 1963. Vào thời điểm này căn nhà của mình tại Vinh Thủy còn nằm ngay ngã ba từ đường nhựa Phan thiết chạy ra Ba Làng (Thanh Hải) và con đường đất đỏ dẫn vô nhà thờ. Lúc đó đường nhựa chưa có tên, hay nếu có thì không ai biết và không ai dùng, và còn rất chật hẹp. Hình như con đường này lúc gần giải phóng có tên là đường Thủ Khoa Huân. Vào năm 1963, số người sử dụng lưa thưa, chỉ có tuyến xe lam đi từ Phú Hài lên chợ Phan thiết, vài chiếc xe ngựa và mỗi ngày vài chuyến xe đường dài đi từ Phan thiết ra Mũi Né. Căn nhà và miếng đất mua lại của chú È, còn có tên là Ngô Nhật. Miếng đất có vườn măng cầu ta phía sau, phía trước nhà có cây trứng cá và bên hông nhà, hướng về phía nhà bà Thảo có cây chùm ruột bên cạnh giếng. Trước mặt nhà phía bên kia đường nhựa là cây keo cao lớn, và sau đó là miếng đất hoang chỉ toàn là cát và xương rồng.
 
Theo giao hẹn giữa 2 chị em, cứ mỗi buổi sáng đi lễ về thì chị Tuyết quét nhà một bữa và hôm sau là tới phiên anh. Sáng hôm ấy đi lễ về, sao anh thấy làm biếng quá. Chị Tuyết xách chổi đi tìm anh và dúi cái chổi vào tay để bắt anh quét nhà, anh rụt tay lại và bỏ chạy vòng ra sau sân nhà. Chị Tuyết đuổi theo. Anh từ dưới vườn măng cầu phía sau nhà, phóng vọt lên thềm. Thềm nhà hơi cao, mà anh lại nhảy từ xa nên không lên nổi, đập trán vô cạnh thềm, đau điếng, choáng váng mặt mày và ngay sáu đó thì trán nổi lên một cục u như trái ổi non. (Khi lấy đà để phóng lên thềm Sơn đã vô ý đặt chân lên một thân cây tròn đặt sát dọc thềm nhà. Thân cây quay tròn làm Sơn mất trớn chúi nhủi đập trán vào cạnh thềm nhà) Chị Tuyết thấy anh gặp nạn vội vàng chạy vô nhà kêu cha hay mẹ. Phải ngồi lại một hồi cho bớt đau, sau đó lấy dầu lửa xức lên. Chuyện gì xảy ra sau đó thì anh quên: có bị la không, có bị đánh đòn không, sau đó có phải quét nhà không hay có ai khác làm giùm … Không còn nhớ đến những chi tiết đó nữa … …(Còn chi Tuyết lúc rượt em thì vô cùng bực bội nhưng thấy trên trán Sơn nổi một cục như cái sừng thì thương em vô hạn! )