Đầu năm 1964 – Sau buổi cơm chiều, đang chơi ngoài vườn với mấy em, bỗng có khách tới nhà, mẹ sai anh đi mua điếu thuốc về mời khách. Chạy sang quán bên cạnh nhà không có, anh phải lấy xe đạp đi xuống quán ở xa phía Ba Làng, gặp anh Thạch xớ rớ gần đó nên rủ anh Thạch đi chơi luôn. Đến nơi thấy có người đang đứng mua cái gì và đang thối tiền, nên anh chờ. Trong khi chờ tới phiên mình để hỏi mua vài điếu thuốc lẻ, thì nhìn bên cạnh, thấy cái bẫy kỳ nhông, hình như là có cả miếng mồi trong đó, nên anh chồm người tới để nhìn cho rõ. Bỗng chạm phải cái gì đó, thùng dầu ăn đổ ra. Đó là thùng dầu cỡ 5 lít. Theo suy luận của con nít, quay lưng đi không còn nhìn thấy vấn đề tức là vấn đề không còn nữa, nên anh ba chân bốn cẳng vọt ra khỏi tiệm đạp xe về nhà, trong lòng nhẹ nhõm vì vấn đề đã được giải quyết nhẹ nhàng ổn thỏa. Đến nhà anh nói với mẹ là tiệm hết thuốc lá rồi con mua không được, mà lúc đó khách cũng ra về. Nói dối phi tang xong anh tiếp tục chơi đùa vui vẻ mà quên bẵng đi chuyện thùng dầu ăn bị đổ lúc nãy trong tiệm tạp hóa. Chơi một lát, trời sẩm tối thì thấy có người vô nhà nói chuyện với mẹ, rồi mẹ kêu anh vô hỏi tội. Tội trạng rành rành đâu chối cãi đường nào được. Mẹ phải bồi thường cho người ta nguyên thùng dầu ăn mới. Tối đó anh không bị đòn mà chỉ bị la, mà hình như mẹ cũng không tức giận gì nhiều lắm, chỉ nói nhè nhẹ. (Theo như chị Trinh kể lại, thì em thấy buổi tối hôm đó mẹ khóc …) (Trinh: Chị lúc đó mới có mấy tháng tuổi làm sao mà biết được !! Anh Sơn à, em nhớ có lần nghe chị Tuyết nói là chị thấy mẹ khóc 2 lần, lần thứ nhất là khi anh Hùng mất, lần thứ 2 là khi nghe bà bán tạp hóa mắng vốn chuyện anh làm đổ thùng dầu, anh hỏi chị Tuyết xem em nhớ có đúng không?)
(Chị Tuyết: Chị nhớ là dịp đó đã nghe mẹ khóc và kể lể, chị không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái nói rằng mẹ thì lo dành dụm chắt chiu mà con thì dại dột phá phách phải bồi thường cho người ta tốn kém !)
22/4/10
Cuộc chạy đua buổi sáng
Năm 1963. Vào thời điểm này căn nhà của mình tại Vinh Thủy còn nằm ngay ngã ba từ đường nhựa Phan thiết chạy ra Ba Làng (Thanh Hải) và con đường đất đỏ dẫn vô nhà thờ. Lúc đó đường nhựa chưa có tên, hay nếu có thì không ai biết và không ai dùng, và còn rất chật hẹp. Hình như con đường này lúc gần giải phóng có tên là đường Thủ Khoa Huân. Vào năm 1963, số người sử dụng lưa thưa, chỉ có tuyến xe lam đi từ Phú Hài lên chợ Phan thiết, vài chiếc xe ngựa và mỗi ngày vài chuyến xe đường dài đi từ Phan thiết ra Mũi Né. Căn nhà và miếng đất mua lại của chú È, còn có tên là Ngô Nhật. Miếng đất có vườn măng cầu ta phía sau, phía trước nhà có cây trứng cá và bên hông nhà, hướng về phía nhà bà Thảo có cây chùm ruột bên cạnh giếng. Trước mặt nhà phía bên kia đường nhựa là cây keo cao lớn, và sau đó là miếng đất hoang chỉ toàn là cát và xương rồng.
Theo giao hẹn giữa 2 chị em, cứ mỗi buổi sáng đi lễ về thì chị Tuyết quét nhà một bữa và hôm sau là tới phiên anh. Sáng hôm ấy đi lễ về, sao anh thấy làm biếng quá. Chị Tuyết xách chổi đi tìm anh và dúi cái chổi vào tay để bắt anh quét nhà, anh rụt tay lại và bỏ chạy vòng ra sau sân nhà. Chị Tuyết đuổi theo. Anh từ dưới vườn măng cầu phía sau nhà, phóng vọt lên thềm. Thềm nhà hơi cao, mà anh lại nhảy từ xa nên không lên nổi, đập trán vô cạnh thềm, đau điếng, choáng váng mặt mày và ngay sáu đó thì trán nổi lên một cục u như trái ổi non. (Khi lấy đà để phóng lên thềm Sơn đã vô ý đặt chân lên một thân cây tròn đặt sát dọc thềm nhà. Thân cây quay tròn làm Sơn mất trớn chúi nhủi đập trán vào cạnh thềm nhà) Chị Tuyết thấy anh gặp nạn vội vàng chạy vô nhà kêu cha hay mẹ. Phải ngồi lại một hồi cho bớt đau, sau đó lấy dầu lửa xức lên. Chuyện gì xảy ra sau đó thì anh quên: có bị la không, có bị đánh đòn không, sau đó có phải quét nhà không hay có ai khác làm giùm … Không còn nhớ đến những chi tiết đó nữa … …(Còn chi Tuyết lúc rượt em thì vô cùng bực bội nhưng thấy trên trán Sơn nổi một cục như cái sừng thì thương em vô hạn! )
Theo giao hẹn giữa 2 chị em, cứ mỗi buổi sáng đi lễ về thì chị Tuyết quét nhà một bữa và hôm sau là tới phiên anh. Sáng hôm ấy đi lễ về, sao anh thấy làm biếng quá. Chị Tuyết xách chổi đi tìm anh và dúi cái chổi vào tay để bắt anh quét nhà, anh rụt tay lại và bỏ chạy vòng ra sau sân nhà. Chị Tuyết đuổi theo. Anh từ dưới vườn măng cầu phía sau nhà, phóng vọt lên thềm. Thềm nhà hơi cao, mà anh lại nhảy từ xa nên không lên nổi, đập trán vô cạnh thềm, đau điếng, choáng váng mặt mày và ngay sáu đó thì trán nổi lên một cục u như trái ổi non. (Khi lấy đà để phóng lên thềm Sơn đã vô ý đặt chân lên một thân cây tròn đặt sát dọc thềm nhà. Thân cây quay tròn làm Sơn mất trớn chúi nhủi đập trán vào cạnh thềm nhà) Chị Tuyết thấy anh gặp nạn vội vàng chạy vô nhà kêu cha hay mẹ. Phải ngồi lại một hồi cho bớt đau, sau đó lấy dầu lửa xức lên. Chuyện gì xảy ra sau đó thì anh quên: có bị la không, có bị đánh đòn không, sau đó có phải quét nhà không hay có ai khác làm giùm … Không còn nhớ đến những chi tiết đó nữa … …(Còn chi Tuyết lúc rượt em thì vô cùng bực bội nhưng thấy trên trán Sơn nổi một cục như cái sừng thì thương em vô hạn! )
Vũng lầy
Một ngày vào khoảng đầu năm 1963, cái thời cha đi dạy học ở BìnhChính (Phan Rang).
Hôm đó 3 cha con (Sơn, Thạch) ra bến xe đò để về nhà, ngồi trên xe đã khá lâu nhưng còn quá ít khách nên xe vẫn chưa chạy. Thấy hơi mắc tiểu nên tôi xin phép xuống xe đi tìm chỗ giải quyết, anh Sơn cũng theo gót.
Nhãn quan tuổi thơ không nhìn được bao quát nên cái bến xe nó rộng lớn làm sao ấy! Hai anh em vội vã chạy ra xa, tận gần bờ rào để kiếm được chỗ khuất. Đang chạy ngon trớn sao tự nhiên cái chân dính cứng ngắc dưới đất, không làm sao nhấc lên nổi : kết quả là 2 thằng ngã nhào vào vũng bùn, rất may là vũng bùn bắt đầu khô nên không có nước, chỉ bị bùn dính dơ hết quần áo. Số là vũng bùn không có nước, mặt lang láng nên bước nhào lên mà không nghĩ nó dính dẻo quẹo như thế.
Không còn nhớ cú ngã vào vũng bùn có làm “tịt nòng” không nhưng chỉ còn nhớ 2 anh em quay trở lại xe làm cha phải đi xuống tìm cách lau chùi sơ cho bớt dính bùn trước khi leo lên xe về Phan Thiết.
(Sơn : Anh cũng còn nhớ câu chuyện này, đó là vào cuối năm Âm lịch 1962, 3 cha con chờ xe để về ăn Tết)
Hôm đó 3 cha con (Sơn, Thạch) ra bến xe đò để về nhà, ngồi trên xe đã khá lâu nhưng còn quá ít khách nên xe vẫn chưa chạy. Thấy hơi mắc tiểu nên tôi xin phép xuống xe đi tìm chỗ giải quyết, anh Sơn cũng theo gót.
Nhãn quan tuổi thơ không nhìn được bao quát nên cái bến xe nó rộng lớn làm sao ấy! Hai anh em vội vã chạy ra xa, tận gần bờ rào để kiếm được chỗ khuất. Đang chạy ngon trớn sao tự nhiên cái chân dính cứng ngắc dưới đất, không làm sao nhấc lên nổi : kết quả là 2 thằng ngã nhào vào vũng bùn, rất may là vũng bùn bắt đầu khô nên không có nước, chỉ bị bùn dính dơ hết quần áo. Số là vũng bùn không có nước, mặt lang láng nên bước nhào lên mà không nghĩ nó dính dẻo quẹo như thế.
Không còn nhớ cú ngã vào vũng bùn có làm “tịt nòng” không nhưng chỉ còn nhớ 2 anh em quay trở lại xe làm cha phải đi xuống tìm cách lau chùi sơ cho bớt dính bùn trước khi leo lên xe về Phan Thiết.
(Sơn : Anh cũng còn nhớ câu chuyện này, đó là vào cuối năm Âm lịch 1962, 3 cha con chờ xe để về ăn Tết)
Nước mắt yêu thương
Lúc hai đứa con còn nhỏ, chưa đến tuổi đi học, vợ chồng tôi có thói quen đi chơi, thăm viếng bạn bè vào cuối ngày, thường về lại nhà khá trễ nên khi về đến nhà thì hai đứa đều đã thiu thiu ngủ trên xe.
Muốn để cho con được ngon giấc nên tôi thường nhẹ nhàng ẵm từng đứa vào nhà, đặt vào giường cho chúng ngủ tiếp tục. Có một ngày con gái tôi thú nhận là “chỉ giả bộ ngủ vì thích được ba ẵm vào nhà”, chuyện này làm sống dậy trong tôi một kỷ niệm ngày xưa...
Một buổi trưa tại Bình-chính (Phan-rang), lúc đó cha đang dạy học giúp cha Báu, vào năm 1962 hoặc 1963 gì đó, tôi là một đứa nhỏ nên phải đi ngủ trưa như mọi đứa nhỏ khác. Nói là ngủ trưa nhưng chắc cũng đã bắt đầu buổi chiều vì tôi chỉ nằm nhà có một mình : cha lên lớp dạy và anh Sơn cũng đi học. Tỉnh lại sau giấc ngủ trưa nhưng còn nằm lơ mơ thì cha đi về nhà nhân lúc nghỉ giải lao giữa buổi (lớp học chỉ cách đó vài chục thước); tôi vẫn nhắm mắt vờ như đang say ngủ, không hiểu tại sao cha lại tới ẵm tôi lên vừa đi qua đi lại vừa hát...
« Ôi mẫu thân con trông cậy suốt đời í a hãy xót thương, vì ngoài Mẹ ra thì nào con biết trông ai... » điệu nhạc bài hát cha ru đánh động lòng tôi khiến tôi tự nhiên chảy nước mắt, làm cho cha phải hỏi tôi tại sao lại khóc. Không biết giải thích thế nào nên tôi phải phịa đại ra cho yên chuyện : vì tôi nhớ mẹ.
Tuổi đời chồng chất nhưng thỉnh thoảng, trong một khung cảnh nào đó, nghe một ca đoàn trình bày một bài nhạc sống động, tự nhiên lòng tôi cứ rung lên và nước mắt trào ra. Mới đây nhất, khi nhìn cha mẹ, anh chị em say sưa hát “Khi hoa nở miền Cana” trong ngày kỷ niệm 10 năm thành hôn của tôi nơi quê nhà...
Nguyện xin Giêsu thương mến cho duyên tình mãi nở hoa
Nguyện xin Giêsu đến trong nhà cho đời hòa tiếng ca
tôi không thể nào cầm được những giọt nước mắt. Khung cảnh gia đình, dòng nhạc và tâm tình của anh chị em cuồn cuộn trong tôi, cứ thế dâng trào qua những giọt nước mắt.
Muốn để cho con được ngon giấc nên tôi thường nhẹ nhàng ẵm từng đứa vào nhà, đặt vào giường cho chúng ngủ tiếp tục. Có một ngày con gái tôi thú nhận là “chỉ giả bộ ngủ vì thích được ba ẵm vào nhà”, chuyện này làm sống dậy trong tôi một kỷ niệm ngày xưa...
Một buổi trưa tại Bình-chính (Phan-rang), lúc đó cha đang dạy học giúp cha Báu, vào năm 1962 hoặc 1963 gì đó, tôi là một đứa nhỏ nên phải đi ngủ trưa như mọi đứa nhỏ khác. Nói là ngủ trưa nhưng chắc cũng đã bắt đầu buổi chiều vì tôi chỉ nằm nhà có một mình : cha lên lớp dạy và anh Sơn cũng đi học. Tỉnh lại sau giấc ngủ trưa nhưng còn nằm lơ mơ thì cha đi về nhà nhân lúc nghỉ giải lao giữa buổi (lớp học chỉ cách đó vài chục thước); tôi vẫn nhắm mắt vờ như đang say ngủ, không hiểu tại sao cha lại tới ẵm tôi lên vừa đi qua đi lại vừa hát...
« Ôi mẫu thân con trông cậy suốt đời í a hãy xót thương, vì ngoài Mẹ ra thì nào con biết trông ai... » điệu nhạc bài hát cha ru đánh động lòng tôi khiến tôi tự nhiên chảy nước mắt, làm cho cha phải hỏi tôi tại sao lại khóc. Không biết giải thích thế nào nên tôi phải phịa đại ra cho yên chuyện : vì tôi nhớ mẹ.
Tuổi đời chồng chất nhưng thỉnh thoảng, trong một khung cảnh nào đó, nghe một ca đoàn trình bày một bài nhạc sống động, tự nhiên lòng tôi cứ rung lên và nước mắt trào ra. Mới đây nhất, khi nhìn cha mẹ, anh chị em say sưa hát “Khi hoa nở miền Cana” trong ngày kỷ niệm 10 năm thành hôn của tôi nơi quê nhà...
Nguyện xin Giêsu thương mến cho duyên tình mãi nở hoa
Nguyện xin Giêsu đến trong nhà cho đời hòa tiếng ca
tôi không thể nào cầm được những giọt nước mắt. Khung cảnh gia đình, dòng nhạc và tâm tình của anh chị em cuồn cuộn trong tôi, cứ thế dâng trào qua những giọt nước mắt.
Bình Chính
Tháng 5, 1962 - Cha đang trong tình trạng không có việc làm. Hình như cha vừa thôi dạy học ở trường Chính Tâm (Phan Thiết), lúc này trường còn mang tên Ngô Đình Khôi (bây giờ là trường chuyên Trần Hưng Đạo). Linh Mục Nguyễn trọng Báu là bạn học với cha lúc ở Tiểu chủng Viện được giao nhiệm vụ coi xứ đạo mới tại Bình Chính, Phan Rang. Vì xứ còn rất mới, chưa có cơ cấu, đoàn thể, và cần người trông coi nhà thờ nên cha Báu đã rủ cha đi làm việc với ngài. Công việc của cha là tập hát, đánh đờn nhà thờ, dạy học 2 lớp sau cùng của bực tiểu học, đó là lớp Nhì và lớp Nhất, tương đương với lớp Năm và lớp Sáu bây giờ. Cha mang theo anh và anh Thạch. Thạch là nhi đồng 5 tuổi, nên chỉ ăn ngủ và làm búp bê cho người lớn chơi. Cha Báu rất thích Thạch vì em mũm mĩm dễ thương và hót như vẹt. Cha Báu bày cho Thạch một số câu tiếng Pháp. Mỗi khi có khách tới, đều kêu Thạch ra trình diễn, và cả cha lẫn con đều lấy làm thích thú. Anh lúc này học lớp Nhì.
Không biết cha được trả lương ra sao, nhưng cuộc sống bình dị thoải mái. Cả 3 cha con ăn cơm bên nhà xứ với cha Báu.
Trong thời gian ở với cha, mình quen được các chú đi tu TCV Sao biển, là con cha Báu, về ghé thăm cha: chú Khanh và chú Tộ. Đi TCV được vài năm thì 2 chú này đều bị đuổi vì học lực kém. Khi mình bắt đầu vô học Sao Biển vào năm 1964 thì 2 chú này không còn ở đó nữa. Vào cuộc Hội Ngộ SB2008, mình đã gặp lại 2 anh Khanh và Tộ, và cả 2 đều nhắc lại kỷ niệm ở Bình Chính với 3 cha con.
Có những chúa nhật, trời nắng đẹp, lễ ra, cha mượn thuyền chèo chơi trên sông. Vào thời này Bình chính còn ít người, nước sông nước biển trong xanh, vắng vẻ. Cha mua cùi dừa khô và bánh tráng mang theo lên thuyền. Bánh tráng dày ăn với cùi dừa già, rất ngon. Vị béo ngậy của dừa và vị mặn mặn bùi bùi của bánh tráng quyện vào nhau cho mình một cảm giác sảng khoái sung sướng !
Trong thời gian 3 cha con ở Phan rang, những lúc cần liên lạc với mẹ ở nhà, anh được giao cho trách nhiệm giao liên. Đi bằng xe đò tuyến đường Phan Rang – Phan thiết. Lúc đó anh còn quá nhỏ, vừa nhỏ tuổi (9 tuổi), vừa nhỏ con, nên hành khách trên xe thấy anh tí tẹo mà đi một mình lầm lì im lặng, ai cũng thắc mắc bình luận lung tung và có vẻ ái ngại cho anh. Anh nghe hiểu hết, nhưng không trả lời gì cả. Bây giờ nghĩ lại thì thấy xã hội VN vào thời buổi đó thật an toàn, không ai làm hại ai, không có những cảnh cướp dựt, bắt cóc hay hành hung gì cả. Anh cứ đi đi về về như thế nhiều lần, một mình một góc trên xe, mà lần nào cũng xuôi chảy.
Có một lần chú Điều Lai khê ra Bình chính tìm cha. Anh còn nhỏ, nhưng nghe loáng thoáng câu chuyện là chú ấy cần tiền gấp mang về để cứu vợ con bị vc bắt và đòi tiền chuộc. Cha xoay xở cho chú ấy một số tiền, rồi cho anh về theo để cầm tiền về cho mẹ. Vì anh còn nhỏ, nên không biết số tiền là bao nhiêu, nhưng chắc là khá lớn vì cha bỏ tiền vô túi quần tây của anh, rồi may lại. Trên xe, chú Điều hỏi thăm anh ra sao đó mà chú ấy biết được là anh có mang tiền về cho mẹ. Nội dung câu chuyện ra sao để dẫn tới việc chú ấy biết là anh cầm tiền cha gửi về cho mẹ thì anh hoàn toàn không nhớ, nhưng việc chú ấy ghé miệng cắn chỉ ở mép túi quần để moi tiền ra thì anh nhớ rõ. Về sau, mới phát hiện là chú ấy rơi vào bài bạc cá độ, nên đã dàn cảnh như thế.
(Chị Tuyết cũng được cha đem ra Phan Rang ăn Tết. Chị nhớ đợt này được mẹ sắm cho một bộ đồ thật đẹp có bông màu xanh lá mạ. Đêm 30 tết người ta đốt pháo chị tưởng là bắn súng sợ muốn trối chết chui xuống gầm giường !)
Không biết cha được trả lương ra sao, nhưng cuộc sống bình dị thoải mái. Cả 3 cha con ăn cơm bên nhà xứ với cha Báu.
Trong thời gian ở với cha, mình quen được các chú đi tu TCV Sao biển, là con cha Báu, về ghé thăm cha: chú Khanh và chú Tộ. Đi TCV được vài năm thì 2 chú này đều bị đuổi vì học lực kém. Khi mình bắt đầu vô học Sao Biển vào năm 1964 thì 2 chú này không còn ở đó nữa. Vào cuộc Hội Ngộ SB2008, mình đã gặp lại 2 anh Khanh và Tộ, và cả 2 đều nhắc lại kỷ niệm ở Bình Chính với 3 cha con.
Có những chúa nhật, trời nắng đẹp, lễ ra, cha mượn thuyền chèo chơi trên sông. Vào thời này Bình chính còn ít người, nước sông nước biển trong xanh, vắng vẻ. Cha mua cùi dừa khô và bánh tráng mang theo lên thuyền. Bánh tráng dày ăn với cùi dừa già, rất ngon. Vị béo ngậy của dừa và vị mặn mặn bùi bùi của bánh tráng quyện vào nhau cho mình một cảm giác sảng khoái sung sướng !
Trong thời gian 3 cha con ở Phan rang, những lúc cần liên lạc với mẹ ở nhà, anh được giao cho trách nhiệm giao liên. Đi bằng xe đò tuyến đường Phan Rang – Phan thiết. Lúc đó anh còn quá nhỏ, vừa nhỏ tuổi (9 tuổi), vừa nhỏ con, nên hành khách trên xe thấy anh tí tẹo mà đi một mình lầm lì im lặng, ai cũng thắc mắc bình luận lung tung và có vẻ ái ngại cho anh. Anh nghe hiểu hết, nhưng không trả lời gì cả. Bây giờ nghĩ lại thì thấy xã hội VN vào thời buổi đó thật an toàn, không ai làm hại ai, không có những cảnh cướp dựt, bắt cóc hay hành hung gì cả. Anh cứ đi đi về về như thế nhiều lần, một mình một góc trên xe, mà lần nào cũng xuôi chảy.
Có một lần chú Điều Lai khê ra Bình chính tìm cha. Anh còn nhỏ, nhưng nghe loáng thoáng câu chuyện là chú ấy cần tiền gấp mang về để cứu vợ con bị vc bắt và đòi tiền chuộc. Cha xoay xở cho chú ấy một số tiền, rồi cho anh về theo để cầm tiền về cho mẹ. Vì anh còn nhỏ, nên không biết số tiền là bao nhiêu, nhưng chắc là khá lớn vì cha bỏ tiền vô túi quần tây của anh, rồi may lại. Trên xe, chú Điều hỏi thăm anh ra sao đó mà chú ấy biết được là anh có mang tiền về cho mẹ. Nội dung câu chuyện ra sao để dẫn tới việc chú ấy biết là anh cầm tiền cha gửi về cho mẹ thì anh hoàn toàn không nhớ, nhưng việc chú ấy ghé miệng cắn chỉ ở mép túi quần để moi tiền ra thì anh nhớ rõ. Về sau, mới phát hiện là chú ấy rơi vào bài bạc cá độ, nên đã dàn cảnh như thế.
(Chị Tuyết cũng được cha đem ra Phan Rang ăn Tết. Chị nhớ đợt này được mẹ sắm cho một bộ đồ thật đẹp có bông màu xanh lá mạ. Đêm 30 tết người ta đốt pháo chị tưởng là bắn súng sợ muốn trối chết chui xuống gầm giường !)
Chắc em còn nhớ
Chi Tuyết đi tu thì Trinh mới có một tuổi thôi nên hai chị em không có kỷ niệm gì đặc biệt với nhau. Anh Sơn và Thạch nhắc đến tính “lì đòn”, cả dám đương đầu của Trinh làm chị cũng nhớ một vài chuyện tương tự như vầy vào dịp về thăm nhà :
Một là vào dịp tết Mậu Thân năm 1968. Mẹ và mấy chị em chạy loạn tá túc trong nhà ông Yên. Ở đậu nhà người ta với một đàn con lóc nhóc tám đứa, phải lo nào là ăn uống rồi giặt giũ tắm rửa, chắc chắn là mẹ phải vất vả lắm. Nhất là lúc ấy Thuỷ còn bé xíu, không biết được mấy tháng ? Còn Trinh lúc ấy có lẽ được năm tuổi.
Chiều đến chị giúp mẹ tắm rửa cho các em. Nhưng có một buổi chiều, không biết Trinh “khó ở” sao đó, nên nhất định không chịu để cho chị tắm mà cứ đòi mẹ phải tắm cho bằng được. Có lẽ cô nàng “ngại” với chị chăng ! Thật ra là vì chị đi vắng suốt, lâu lâu mới về nhà một lần nên cảm giác xa lạ giữa chị em là đương nhiên. Trinh không chịu để cho chị tắm, mà mẹ thì phải bồng em Thuỷ, không buông ra được. Năn nỉ mãi không thuyết phục được, mẹ bực quá vừa rầy la vừa đét cho. Bị đét đau Trinh khóc và hét tướng lên nhưng có lẽ vẫn không chịu thua, nên cuối cùng mẹ cũng phải tắm cho . . . được việc. Con không nhường thì mẹ phải . . . nhịn vậy !
(Trinh : Em vẫn nhớ sự cố này, không phải chỉ xảy ra trong thời gian chạy loạn mà trước và sau thời gian đó đã có vấn đề này rồi. Nguyên nhân là hồi nhỏ em rất sợ ngộp nước nên rất sợ bị dội nước lên đầu mà mẹ tắm thì mẹ có cách làm cho em không sợ còn chị Tuyết thì chắc không hiểu ý nên đã dội cả gàu nước lên đầu em thế là em hét tướng lên và sau đó không chịu cho chị tắm nữa, em nhớ sau này khi thấy chị Vân cứ dội nước lên đầu thoải mái em có thắc mắc và chị Vân mới chỉ cho em là mình cứ cúi đầu xuống thì nước nó sẽ chảy theo tóc mà không chảy vào mặt và em đã thử nghiệm từ từ mới quen chuyện đó. Vào hè năm 2001, dịp các anh về thăm nhà, trước lúc anh Sơn ra đi, chị Vân , em và Thủy có xuống SG chơi. Thủy dẫn theo cháu Loan Giao lúc đó gần 7 tuổi. Buổi chiều lúc anh Sơn chuẩn bị ra sân bay Thủy mới tắm cho bé Loan Giao, nhưng cái vòi sen (ở nhà chị Giang) lúc mở nước thì nó phát ra tiếng kêu xè xè thế là Loan Giao khóc toáng lên vì sợ. Thủy lúc đó vì đang vội nên quyết tắm cho xong thế là hai mẹ con ồn ào trong phòng tắm và em được nghe lại câu nói mẹ đã từng nói với em khi nhỏ đó là “con hay lôi thôi như vậy mẹ sẽ không cho đi đâu nữa”. Trẻ con có sự cảm nhận khác người lớn và chẳng đứa nào thích lôi thôi làm gì.)
Một lần khác thì đụng độ với cha. Cũng vào dịp chị về nghỉ hè ở nhà. Lúc đó nhà mình đã dời đi và xây nhà mới phía trên nhà cũ vài căn. Nếu chị nhớ không lầm thì đang trong bữa cơm. Chị không còn nhớ cụ thể nguyên nhân là gì nhưng nhớ là cha rất tức giận. Cha cầm mình lắm rồi nhưng Trinh vẫn cương quyết không nhượng bộ. Cuối cùng thì Trinh bị đòn rất đau, chắc là em còn nhớ ?
Chị thấy, có lẽ, ở Trinh một trong những nét đặc trưng của quê hương miền Trung ta. Một vùng đất nhiều khó khăn, phải luôn tranh đấu với thiên nhiên với ý thức hệ để sống còn. Các anh hùng dân tộc, các bậc anh tài, đa số xuất thân từ đây. Rất can cường mạnh mẽ, không dễ gì khuất phục ! Trinh có đầu óc tranh đấu, tự lập, dám sống chết cho lý tưởng cho lẽ phải theo suy nghĩ của mình. Điều đặc biệt nơi Trinh là cái cá tính khá mạnh mẽ ấy được lồng trong một giọng nói và cử chỉ rất ư là “êm như ru chiều hôm gió mát” vậy ! Trinh mà làm chính trị thì chắc là tuyệt !
(Giang: Lạ nhỉ! Từ khi em có trí khôn và tiếp xúc với chị Trinh cho đến giờ thì hoàn toàn không có hình ảnh nào về tính lì lợm, cứng cỏi như các anh chị lớn kể mà toàn thấy ở chị thái độ dịu dàng. Làm chính trị ở đâu thì chưa biết nhưng đã có ngay ở trong gia đình và có liên hệ với em, đó là lần chị Trinh vận động những người có liên quan để cha thay đổi suy nghĩ và cho em tới trường học năm 1982. Bây giờ mỗi khi có chuyện gì cần phải bàn tính thì chị Trinh vẫn là một người mà em không thể không hỏi ý kiến.) (Sơn: Giang và các em sau này chỉ biết chị Trinh rõ khi chị ấy đã lớn, đã đi học Cần thơ và quay trở về. Với tuổi đời và kinh nghiệm sống thì cá tính của mình cũng được dần dần thuần hóa. Chị Trinh cũng không là một ngoại lệ. Cho nên không lạ gì mà em không nhận ra khía cạnh cương quyết, vững mạnh của chị.)
Một là vào dịp tết Mậu Thân năm 1968. Mẹ và mấy chị em chạy loạn tá túc trong nhà ông Yên. Ở đậu nhà người ta với một đàn con lóc nhóc tám đứa, phải lo nào là ăn uống rồi giặt giũ tắm rửa, chắc chắn là mẹ phải vất vả lắm. Nhất là lúc ấy Thuỷ còn bé xíu, không biết được mấy tháng ? Còn Trinh lúc ấy có lẽ được năm tuổi.
Chiều đến chị giúp mẹ tắm rửa cho các em. Nhưng có một buổi chiều, không biết Trinh “khó ở” sao đó, nên nhất định không chịu để cho chị tắm mà cứ đòi mẹ phải tắm cho bằng được. Có lẽ cô nàng “ngại” với chị chăng ! Thật ra là vì chị đi vắng suốt, lâu lâu mới về nhà một lần nên cảm giác xa lạ giữa chị em là đương nhiên. Trinh không chịu để cho chị tắm, mà mẹ thì phải bồng em Thuỷ, không buông ra được. Năn nỉ mãi không thuyết phục được, mẹ bực quá vừa rầy la vừa đét cho. Bị đét đau Trinh khóc và hét tướng lên nhưng có lẽ vẫn không chịu thua, nên cuối cùng mẹ cũng phải tắm cho . . . được việc. Con không nhường thì mẹ phải . . . nhịn vậy !
(Trinh : Em vẫn nhớ sự cố này, không phải chỉ xảy ra trong thời gian chạy loạn mà trước và sau thời gian đó đã có vấn đề này rồi. Nguyên nhân là hồi nhỏ em rất sợ ngộp nước nên rất sợ bị dội nước lên đầu mà mẹ tắm thì mẹ có cách làm cho em không sợ còn chị Tuyết thì chắc không hiểu ý nên đã dội cả gàu nước lên đầu em thế là em hét tướng lên và sau đó không chịu cho chị tắm nữa, em nhớ sau này khi thấy chị Vân cứ dội nước lên đầu thoải mái em có thắc mắc và chị Vân mới chỉ cho em là mình cứ cúi đầu xuống thì nước nó sẽ chảy theo tóc mà không chảy vào mặt và em đã thử nghiệm từ từ mới quen chuyện đó. Vào hè năm 2001, dịp các anh về thăm nhà, trước lúc anh Sơn ra đi, chị Vân , em và Thủy có xuống SG chơi. Thủy dẫn theo cháu Loan Giao lúc đó gần 7 tuổi. Buổi chiều lúc anh Sơn chuẩn bị ra sân bay Thủy mới tắm cho bé Loan Giao, nhưng cái vòi sen (ở nhà chị Giang) lúc mở nước thì nó phát ra tiếng kêu xè xè thế là Loan Giao khóc toáng lên vì sợ. Thủy lúc đó vì đang vội nên quyết tắm cho xong thế là hai mẹ con ồn ào trong phòng tắm và em được nghe lại câu nói mẹ đã từng nói với em khi nhỏ đó là “con hay lôi thôi như vậy mẹ sẽ không cho đi đâu nữa”. Trẻ con có sự cảm nhận khác người lớn và chẳng đứa nào thích lôi thôi làm gì.)
Một lần khác thì đụng độ với cha. Cũng vào dịp chị về nghỉ hè ở nhà. Lúc đó nhà mình đã dời đi và xây nhà mới phía trên nhà cũ vài căn. Nếu chị nhớ không lầm thì đang trong bữa cơm. Chị không còn nhớ cụ thể nguyên nhân là gì nhưng nhớ là cha rất tức giận. Cha cầm mình lắm rồi nhưng Trinh vẫn cương quyết không nhượng bộ. Cuối cùng thì Trinh bị đòn rất đau, chắc là em còn nhớ ?
Chị thấy, có lẽ, ở Trinh một trong những nét đặc trưng của quê hương miền Trung ta. Một vùng đất nhiều khó khăn, phải luôn tranh đấu với thiên nhiên với ý thức hệ để sống còn. Các anh hùng dân tộc, các bậc anh tài, đa số xuất thân từ đây. Rất can cường mạnh mẽ, không dễ gì khuất phục ! Trinh có đầu óc tranh đấu, tự lập, dám sống chết cho lý tưởng cho lẽ phải theo suy nghĩ của mình. Điều đặc biệt nơi Trinh là cái cá tính khá mạnh mẽ ấy được lồng trong một giọng nói và cử chỉ rất ư là “êm như ru chiều hôm gió mát” vậy ! Trinh mà làm chính trị thì chắc là tuyệt !
(Giang: Lạ nhỉ! Từ khi em có trí khôn và tiếp xúc với chị Trinh cho đến giờ thì hoàn toàn không có hình ảnh nào về tính lì lợm, cứng cỏi như các anh chị lớn kể mà toàn thấy ở chị thái độ dịu dàng. Làm chính trị ở đâu thì chưa biết nhưng đã có ngay ở trong gia đình và có liên hệ với em, đó là lần chị Trinh vận động những người có liên quan để cha thay đổi suy nghĩ và cho em tới trường học năm 1982. Bây giờ mỗi khi có chuyện gì cần phải bàn tính thì chị Trinh vẫn là một người mà em không thể không hỏi ý kiến.) (Sơn: Giang và các em sau này chỉ biết chị Trinh rõ khi chị ấy đã lớn, đã đi học Cần thơ và quay trở về. Với tuổi đời và kinh nghiệm sống thì cá tính của mình cũng được dần dần thuần hóa. Chị Trinh cũng không là một ngoại lệ. Cho nên không lạ gì mà em không nhận ra khía cạnh cương quyết, vững mạnh của chị.)
Móng tay bé nhỏ
Một chiều không có cha mẹ ở nhà, tôi rủ Hải (con chú Bích) qua nhà chơi, hai đứa chơi trò làm lễ : thay phiên nhau làm cha và người giúp lễ với Vân, Phong, Trinh làm giáo dân. Lõm bõm vài câu la-tinh và cũng cúi mình lắc tới, lắc lui như thiệt.
Bàn thờ đã chuẩn bị, tới giờ hành lễ, mấy đứa từ ngoài thềm bước vào nhà, tôi mạnh tay kéo đóng cánh cửa mà không để ý em bé Trinh đang vịn tay vào kẹt cửa. Sau tiếng « sầm » cửa đóng là tiếng Trinh thét lên, tôi hoảng hốt cầm tay Trinh lên thoa dỗ : trời ơi, ngón tay bé nhỏ bị kẹt làm bung rớt luôn móng tay ra ngoài, máu ứa ra.
Dĩ nhiên là không còn có lễ nữa và tôi còn sợ bị ăn đòn, vội vàng đi lấy dầu khuynh diệp bôi và quấn băng vết thương lại. Nhờ Trinh lì đòn và lại không thóc mách nên lúc mẹ về nhà chỉ biết Trinh bị đau tay và đã được chăm sóc, tránh cho tôi một trận đòn đáng tội.
(Sơn: Thạch nhận xét Trinh “lì đòn” là quá đúng, anh hoàn toàn đồng ý.Trinh rất gan dạ, thuộc loại gan cóc tía. Tuy là phận nữ lưu, nhưng nàng ta can đảm mạnh mẽ hơn nhiều đứa con trai, gan dạ hơn anh là điều chắc chắn rồi. Cũng giống như Phong, anh lúc nhỏ rất nhút nhát sợ sệt, sợ la mắng, sợ đau, hay tủi thân, hay khóc. Ai lớn tiếng nạt nộ cũng làm anh rất buồn, nơi nào có gây gỗ đánh đập anh vội vàng lẩn tránh vì sợ hãi. Còn Trinh thì không dễ làm cho cô bé sợ đâu. Anh còn nhớ rõ hình ảnh Trinh bị mẹ phạt trói tay. Lúc đó Trinh độ 1 tuổi rưỡi, làm điều gì đó không phải mà vì Trinh lì quá mẹ không dạy được như những đứa con khác nên mẹ phải trói tay bắt ngồi im cho sợ. Cảm tưởng của anh lúc đó là hình như Trinh cũng không sợ gì mấy, cứ ngồi lỳ, khóc nho nhỏ và lâu lâu gầm lên phản đối ).
Bàn thờ đã chuẩn bị, tới giờ hành lễ, mấy đứa từ ngoài thềm bước vào nhà, tôi mạnh tay kéo đóng cánh cửa mà không để ý em bé Trinh đang vịn tay vào kẹt cửa. Sau tiếng « sầm » cửa đóng là tiếng Trinh thét lên, tôi hoảng hốt cầm tay Trinh lên thoa dỗ : trời ơi, ngón tay bé nhỏ bị kẹt làm bung rớt luôn móng tay ra ngoài, máu ứa ra.
Dĩ nhiên là không còn có lễ nữa và tôi còn sợ bị ăn đòn, vội vàng đi lấy dầu khuynh diệp bôi và quấn băng vết thương lại. Nhờ Trinh lì đòn và lại không thóc mách nên lúc mẹ về nhà chỉ biết Trinh bị đau tay và đã được chăm sóc, tránh cho tôi một trận đòn đáng tội.
(Sơn: Thạch nhận xét Trinh “lì đòn” là quá đúng, anh hoàn toàn đồng ý.Trinh rất gan dạ, thuộc loại gan cóc tía. Tuy là phận nữ lưu, nhưng nàng ta can đảm mạnh mẽ hơn nhiều đứa con trai, gan dạ hơn anh là điều chắc chắn rồi. Cũng giống như Phong, anh lúc nhỏ rất nhút nhát sợ sệt, sợ la mắng, sợ đau, hay tủi thân, hay khóc. Ai lớn tiếng nạt nộ cũng làm anh rất buồn, nơi nào có gây gỗ đánh đập anh vội vàng lẩn tránh vì sợ hãi. Còn Trinh thì không dễ làm cho cô bé sợ đâu. Anh còn nhớ rõ hình ảnh Trinh bị mẹ phạt trói tay. Lúc đó Trinh độ 1 tuổi rưỡi, làm điều gì đó không phải mà vì Trinh lì quá mẹ không dạy được như những đứa con khác nên mẹ phải trói tay bắt ngồi im cho sợ. Cảm tưởng của anh lúc đó là hình như Trinh cũng không sợ gì mấy, cứ ngồi lỳ, khóc nho nhỏ và lâu lâu gầm lên phản đối ).
Ươm mầm ơn gọi
“Tuyết Sơn, chuông rồi, dậy đi lễ con!” Lúc còn nhỏ, đó là điệp khúc tôi nghe được vào mỗi buổi sáng sớm, lúc còn đang ngon giấc. Thế là dù khó khăn, nhưng vì là bổn phận hằng ngày, nên phải chóng vánh ngồi dậy đọc kinh dâng mình to tiếng (Sơn đọc nhỏ là bị nhắc), chui ra khỏi mùng, đi rửa mặt, mặc áo dài, chải đầu rồi theo cha đi lễ. Hai chị em đi theo hai bên cha như hai Thiên thần hộ mệnh vậy. Vừa đi vừa đọc kinh lần hạt, nghe “chú giải” các mầu nhiệm Mân Côi cùng những đề tài liên quan đến việc đạo.
Chính trong những buổi đi xem lễ này mà tôi được nghe dạy cách cầu nguyện, cách sống làm con Chúa và làm con trong gia đình . . ..
Khoảng 9, 10 tuổi gì đó, có một lần cha nói rằng : “con bây giờ lớn rồi, hằng ngày khi rước Chúa vào lòng, hãy hỏi xem Chúa muốn con sống cuộc đời nào : lập gia đình như cha mẹ hay đi tu.” Lúc đó dù không hiểu mô tê chi cả nhưng cũng vâng lời cha và cầu nguyện với Chúa thường xuyên như vậy mỗi lần đi rước lễ. Tai chẳng hề nghe Chúa trả lời ra sao cả, thế nhưng qua thực tế cuộc sống, Chúa đã bày tỏ ý muốn của Người. Bây giờ nghĩ lại, nếu không có sự nhắc nhở khuyến khích của cha mẹ thì có lẽ cuộc sống của tôi đã khác đi.
Sau đó vài năm khi học hết lớp 6, khoảng 11 tuổi thì cha hỏi lại, xem quyết định như thế nào.
Phải trả lời cho một chọn lựa về một sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc đời nhưng rất mông lung mơ hồ mù mịt ! Làm sao ở tuổi này mà có thể hiểu được tu là thế nào, lập gia đình là làm sao, điều nào nên chọn lựa. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại quyết định “đi tu”. Thế là cha thì lo liên hệ giấy tờ thủ tục gia nhập còn mẹ thì lo sắm sanh quần áo đồ đạc vật dụng theo một bản liệt kê những món đồ phải sắm mà các sơ gửi cho.
(Thạch : Em còn nhớ, trong danh sách những đồ phải sắm, có một món được ghi là corset. Cha không biết đó là gì, trong tự điển Pháp-Việt thì dịch là áo nịt ngực đàn bà, nên cha phân vân mãi không biết đó có phải là soutien-gorge hay không. Không biết rốt cuộc thì cha có sắm được cho chị Tuyết cái corset hay đã bỏ qua món này)
(Chị Tuyết : Thạch nhớ giỏi thật ! Corset khác với soutien-gorge. Chị đã vào nhà Dòng thiếu món đồ dùng ấy (và một số món khác nữa) mà thật sự chị đã chưa cần tới vì còn bé quá! Khoảng 8 năm sau thì trong nhà dòng, các soeurs mới thay corset bằng soutien-gorge cho hợp với sức khoẻ.)
Từ nhỏ đến nay chưa bao giờ bước chân đi xa một mình. Phen này vì cha mẹ không đưa đi được nên phải khăn gói lên đường với một chị bạn chưa mấy quen ở Vinh Phú (Chị này sau mấy tháng vào nhà Dòng, không biết vì lý do gì đã trở về gia đình.). Cha mua vé xe cho ngồi sau lưng tài xế rồi dặn ông ấy là chừng nào đến chợ Bà Chiểu thì cho nó xuống. Vào Sài Gòn, tự tìm đến nhà Dòng theo địa chỉ cha ghi (lộn số) ở bì thư gửi người phụ trách. Sau đó nhà Dòng chuyển đi Cùlao Giêng thuộc huyện Chơ Mới tỉnh An Giang, nhập vào Đệ tử viện với sĩ số năm 1964 là 130 chị lớn nhỏ
Thế là từ đó,dù chưa dứt nợ trần (còn yêu đời và được đời yêu !) vẫn cứ tiếp tục đi theo con đường đã một lần mơ hồ chọn lựa. Mãi đến năm sáu năm sau thì sự chọn lựa đó mới trở thành sự chọn lựa có suy nghĩ và tự do thật.
Thời gian này chưa có điện thoại như bây giờ, cha thường theo dõi con qua những lá thư thường xuyên hắng tháng. Ngày xưa thư từ đều bị kiểm duyệt hết, nên các bà thầy Đệ Tử đều biết danh ông Cẩn với những lá thư cho con gái.
Tôi vẫn còn giữ những lá thư ấy cho đến hôm nay như những báu vật của cuộc đời. Lúc đó mỗi lần nhận được thư thì mừng nhưng lại rất ngại viết thư trả lời vì không nghĩ ra được điều gì để viết cho đầy trang. Cha cứ trách mãi tại sao không thấy con hồi âm, đến nỗi có lần sơ phụ trách đã bắt phải ngồi trước mặt bà để viết thư trả lời cho xong.
Đi tu một năm, tức là khoảng tháng 6 năm 1965 mới được trở về thăm nhà.
Đối với một đứa trẻ 12 tuổi phải xa gia đình lâu như vậy là cả một vấn đề. Nhớ lúc mới vào, tuần lễ đầu tiên trôi qua như cả một thế kỷ !!! Tôi tự nhủ : khiếp, 4 lần như vậy mới được một tháng mà một năm là 12 tháng, biết đến bao giờ ??? Thêm vào đó các chị thấy bé quá nên xúm lại ghẹo : “em bé đi tu có mang bình sữa theo không ?”, “Ôi xem này mẹ cô bé ấy đo người của cô bé để may mùng mền đây !” (Mẹ mua cho cái mùng nhỏ xíu và cắt cho nửa cái chăn để đem đi). Có những chị khác nhớ nhà quá, mới vào buổi sáng là buổi trưa đã trốn về rồi, Sơ phụ trách mới nói : “còn con, bé quá, thôi trở về nhà đi” nhưng tôi vẫn không bao giờ có ý thối lui. Sơ phải cho một chị lớn hơn giúp giặt đồ và lo cho những chuyện lặt vặt.
Còn nhớ năm đầu tiên trở về nhà, vì đường bộ đi không được, cha phải liên lạc vào Sài Gòn, ở nhà cậu Khoa thì phải, mua vé máy bay cho về Phan Thiết. Thế là cô bé 13 tuổi phải tự mình đi liên lạc với phòng vé rồi ra phi trường, lên máy bay. Cả là một cuộc phiêu lưu đối với một cô bé nhà quê ra tỉnh ! Về tới Phan Thiết, thấy cha xuất hiện, đang chờ sẵn với chiếc xe đạp. Mừng quá là mừng ! Nên nhớ thời đó chưa có điện thoại nên việc liên lạc cho một sự kiện như vậy hẳn không phải là tầm thường đâu.
Về đến nhà, sau một năm, cao hơn được một cái đầu và nặng thêm 11 kí lô tức là được 33 kí.
(Sơn: Kỷ niệm năm đầu tiên chị về nhà là một cái đầu tóc uốn quăn và giọng nói lai tiếng miền Nam, nghe rất lạ. Lúc đó em cũng đi tu được một năm rồi, nhưng em ở gần nhà và hay được nghỉ, nên mỗi năm sau 3 tháng học là được về nhà).
Sau những ngày đầu tái ngộ với gia đình là mừng vui hoan hỉ. Nhưng sau đó là đến màn kiểm tra việc học hành. Vì năm sau không trở lại Cù lao Giêng nữa mà đi học ở Cần Thơ nên phải đem tất cả đồ đạc tập vở về nhà. Cha moi ra : « Tại sao có những trang vở bỏ trống … không làm bài ? Tại sao bài kiểm có điểm dưới trung bình vân vân và vân vân ? Thế là cha “bố” cho một trận tơi bời nên thân, đến nỗi từ sau đó trở đi là bắt đầu học hành nghiêm chỉnh cho đến bây giờ !!! Đúng là năm qua đã quá mê chơi đến nỗi bài kiểm tra cũng chẳng thèm màng !
Quả cha mẹ là trung gian của ơn Chúa.
Chúa không đáp trả lời cầu nguyện một cách hiển nhiên nhưng Chúa nhờ cha mẹ hướng dẫn dìu dắt trong cuộc đời. Niềm vui, niềm hạnh phúc trong cuộc sống dâng hiến Chúa ban cho hôm nay, chính là nhờ sự đóng góp vô cùng quý báu của cha mẹ về vật chất mà nhất là tinh thần. Nhờ lời cầu nguyện và gương lành của mẹ cha suốt đến ngày hôm nay !
(Sơn: em đã có dịp gặp và quen thân nhiều tu sĩ, nam nữ đủ cả, nhưng em phải công nhận một điều, đó là cách sống đời tu của chị rất là gương mẫu. Đi tu như chị mới đáng tu, bởi vì chị hướng trọn tâm tư vào việc phục vụ Chúa và tha nhân, không hề nghĩ đến bản thân, đến gia đình, không bon chen, không đòi hỏi điều gì cho mình, sống nhiệm nhặt, đơn sơ, khó nghèo và vâng phục. Quá là tuyệt ! Gặp chị, làm quen với các sơ trong dòng của chị, em có nhận xét là các chị thật là hạnh phúc và sung sướng. Em biết là chị rất khiêm tốn, chị sẽ không nhận những lời hay lời đẹp của em đâu, nhưng đó là sự thật hoàn toàn khách quan).
(Tuyết : Các em có chị đi tu nhưng có lẽ nhiều em không có cơ hội để tìm hiểu tu là thế nào, tu để làm gì ? Đáp lời cho Sơn ở đây chị chỉ xin tóm gọn một vài ý niệm chủ yếu thôi.
Chị vui mừng tạ ơn Chúa và cám ơn về nhận định của Sơn. Nhưng quả thật, không phải vì chị đã sống tốt như em kể trên mà đáng với lời khen ngợi và được hạnh phúc đâu. Ngược lại, chính vì chị cảm được hạnh phúc trong tình Chúa yêu thương mà có thể chấp nhận hi sinh tất cả để sống cho Chúa và cho mọi người. Những đòi hỏi của đời tu, với con người tự nhiên, không dễ dàng chút nào. Có “ thức đêm mới biết đêm dài”. Chỉ duy có ơn Chúa, tình yêu của Chúa mới giúp cho chị (người tu) khám phá ra được kho tàng hạnh phúc trong tâm hồn. Rồi như người phú thương trong Phúc âm (Mt.13,44-45), sau khi tìm thấy viên ngọc quý, đã sẵn sàng bán hết tất cả để mua lấy nó. Một khi đã yêu và được yêu, người ta sẵn sàng đánh đổi tất cả cho tình yêu, cho hạnh phúc của mình. Những ai biết yêu thật sự chắc chắn sẽ hiểu được điều đó. Chúa nói “Từ bỏ để được gấp trăm” và “chết để được sống” là vậy. Đó là điều mà Sơn cảm nhận được một phần khi tiếp xúc với người tu.
Ơn mà chị (người tu sĩ) có được trong cuộc đời hơi khác biệt một chút nhưng không đặc biệt hoặc ưu biệt hơn ai cả. Như mặt trời soi sáng cho tất cả, Chúa cũng ban ơn cho tất cả mọi người, kể cả những ai sống đời sống gia đình như vậy.
Niềm hạnh phúc, ân huệ Chúa dành cho mỗi người con Chúa luôn đầy và đủ.
Vấn đề là ở thái độ tỉnh táo và sáng suốt để phân biệt đâu là hạnh phúc thật đâu là giả. Là thái độ luôn tin tưởng và đón nhận tất cả từ Chúa.)
Chính trong những buổi đi xem lễ này mà tôi được nghe dạy cách cầu nguyện, cách sống làm con Chúa và làm con trong gia đình . . ..
Khoảng 9, 10 tuổi gì đó, có một lần cha nói rằng : “con bây giờ lớn rồi, hằng ngày khi rước Chúa vào lòng, hãy hỏi xem Chúa muốn con sống cuộc đời nào : lập gia đình như cha mẹ hay đi tu.” Lúc đó dù không hiểu mô tê chi cả nhưng cũng vâng lời cha và cầu nguyện với Chúa thường xuyên như vậy mỗi lần đi rước lễ. Tai chẳng hề nghe Chúa trả lời ra sao cả, thế nhưng qua thực tế cuộc sống, Chúa đã bày tỏ ý muốn của Người. Bây giờ nghĩ lại, nếu không có sự nhắc nhở khuyến khích của cha mẹ thì có lẽ cuộc sống của tôi đã khác đi.
Sau đó vài năm khi học hết lớp 6, khoảng 11 tuổi thì cha hỏi lại, xem quyết định như thế nào.
Phải trả lời cho một chọn lựa về một sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc đời nhưng rất mông lung mơ hồ mù mịt ! Làm sao ở tuổi này mà có thể hiểu được tu là thế nào, lập gia đình là làm sao, điều nào nên chọn lựa. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại quyết định “đi tu”. Thế là cha thì lo liên hệ giấy tờ thủ tục gia nhập còn mẹ thì lo sắm sanh quần áo đồ đạc vật dụng theo một bản liệt kê những món đồ phải sắm mà các sơ gửi cho.
(Thạch : Em còn nhớ, trong danh sách những đồ phải sắm, có một món được ghi là corset. Cha không biết đó là gì, trong tự điển Pháp-Việt thì dịch là áo nịt ngực đàn bà, nên cha phân vân mãi không biết đó có phải là soutien-gorge hay không. Không biết rốt cuộc thì cha có sắm được cho chị Tuyết cái corset hay đã bỏ qua món này)
(Chị Tuyết : Thạch nhớ giỏi thật ! Corset khác với soutien-gorge. Chị đã vào nhà Dòng thiếu món đồ dùng ấy (và một số món khác nữa) mà thật sự chị đã chưa cần tới vì còn bé quá! Khoảng 8 năm sau thì trong nhà dòng, các soeurs mới thay corset bằng soutien-gorge cho hợp với sức khoẻ.)
Từ nhỏ đến nay chưa bao giờ bước chân đi xa một mình. Phen này vì cha mẹ không đưa đi được nên phải khăn gói lên đường với một chị bạn chưa mấy quen ở Vinh Phú (Chị này sau mấy tháng vào nhà Dòng, không biết vì lý do gì đã trở về gia đình.). Cha mua vé xe cho ngồi sau lưng tài xế rồi dặn ông ấy là chừng nào đến chợ Bà Chiểu thì cho nó xuống. Vào Sài Gòn, tự tìm đến nhà Dòng theo địa chỉ cha ghi (lộn số) ở bì thư gửi người phụ trách. Sau đó nhà Dòng chuyển đi Cùlao Giêng thuộc huyện Chơ Mới tỉnh An Giang, nhập vào Đệ tử viện với sĩ số năm 1964 là 130 chị lớn nhỏ
Thế là từ đó,dù chưa dứt nợ trần (còn yêu đời và được đời yêu !) vẫn cứ tiếp tục đi theo con đường đã một lần mơ hồ chọn lựa. Mãi đến năm sáu năm sau thì sự chọn lựa đó mới trở thành sự chọn lựa có suy nghĩ và tự do thật.
Thời gian này chưa có điện thoại như bây giờ, cha thường theo dõi con qua những lá thư thường xuyên hắng tháng. Ngày xưa thư từ đều bị kiểm duyệt hết, nên các bà thầy Đệ Tử đều biết danh ông Cẩn với những lá thư cho con gái.
Tôi vẫn còn giữ những lá thư ấy cho đến hôm nay như những báu vật của cuộc đời. Lúc đó mỗi lần nhận được thư thì mừng nhưng lại rất ngại viết thư trả lời vì không nghĩ ra được điều gì để viết cho đầy trang. Cha cứ trách mãi tại sao không thấy con hồi âm, đến nỗi có lần sơ phụ trách đã bắt phải ngồi trước mặt bà để viết thư trả lời cho xong.
Đi tu một năm, tức là khoảng tháng 6 năm 1965 mới được trở về thăm nhà.
Đối với một đứa trẻ 12 tuổi phải xa gia đình lâu như vậy là cả một vấn đề. Nhớ lúc mới vào, tuần lễ đầu tiên trôi qua như cả một thế kỷ !!! Tôi tự nhủ : khiếp, 4 lần như vậy mới được một tháng mà một năm là 12 tháng, biết đến bao giờ ??? Thêm vào đó các chị thấy bé quá nên xúm lại ghẹo : “em bé đi tu có mang bình sữa theo không ?”, “Ôi xem này mẹ cô bé ấy đo người của cô bé để may mùng mền đây !” (Mẹ mua cho cái mùng nhỏ xíu và cắt cho nửa cái chăn để đem đi). Có những chị khác nhớ nhà quá, mới vào buổi sáng là buổi trưa đã trốn về rồi, Sơ phụ trách mới nói : “còn con, bé quá, thôi trở về nhà đi” nhưng tôi vẫn không bao giờ có ý thối lui. Sơ phải cho một chị lớn hơn giúp giặt đồ và lo cho những chuyện lặt vặt.
Còn nhớ năm đầu tiên trở về nhà, vì đường bộ đi không được, cha phải liên lạc vào Sài Gòn, ở nhà cậu Khoa thì phải, mua vé máy bay cho về Phan Thiết. Thế là cô bé 13 tuổi phải tự mình đi liên lạc với phòng vé rồi ra phi trường, lên máy bay. Cả là một cuộc phiêu lưu đối với một cô bé nhà quê ra tỉnh ! Về tới Phan Thiết, thấy cha xuất hiện, đang chờ sẵn với chiếc xe đạp. Mừng quá là mừng ! Nên nhớ thời đó chưa có điện thoại nên việc liên lạc cho một sự kiện như vậy hẳn không phải là tầm thường đâu.
Về đến nhà, sau một năm, cao hơn được một cái đầu và nặng thêm 11 kí lô tức là được 33 kí.
(Sơn: Kỷ niệm năm đầu tiên chị về nhà là một cái đầu tóc uốn quăn và giọng nói lai tiếng miền Nam, nghe rất lạ. Lúc đó em cũng đi tu được một năm rồi, nhưng em ở gần nhà và hay được nghỉ, nên mỗi năm sau 3 tháng học là được về nhà).
Sau những ngày đầu tái ngộ với gia đình là mừng vui hoan hỉ. Nhưng sau đó là đến màn kiểm tra việc học hành. Vì năm sau không trở lại Cù lao Giêng nữa mà đi học ở Cần Thơ nên phải đem tất cả đồ đạc tập vở về nhà. Cha moi ra : « Tại sao có những trang vở bỏ trống … không làm bài ? Tại sao bài kiểm có điểm dưới trung bình vân vân và vân vân ? Thế là cha “bố” cho một trận tơi bời nên thân, đến nỗi từ sau đó trở đi là bắt đầu học hành nghiêm chỉnh cho đến bây giờ !!! Đúng là năm qua đã quá mê chơi đến nỗi bài kiểm tra cũng chẳng thèm màng !
Quả cha mẹ là trung gian của ơn Chúa.
Chúa không đáp trả lời cầu nguyện một cách hiển nhiên nhưng Chúa nhờ cha mẹ hướng dẫn dìu dắt trong cuộc đời. Niềm vui, niềm hạnh phúc trong cuộc sống dâng hiến Chúa ban cho hôm nay, chính là nhờ sự đóng góp vô cùng quý báu của cha mẹ về vật chất mà nhất là tinh thần. Nhờ lời cầu nguyện và gương lành của mẹ cha suốt đến ngày hôm nay !
(Sơn: em đã có dịp gặp và quen thân nhiều tu sĩ, nam nữ đủ cả, nhưng em phải công nhận một điều, đó là cách sống đời tu của chị rất là gương mẫu. Đi tu như chị mới đáng tu, bởi vì chị hướng trọn tâm tư vào việc phục vụ Chúa và tha nhân, không hề nghĩ đến bản thân, đến gia đình, không bon chen, không đòi hỏi điều gì cho mình, sống nhiệm nhặt, đơn sơ, khó nghèo và vâng phục. Quá là tuyệt ! Gặp chị, làm quen với các sơ trong dòng của chị, em có nhận xét là các chị thật là hạnh phúc và sung sướng. Em biết là chị rất khiêm tốn, chị sẽ không nhận những lời hay lời đẹp của em đâu, nhưng đó là sự thật hoàn toàn khách quan).
(Tuyết : Các em có chị đi tu nhưng có lẽ nhiều em không có cơ hội để tìm hiểu tu là thế nào, tu để làm gì ? Đáp lời cho Sơn ở đây chị chỉ xin tóm gọn một vài ý niệm chủ yếu thôi.
Chị vui mừng tạ ơn Chúa và cám ơn về nhận định của Sơn. Nhưng quả thật, không phải vì chị đã sống tốt như em kể trên mà đáng với lời khen ngợi và được hạnh phúc đâu. Ngược lại, chính vì chị cảm được hạnh phúc trong tình Chúa yêu thương mà có thể chấp nhận hi sinh tất cả để sống cho Chúa và cho mọi người. Những đòi hỏi của đời tu, với con người tự nhiên, không dễ dàng chút nào. Có “ thức đêm mới biết đêm dài”. Chỉ duy có ơn Chúa, tình yêu của Chúa mới giúp cho chị (người tu) khám phá ra được kho tàng hạnh phúc trong tâm hồn. Rồi như người phú thương trong Phúc âm (Mt.13,44-45), sau khi tìm thấy viên ngọc quý, đã sẵn sàng bán hết tất cả để mua lấy nó. Một khi đã yêu và được yêu, người ta sẵn sàng đánh đổi tất cả cho tình yêu, cho hạnh phúc của mình. Những ai biết yêu thật sự chắc chắn sẽ hiểu được điều đó. Chúa nói “Từ bỏ để được gấp trăm” và “chết để được sống” là vậy. Đó là điều mà Sơn cảm nhận được một phần khi tiếp xúc với người tu.
Ơn mà chị (người tu sĩ) có được trong cuộc đời hơi khác biệt một chút nhưng không đặc biệt hoặc ưu biệt hơn ai cả. Như mặt trời soi sáng cho tất cả, Chúa cũng ban ơn cho tất cả mọi người, kể cả những ai sống đời sống gia đình như vậy.
Niềm hạnh phúc, ân huệ Chúa dành cho mỗi người con Chúa luôn đầy và đủ.
Vấn đề là ở thái độ tỉnh táo và sáng suốt để phân biệt đâu là hạnh phúc thật đâu là giả. Là thái độ luôn tin tưởng và đón nhận tất cả từ Chúa.)
"Con đường xưa em đi"
Đây không phải là tựa đề của một bài hát nổi tiếng thuở nào, mà là bóng dáng một con đường làng đong đầy kỉ niệm thời niên thiếu.
Là một con đường đất, đơn sơ và bé nhỏ có lẽ chỉ vừa đủ cho một chiếc xe du lịch lưu thông. Nó bắt đầu từ đường cái, bên hông nhà mình rồi uyển chuyển hướng vào xóm đạo phía trong, xóm nằm gần bờ biển, tận cùng bằng một cái dốc thật cao leo lên tận nhà thờ xứ Vinh Thủy.
Thời gian kéo dài khoảng sáu năm. Trên con đường dài độ hơn một cây số này, mà ngày ngày từ sáng sớm tinh sương, khi bầu trời còn mát lạnh và tối đen, ba cha con (khi có cha ở nhà) đến nhà thờ dự Thánh lễ. Dạo này mẹ ít khi đi vì phải ở nhà với em bé. Hai bên đường vắng tanh. Từ bên ngoài đường cái đi vào, có những khoảng đất hoang phía trái, gai góc mọc um tùm, nhiều nhất là gai xương rồng. Bên phải, đây đó có vài mảnh đất trồng khoai, trồng đậu. Ngày xưa người ta chưa có phân hoá học nên dùng phân chuồng để bón cây. Người ta đựng phân bò phân heo sền sệt trong thúng và gánh đi, có khi làm vung vãi ra cả đường.
Vào một buổi sáng nọ, không biết có Sơn không nhỉ ? Đang lúi húi đi lễ, được khoảng chừng một phần tư đường, dưới ánh trăng hạ tuần mờ mờ ảo ảo, chị bỗng nhìn thấy hai vật gì tròn tròn đen thui nằm im lìm trên vệ đường bên phải. Nghĩ là con cọp, vì dạo ấy có lúc nghe đồn có cọp về làng. Thất kinh hồn vía chị rón rén thụt lùi vừa dụi mắt để quan sát thật kỹ xem nó có nhúc nhích không. Vì đi lễ là việc bổn phận quan trọng nên không hề nghĩ đến chuyện quay trờ về nhà. Suy đi nghĩ lại chị lượm đá ném thử, thấy «nó » vẫn cứ bất động, lạ thật ! Định thần một lát, thế là a lê hấp, chị nhắm mắt nhắm mũi ba chân bốn cẳng nín thở chay bán sống bán chết. Qua khỏi, ngoái cổ nhìn lại, may mắn quá, nó vẫn còn nằm im !! Sáng ra khi xem lễ xong trở về nhà, thì ra «nó» không chi khác hơn là hai thúng phân bò !!! (Sơn: em nhớ chuyện 2 thúng phân, vì sau khi chùn chân dừng bước vì vật lạ, lúc đó cả 2 chị em đứng lại bàn tính và lấy đá ném. Chuyện cọp về làng là có thật, vì vào khoảng năm 1960, người ta đã bắn được một con cọp đi lạc từ trên rừng xuống vùng biển của Vinh Thủy. Em đã đi coi người ta để nó nằm bên hông nhà thờ và bịt râu lại)
Một lần khác cũng đoạn đường này về phía bên trái. Khi đi lễ sáng về với Sơn, chị đã ngồi bệt xuống vệ đường vì quá đói bụng không thể đi được nữa, mặc dù chỉ còn một phần tư đường là về đến nhà. Đó là vì chiều hôm trước cha cho sang Vinh Phú chơi nhà chú Điều. Mừng quá đến nỗi không còn muốn ăn cơm. Kết quả là tảng sáng phải rũ liệt vì đói. Mấy lần rán gượng dậy mà vẫn không nổi. Sơn nhìn chị ngao ngán… Chị Tuyết ơi cố gắng lên nào! Đường vắng tanh, không một bóng ai qua lại cả. Ngồi đây mãi cũng chết thôi. Một hai ba …nào đứng dậy. Sơn lấy hết sức bình sinh, nắm cánh tay lôi chị đứng dậy và may mắn dìu chị lê lết được đến nhà. Một lần là tởn đến già ! (Sơn: nhìn lại quãng tuổi thơ, từ nhỏ đến độ 10 tuổi, thì em với chị thật gần nhau, vì 2 chị em chỉ cách nhau 1 tuổi, tính theo tuổi tây. Cho nên đi đâu cũng đi chung, cãi nhau đều đặn, và có với nhau nhiều kỷ niệm. Vậy mà chuyện chị bị xỉu vì đói thì em lại không hề có một ý niệm nào hết)
Đoạn đường kế tiếp, bên phải, có vườn trồng cây đào lộn hột, bên trái có những giồng cát nổi cao lên. Mồ mả từ đời nào đầy cả trong đó chen lẫn với những bụi cây gọi là cam đường và mai dương. Đặc biệt mai dương là một loại cây dại có gai, đến mùa có trái chín màu đỏ cam vừa đẹp vừa hấp dẫn trẻ con vì cái vị vừa chua vừa ngọt vừa chát của nó.Những ngày nào được thầy cho nghỉ sớm hoặc ra chơi lâu giờ, chị Dần và chị rủ nhau vào đó kiếm trái. Phát hiện ra được một trái, nhiều khi phải vất vả lắm để vạch bụi gai ra mới hái được nó. Mê hái trái nên ban ngày dù có đi vào trong mồ mả cũng không thèm để ý hoặc nghĩ ngợi gì cả. Nhưng ban đêm, những lần phải đi lễ một mình, ngang qua đoạn đường này là chị nhắm mắt chay thục mạng vì sợ ma ở trong các mồ mả chui ra !
Con đường tiếp tục hơi đổ dốc xuống. Phía bên phải bây giờ là một vùng đất thấp bằng phẳng kéo dài tít mãi đến chân các động cát trắng trong Vinh Thủy. Cư dân ở đây là người miền Nam. Họ trồng đủ các loại rau diếp, rau cải, cà, mướp, khoai… Buổi chiều họ tưới và hái rau, chất từng gánh để sáng sớm gánh ra chợ bán. Chen trong vườn rau là những hàng cau mà những cái mo khô cũng là một món đồ chơi cho trẻ con. Một đứa được sung sướng ngồi chèm bẹp vào trong mo, hai tay nắm chặt cuống lá. Đứa kia nắm phần lá phía trên lôi đi xềnh xệch trên đất. Cứ vậy thay phiên nhau, mặt mày đỏ ké đầy bụi bặm vì nhiều khi té bò lăn bò càng trên đất.
Đến nhà bà Út phía bên trái là nhìn thấy dốc nhà thờ rồi. Những cây dừa được trồng hai bên lề đường mà trên các cành lá đong đưa theo gió, các chú bò vừng của Sơn thường bám vào. Đoạn đường này thẳng tắp và mát mẻ, rất thơ mộng. Gió từ biển đưa vào, gió thổi vi vu, gió đưa hương đồng nội hắt lên người đi bộ tạo một cảm giác nhẹ nhàng mênh mang. Mỗi buổi tan trường, thầy trò cùng nhau quay trở về nhà, tụm năm tụm ba giăng kín ngang con đường, vừa đi vừa líu lo trò chuyện.
Cuối cùng, phải vận dụng sức lực mà leo con dốc cuối đường này. Còn trẻ thì không sao nhưng đối với người có tuổi thì chắc hẳn là vất vả. Đi xe đạp thì đến đây là phải xuống xe dắt bộ lên. Khi đi xuống dốc mà không để ý cũng dễ bị té vì trơn trợt. Lên hết con dốc là hết đường. Mệt nhọc, ta có thể dừng chân nghỉ ngơi để bồi dưỡng tâm hồn nơi ngôi thánh đường Vinh Thuỷ. (Rẽ phải một lát từ bên hông nhà thờ trên một vùng toàn cát là cát thì tới trường học).
Cứ như vậy, mỗi ngày ít là hai bận, đi học và đi lễ, trên con đường này. Nói ít là, bởi vì có những ngày cha con còn dắt nhau đi viếng mình thánh Chúa sau bữa trưa nữa. Những ngày lễ, ngày Chúa nhật, người người ở làng ngoài dập dìu rủ nhau, áo quần chỉnh tề lịch sự vui vẻ đếm bước. Chỉ thỉnh thoảng có ít người đi xe đạp, còn xe gắn máy lại càng hoạ hiếm.
Cám ơn, cám ơn thật nhiều, hỡi con đường xưa rất thân thương !
Đường dắt tôi đến trường, đường đưa tôi đến nhà Thiên Chúa. Cỏ cây bên đường hẳn là được nghe bao lời kinh, bao lời nhắc nhở nhủ khuyên, bao câu chuyện, bao tiếng cười vui thuở nào. Con đường của cuộc sống. Con đường gặp gỡ người với người. Con đường dẫn dắt tuổi thơ đi vào tương lai, xây dựng cuộc đời. Con đường chuyên chở bao niềm vui của vô tư thanh thản thời niên thiếu.
Năm 1973 lúc gia đình dời lên Ban mê thuột, cô bé năm xưa đã bỏ lại con đường mà vô tình không nhớ nói lời cám ơn giã biệt. Năm 1995, anh Sơn anh Thạch trở về Viêt Nam lần đầu, có ghé Phan Thiết nhà Phong. Dịp này mấy anh chị em kéo nhau ra hóng mát Mũi Né. Trên chiếc xe du lịch đi ngang Vinh Thuỷ, tôi dõi mắt để tìm lại lối mòn quen thuộc. Nhưng còn đâu nữa, hình ảnh con đường cũ thân yêu ? Con người, cuộc sống thay đổi, họ sửa sang luôn con đường. Thời gian hơn hai mươi năm qua đã xoá mờ những vết chân kỷ niệm !
Đường xưa ơi, còn nhớ không cô bé nhỏ năm xưa ? Hình ảnh bên ngoài đã quá nhiều đổi thay, xin hỏi «hồn thiêng » có còn đó hay chăng ? Có bao giờ mình được găp lại nhau ???
Là một con đường đất, đơn sơ và bé nhỏ có lẽ chỉ vừa đủ cho một chiếc xe du lịch lưu thông. Nó bắt đầu từ đường cái, bên hông nhà mình rồi uyển chuyển hướng vào xóm đạo phía trong, xóm nằm gần bờ biển, tận cùng bằng một cái dốc thật cao leo lên tận nhà thờ xứ Vinh Thủy.
Thời gian kéo dài khoảng sáu năm. Trên con đường dài độ hơn một cây số này, mà ngày ngày từ sáng sớm tinh sương, khi bầu trời còn mát lạnh và tối đen, ba cha con (khi có cha ở nhà) đến nhà thờ dự Thánh lễ. Dạo này mẹ ít khi đi vì phải ở nhà với em bé. Hai bên đường vắng tanh. Từ bên ngoài đường cái đi vào, có những khoảng đất hoang phía trái, gai góc mọc um tùm, nhiều nhất là gai xương rồng. Bên phải, đây đó có vài mảnh đất trồng khoai, trồng đậu. Ngày xưa người ta chưa có phân hoá học nên dùng phân chuồng để bón cây. Người ta đựng phân bò phân heo sền sệt trong thúng và gánh đi, có khi làm vung vãi ra cả đường.
Vào một buổi sáng nọ, không biết có Sơn không nhỉ ? Đang lúi húi đi lễ, được khoảng chừng một phần tư đường, dưới ánh trăng hạ tuần mờ mờ ảo ảo, chị bỗng nhìn thấy hai vật gì tròn tròn đen thui nằm im lìm trên vệ đường bên phải. Nghĩ là con cọp, vì dạo ấy có lúc nghe đồn có cọp về làng. Thất kinh hồn vía chị rón rén thụt lùi vừa dụi mắt để quan sát thật kỹ xem nó có nhúc nhích không. Vì đi lễ là việc bổn phận quan trọng nên không hề nghĩ đến chuyện quay trờ về nhà. Suy đi nghĩ lại chị lượm đá ném thử, thấy «nó » vẫn cứ bất động, lạ thật ! Định thần một lát, thế là a lê hấp, chị nhắm mắt nhắm mũi ba chân bốn cẳng nín thở chay bán sống bán chết. Qua khỏi, ngoái cổ nhìn lại, may mắn quá, nó vẫn còn nằm im !! Sáng ra khi xem lễ xong trở về nhà, thì ra «nó» không chi khác hơn là hai thúng phân bò !!! (Sơn: em nhớ chuyện 2 thúng phân, vì sau khi chùn chân dừng bước vì vật lạ, lúc đó cả 2 chị em đứng lại bàn tính và lấy đá ném. Chuyện cọp về làng là có thật, vì vào khoảng năm 1960, người ta đã bắn được một con cọp đi lạc từ trên rừng xuống vùng biển của Vinh Thủy. Em đã đi coi người ta để nó nằm bên hông nhà thờ và bịt râu lại)
Một lần khác cũng đoạn đường này về phía bên trái. Khi đi lễ sáng về với Sơn, chị đã ngồi bệt xuống vệ đường vì quá đói bụng không thể đi được nữa, mặc dù chỉ còn một phần tư đường là về đến nhà. Đó là vì chiều hôm trước cha cho sang Vinh Phú chơi nhà chú Điều. Mừng quá đến nỗi không còn muốn ăn cơm. Kết quả là tảng sáng phải rũ liệt vì đói. Mấy lần rán gượng dậy mà vẫn không nổi. Sơn nhìn chị ngao ngán… Chị Tuyết ơi cố gắng lên nào! Đường vắng tanh, không một bóng ai qua lại cả. Ngồi đây mãi cũng chết thôi. Một hai ba …nào đứng dậy. Sơn lấy hết sức bình sinh, nắm cánh tay lôi chị đứng dậy và may mắn dìu chị lê lết được đến nhà. Một lần là tởn đến già ! (Sơn: nhìn lại quãng tuổi thơ, từ nhỏ đến độ 10 tuổi, thì em với chị thật gần nhau, vì 2 chị em chỉ cách nhau 1 tuổi, tính theo tuổi tây. Cho nên đi đâu cũng đi chung, cãi nhau đều đặn, và có với nhau nhiều kỷ niệm. Vậy mà chuyện chị bị xỉu vì đói thì em lại không hề có một ý niệm nào hết)
Đoạn đường kế tiếp, bên phải, có vườn trồng cây đào lộn hột, bên trái có những giồng cát nổi cao lên. Mồ mả từ đời nào đầy cả trong đó chen lẫn với những bụi cây gọi là cam đường và mai dương. Đặc biệt mai dương là một loại cây dại có gai, đến mùa có trái chín màu đỏ cam vừa đẹp vừa hấp dẫn trẻ con vì cái vị vừa chua vừa ngọt vừa chát của nó.Những ngày nào được thầy cho nghỉ sớm hoặc ra chơi lâu giờ, chị Dần và chị rủ nhau vào đó kiếm trái. Phát hiện ra được một trái, nhiều khi phải vất vả lắm để vạch bụi gai ra mới hái được nó. Mê hái trái nên ban ngày dù có đi vào trong mồ mả cũng không thèm để ý hoặc nghĩ ngợi gì cả. Nhưng ban đêm, những lần phải đi lễ một mình, ngang qua đoạn đường này là chị nhắm mắt chay thục mạng vì sợ ma ở trong các mồ mả chui ra !
Con đường tiếp tục hơi đổ dốc xuống. Phía bên phải bây giờ là một vùng đất thấp bằng phẳng kéo dài tít mãi đến chân các động cát trắng trong Vinh Thủy. Cư dân ở đây là người miền Nam. Họ trồng đủ các loại rau diếp, rau cải, cà, mướp, khoai… Buổi chiều họ tưới và hái rau, chất từng gánh để sáng sớm gánh ra chợ bán. Chen trong vườn rau là những hàng cau mà những cái mo khô cũng là một món đồ chơi cho trẻ con. Một đứa được sung sướng ngồi chèm bẹp vào trong mo, hai tay nắm chặt cuống lá. Đứa kia nắm phần lá phía trên lôi đi xềnh xệch trên đất. Cứ vậy thay phiên nhau, mặt mày đỏ ké đầy bụi bặm vì nhiều khi té bò lăn bò càng trên đất.
Đến nhà bà Út phía bên trái là nhìn thấy dốc nhà thờ rồi. Những cây dừa được trồng hai bên lề đường mà trên các cành lá đong đưa theo gió, các chú bò vừng của Sơn thường bám vào. Đoạn đường này thẳng tắp và mát mẻ, rất thơ mộng. Gió từ biển đưa vào, gió thổi vi vu, gió đưa hương đồng nội hắt lên người đi bộ tạo một cảm giác nhẹ nhàng mênh mang. Mỗi buổi tan trường, thầy trò cùng nhau quay trở về nhà, tụm năm tụm ba giăng kín ngang con đường, vừa đi vừa líu lo trò chuyện.
Cuối cùng, phải vận dụng sức lực mà leo con dốc cuối đường này. Còn trẻ thì không sao nhưng đối với người có tuổi thì chắc hẳn là vất vả. Đi xe đạp thì đến đây là phải xuống xe dắt bộ lên. Khi đi xuống dốc mà không để ý cũng dễ bị té vì trơn trợt. Lên hết con dốc là hết đường. Mệt nhọc, ta có thể dừng chân nghỉ ngơi để bồi dưỡng tâm hồn nơi ngôi thánh đường Vinh Thuỷ. (Rẽ phải một lát từ bên hông nhà thờ trên một vùng toàn cát là cát thì tới trường học).
Cứ như vậy, mỗi ngày ít là hai bận, đi học và đi lễ, trên con đường này. Nói ít là, bởi vì có những ngày cha con còn dắt nhau đi viếng mình thánh Chúa sau bữa trưa nữa. Những ngày lễ, ngày Chúa nhật, người người ở làng ngoài dập dìu rủ nhau, áo quần chỉnh tề lịch sự vui vẻ đếm bước. Chỉ thỉnh thoảng có ít người đi xe đạp, còn xe gắn máy lại càng hoạ hiếm.
Cám ơn, cám ơn thật nhiều, hỡi con đường xưa rất thân thương !
Đường dắt tôi đến trường, đường đưa tôi đến nhà Thiên Chúa. Cỏ cây bên đường hẳn là được nghe bao lời kinh, bao lời nhắc nhở nhủ khuyên, bao câu chuyện, bao tiếng cười vui thuở nào. Con đường của cuộc sống. Con đường gặp gỡ người với người. Con đường dẫn dắt tuổi thơ đi vào tương lai, xây dựng cuộc đời. Con đường chuyên chở bao niềm vui của vô tư thanh thản thời niên thiếu.
Năm 1973 lúc gia đình dời lên Ban mê thuột, cô bé năm xưa đã bỏ lại con đường mà vô tình không nhớ nói lời cám ơn giã biệt. Năm 1995, anh Sơn anh Thạch trở về Viêt Nam lần đầu, có ghé Phan Thiết nhà Phong. Dịp này mấy anh chị em kéo nhau ra hóng mát Mũi Né. Trên chiếc xe du lịch đi ngang Vinh Thuỷ, tôi dõi mắt để tìm lại lối mòn quen thuộc. Nhưng còn đâu nữa, hình ảnh con đường cũ thân yêu ? Con người, cuộc sống thay đổi, họ sửa sang luôn con đường. Thời gian hơn hai mươi năm qua đã xoá mờ những vết chân kỷ niệm !
Đường xưa ơi, còn nhớ không cô bé nhỏ năm xưa ? Hình ảnh bên ngoài đã quá nhiều đổi thay, xin hỏi «hồn thiêng » có còn đó hay chăng ? Có bao giờ mình được găp lại nhau ???
Chơi ác với em ... Phong
Ở Phan Thiết, thời gian công trình xây dựng lao xá ở trước nhà mình gần hoàn thành. Buổi chiều sau giờ cơm, năm chị em hay dắt nhau vào đó chơi. Chị Tuyết bồng Phong lúc đó nhỏ nhất, mới chập chững biết đi thôi. Những khu nhà được xây lên, đã ngăn ra nhưng còn trống rỗng, chưa lót nền, chưa có khung cửa. Mấy chị em vào đó chơi cút bắt với nhau.
Chị nhớ có lần mấy chị em bàn tính với nhau đi trốn Phong. Để em vào trong một căn phòng, chơi đùa với em một lát rồi lén rình lúc em đang mải lo chuyện khác, không để ý, tất cả rón rén bỏ trốn hết để Phong ở lại một mình. Chơi nghịch với cát một lát, khi quay lại, cậu bé Phong chợt thấy mình lẻ loi cô đơn giữa một khoảng không gian vừa vắng vẻ vừa âm u, vì lúc ấy trời lại gần tối nữa. Ôi anh chị đâu hết cả rồi ? Nguy quá ! Phong hoảng sợ, thế là oà lên mếu máo khóc. Đâu có biết rằng lúc ấy đám anh chị chết tiệt đang núp dưới khung cửa sổ, lén nhìn vào cười khúc khích một cách vô tội vạ. Thấy em nửa ngơ ngác nửa sợ hãi thì thương lắm nhưng lại thích thú trước vẻ ngây ngô tội nghiệp của em. Anh chị chơi ác với em như vậy đó ! Chẳng biết có phải vậy mà Phong hơi bị nhút nhát không ?
Chị nhớ có lần mấy chị em bàn tính với nhau đi trốn Phong. Để em vào trong một căn phòng, chơi đùa với em một lát rồi lén rình lúc em đang mải lo chuyện khác, không để ý, tất cả rón rén bỏ trốn hết để Phong ở lại một mình. Chơi nghịch với cát một lát, khi quay lại, cậu bé Phong chợt thấy mình lẻ loi cô đơn giữa một khoảng không gian vừa vắng vẻ vừa âm u, vì lúc ấy trời lại gần tối nữa. Ôi anh chị đâu hết cả rồi ? Nguy quá ! Phong hoảng sợ, thế là oà lên mếu máo khóc. Đâu có biết rằng lúc ấy đám anh chị chết tiệt đang núp dưới khung cửa sổ, lén nhìn vào cười khúc khích một cách vô tội vạ. Thấy em nửa ngơ ngác nửa sợ hãi thì thương lắm nhưng lại thích thú trước vẻ ngây ngô tội nghiệp của em. Anh chị chơi ác với em như vậy đó ! Chẳng biết có phải vậy mà Phong hơi bị nhút nhát không ?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)