19/4/10
Ông địa Đồng Hưu.
Địa điểm đầu tiên cha đi nhận công tác là Lệ Thanh 1 ở Pleiku. Cha đi một mình và ở đó được vài ba tháng thì xin đổi về Đồng Hưu. Trong một lần về thăm nhà, cha đưa anh đi theo. Anh không nhớ rõ năm nào, vì lúc đó còn quá nhỏ nên khái niệm thời gian thật mơ hồ. Chỉ biết là anh đã biết đọc biết viết và làm toán cộng trừ nhân chia được rồi, nhưng chưa đến trường mà học ở nhà do mẹ hay cậu dạy. Bây giờ nhẩm tính thời gian đi ngược lại, thì có lẽ đó là khoảng đầu năm 1960.
Đồng Hưu là một địa điểm mới được khai hoang, nằm trong rừng sâu. Xe ủi đất ủi sập từng khoảng rừng rộng lớn, rồi gom lại và đốt. Những nơi cành cây và thân cây được gom lại để đốt được gọi là đống gom. Sau khi đốt dọn sạch sẽ và đất đai sẵn sàng để canh tác thì phân chia lô, rồi cho người tới ở. Anh nhớ khi mới tới, điều đầu tiên cha dặn là buổi tối đi ra ngoài nếu có lính gác hỏi “ai đó” thì phải đứng im la lớn lên “tui là con ông địa”, không được chạy, vì chạy có thể bị bắn vì lính nghi ngờ có kẻ gian đột nhập. Ngoài ra cha còn dặn kỹ là đừng đi chơi gần những đống gom, vì nhiều khi nó cháy chưa hết, hay là nó đang còn cháy ngầm ở dưới mà lớp tro ở trên thì nguội, không biết chạy vô thì bị chết phỏng. Cha còn kể thêm trước đó một thời gian có đứa nhỏ bằng tuổi anh chạy chơi rồi bị bỏng hết cả người càng làm anh sợ và nhớ kỹ hơn nên không dám mon men đi đâu cả.
Hai cha con ở trong những dãy nhà lá, chia thành từng ngăn dành cho nhân viên hành chánh của chính phủ, có trạm Y tá, có vài tiểu đội lính. Vì địa điểm nằm ngay giữa rừng sâu, nên đêm lạnh và sáng sớm cũng như chiều tối sương mù la đà dày đặc mặt đất. Kỷ niệm anh nhớ khá rõ đó là đi tắm suối trong rừng. Không có phương tiện đào giếng vì nước ở quá sâu nên người ta chặn các khe nước nhỏ trong rừng lại thành từng vũng nước để dùng tắm giặt. Một buổi trưa ngủ dậy, cha đưa cho anh quần áo và dắt anh ra khu vực suối nói anh xuống tắm rồi cha trở về văn phòng làm việc. Nhìn xuống khe suối, thấy tiếng cười nói huyên náo, anh mắc cở và e ngại quá, nên đứng im trên đó luôn. Không biết lâu hay mau sau đó thì cha trở lại tìm anh để dẫn về, thấy anh vẫn đứng như trời trồng, không nhúc nhích gì cả. Cha la cho một trận, rồi dắt về. Anh cũng quên không nhớ là sau đó có trở lại tắm không hay ở dơ luôn như vậy.
Trong thời gian ở Đồng Hưu, anh còn nhớ có cô Y tá tên Hoàng, cô ta người miền Nam. Khi đi theo cha lên Đồng Hưu, anh chưa có dịp sống ở ngoài với người khác, nên vẫn giữ nguyên tiếng nói của vùng Nghệ An là “mô, tê, răng, rứa”. Cô Hoàng nghe anh nói như thế rất thích và cứ chọc để cho anh nói. Cô ta có lẽ là một người phụ nữ tầm 25 – 30 tuổi, không con nên thích con nít. Thấy anh thì khoái lắm rồi hay làm những đồ ăn đồ uống như nước chanh hột é dụ anh sang chơi, nhưng lúc đó anh thấy những món này rất lạ nên không thích. Hơn nữa, theo cách giáo dục của cha mẹ, mình không được tự tiện lấy đồ người khác cho, không được ăn uống bất cứ cái gì người khác mời, nếu không được cha mẹ cho phép, cho nên anh dầu có thích cũng không dám ăn.
Hai cha con ở với nhau được một thời gian, có lẽ là không lâu lắm, nhưng cái cảm giác của anh lúc bấy giờ là rất lâu, thì mẹ đưa cả nhà lên Đồng Hưu với cha. Có lẽ lúc này chị Tuyết đang nghỉ hè. Mẹ từ Phan thiết đi lên Đồng Hưu với 3 đứa con nhỏ trên tay, là chị Tuyết, 7 tuổi rưỡi, anh Thạch 2 tuổi rưỡi và chị Vân mới mấy tháng, hình như là 5 hay 6 tháng.
Dân chúng sinh sống ở địa điểm Đồng Hưu không biết xuất phát từ đâu, lúc đó anh còn quá nhỏ để lưu tâm đến những chi tiết như thế. Nhưng anh nhận xét là người dân chất phác dễ mến, và đặc biệt là rất quý trọng cha. Cha hay dẫn anh đi tới thăm các gia đình trong làng khi có dịp. Bây giờ vẫn còn nhớ kỷ niệm gia đình ông Duệ và những lần đi ăn cháo lươn tại nhà ông ta.
Một buổi tối trong nhà, sau bữa cơm tối Thạch chơi đùa trên giường, cứ đứng trên giường quăng mình xuống chiếc gối và la lối thích thú là “coi Thạch nhảy dù”. Nhảy một lát không biết trái miếng ra sao mà bị trặc tay, khúc cùi chỏ sưng vù. Phải tìm người đến nắn. Không biết ông thầy chữa bệnh trặc có đến ngay buổi tối hay không, nhưng hình ảnh còn lại là ông ta dùng một que nhang để hơ cánh tay của Thạch. Hình như không đau đớn gì vì không thấy Thạch la hét gì cả.
Một lần khác, đang lúc có khách khứa đông đúc tại địa điểm, cha có vẻ bận rộn nhiều, anh với chị Tuyết và một vài đứa bạn rủ nhau đi bộ thơ thẩn ra xa khỏi làng, trên con đường đất đỏ duy nhất từ ngoài đường cái dẫn vào. Lúc đó trời đã chiều, và bóng tối xuống thật mau. Không biết tại sao bỗng dưng anh có ý tưởng tinh nghịch là về nhà nói với cha rằng trên đường đi con thấy có biểu ngữ đề “Đả đảo Việt Nam Cộng Hòa”. Bây giờ anh quên nội dung chính xác lời anh nói với cha là gì, nhưng tựu trung là một dấu hiệu có sự lai vãng hay thăm viếng của cs trong vùng. Ngay sau đó, cha đã cho một nhóm lính mang súng ống đi thăm dò về phía mà anh với chị Tuyết mới đi chơi lúc nãy. Dĩ nhiên họ đã không tìm thấy gì khả nghi, nhưng họ không thể biết đích xác là anh đã bịa ra hay anh đã nhìn thấy thật những biểu ngữ bất thường như thế. Qua ngày hôm sau không ai nhắc lại chuyện đó nữa, mà cha cũng không nói thêm gì với anh. Cho đến bây giờ anh cũng không biết cha có nghi ngờ gì về sự bịa đặt của anh hay không.
Kỷ niệm cậu cháu
Một trong những ưu nét đặc biệt của cậu Trực mà Sơn diễn tả rất đúng là “cậu sống rất có tình có nghĩa”. Tuy nhiên cậu có phần bị ảnh hưởng bởi ý nghĩa của cái tên ông bà đặt cho, nên cậu rất ư là “trực tính”mà đặc biệt là rất nóng nảy ! Cậu nói liền các suy nghĩ của mình ở “thì một” cách dứt khoát không do dự nên đôi khi ít nhiều mang tính chủ quan và thiếu thông cảm.
Đối với cháu, vì có dịp tiếp xúc với cậu từ lúc còn nhỏ và gần gũi với cậu, dĩ nhiên là chỉ trước khi đi tu, nên có khá nhiều kỷ niệm với cậu.
Ngoài những lúc nóng nảy bực bội ra cậu có vẻ chững chạc khoan thai, ăn nói rất dí dỏm duyên dáng. Cậu nhái các giọng nói ở mìền quê nhà ta rất tài tình như “Kẻ Đoọng coõng mụ o” chẳng hạn. Cậu còn có máu văn nghệ, biết đàn violon, học giỏi.
Lúc nhà mình ở trên Quản Lợi, mỗi lần cậu về nghỉ phép là thế nào cũng có quà cho các cháu. Chắc là còn nhiều thứ khác nữa nhưng cháu nhớ có lần cậu mua cho hai chị em chiếc “tàu bay”. Vặn dây cốt lên làm quay cánh quạt phía trên, nâng máy bay lượn qua lượn lại, bay ra phía sau vườn đậu lên cả cành lá chuối. Ôi thật tuyệt vời dưới đôi mắt một đứa bé! Ngày xưa trẻ con mà có món đồ chơi tầm cỡ như vậy là quý hiếm và thích thú lắm rồi !
Thế rồi có một lần cậu dẫn cháu đi vào trong rừng chơi. Hình như rừng đó ở đâu xa xa phía sau nhà trên Quản Lợi. Nơi mà có lần cha đào được những ổ mối đem về cho gà ăn. Còn nấm mối thì đến mùa mưa có khi người ta đi lặt được cả thúng đem về cho nhà mình.
Trên con đường mòn nhỏ xíu dẫn bước vào rừng, mát mẻ, có những bông hoa dại xinh đẹp bên cạnh những cánh bướm đầy màu sắc. Thỉnh thoảng gặp những cây to không lồ đầy bóng mát với những dây leo chằng chịt. Xa xa tiếng chim rừng vang lên những âm thanh kỳ thú !
Cậu cháu đi chơi được một đỗi thì bỗng dưng cậu hỏi, cháu có muốn đi tiếp vào rừng nữa không ? Cháu thích lắm nên trả lời muốn đi nữa. Nhưng bất ngờ cậu nói : cháu muốn đi thì đi một mình vậy, còn cậu đi về đây ! Nghe vậy cháu cụt hứng vì sợ hãi. Con bé 4, 5 tuổi làm sao dám đi vào rừng một mình. Cháu nói ngay với cậu : vậy thì cháu đi về với cậu! Biết cháu sợ không dám đi cũng không dám về một mình, thế là cậu lại tấn công tiếp : bây giờ nếu cháu muốn về thì cứ về một mình, còn cậu đi tiếp vào rừng đây.
Chỉ có vậy mà hai cậu cháu dùng dằng với nhau mãi. Đối với một đứa con nít, lệ thuộc mọi sự nơi người lớn thì đó cũng là chuyện quan trọng lắm nên cháu vẫn còn nhớ đến bây giờ !
Trong những bức ảnh kỷ niệm, có hình cậu chụp chung với cha mẹ và 3 chị em Tuyết Sơn Hùng, còn một pô khác nữa là chụp chung hai cậu cháu. Nếu nhìn kỹ tấm hình thì sẽ thấy cái mặt của cháu “bí xị” vì mới bị cậu nạt cho trước khi chụp hình. Hôm ấy đi đến tiệm chụp hình với cậu, cháu mặc bộ quần áo cậu mới may cho, mang cả giày mới nữa. Trước khi chụp hình, ông “phó nhòm” đưa cho cháu một bó hoa bằng ny lông ôm vào mà chụp để nhìn cho lịch sự. Khổ một điều là ở nhà cha mẹ luôn căn dặn : ai đưa cho cái gì thì không được lấy, chỉ khi nào cha mẹ cho phép mới được lấy. Do đó mà cháu đâu có dám cầm lấy bó hoa ông thợ chụp ảnh đưa cho. Cậu quay qua trừng mắt nạt : “… người ta đưa cho sao mà không cầm lấy ?” Thế là im thin thít và riu ríu cầm lấy bó hoa. Tấm hình nay còn đó !
Thời gian cậu đi học ở Phan Thiết và ở trong gia đình mình. Cậu thường ăn cơm ở đâu mà cháu không nhớ có mặt cậu trong những bữa ăn gia đình. Cháu chỉ nhớ là lâu lâu cậu đem bạn bè về nhà chơi, bạn trai có, bạn gái có. Cậu kéo đàn Violon rất hay và hát hò với bạn bè. Những bản nhạc cháu nghe rất thích mà nay vẫn còn nhớ như bài “Tiếng còi trong sương đêm”, “Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa !”, “Tôi yêu xóm nghèo”, “Làng tôi” … toàn là những bài có lẽ hợp với tâm trạng của cậu ! (Những bài này cha cũng hay hát và kéo violon)
Cậu thường quan tâm và khuyến khích việc học hành nên thỉnh thoảng có cơ hội đặc biệt như học giỏi, thi đậu đều có quà của cậu, khi thì cái bút lúc thì sách vở. Lúc cháu đi tu vào năm 1964 cậu tặng cháu quyển sách lễ Misa có mạ vàng. Rồi lúc cậu đi tu nghiệp ở Mỹ về, phần của cậu cho cháu là một cái vali mà cháu vẫn giữ đến ngày nay chỉ để ghi nhớ kỷ niệm về cậu mặc dù quá lâu năm, nó đã bị bung ra cả.
Cuộc đời của cậu, vì hoàn cảnh, di cư vào Nam lúc còn trẻ tuổi, xa mái ấm gia đình, long đong lận đận, bôn ba giữa chợ đời, phải tự bươi chải và xây dựng lấy cuộc đời. Chắc không đơn giản với cậu chút nào !
Cháu không nhớ rõ cụ thể chuyện gì nhưng cháu biết mẹ cũng phải khổ vì cậu. Mẹ bị cậu hiểu lầm và oán trách trong một thời gian khá dài !!!
Thương cậu, cháu mong muốn cho cậu được hạnh phúc bình an. Niềm mơ ước có lẽ thiết tha mà cậu bày tỏ qua việc đặt tên cho các em là Lộc, Khương, An.
Bây giờ cậu sống ở phương trời xa. Hi vọng cậu còn có cơ hội về thăm các cháu và những người thân mà có lẽ kỷ niệm còn đầy ắp trong tim.
Cậu 1986
Viết thêm về cậu
Theo những mảnh chuyện giữa cha mẹ mà anh nghe lóm được thì khi di cư vô Nam, cậu là một thanh niên vừa mới lớn. Vừa đặt chân vô trại tạm trú thì cha tìm được việc làm rất tốt với công ty trồng cao su của người Pháp nên đã đề nghị nuôi cậu đi học. Hình như cậu cảm thấy tù túng trong gia đình hay là muốn bay nhảy tự do hay là không muốn bị lệ thuộc nên cậu không đi học như lời cha đề nghị mà bỏ đi lính một thời gian (hình như là đi quân dịch). Kỷ niệm của anh về cậu vào năm 1955 – 1956 là đang ở nhà thì thấy cậu được nghỉ phép về, lúc này anh cỡ 2 tuổi rưỡi. Có người bán bong bóng màu rất đẹp đi ngang nhà nên mẹ mua cho anh một trái. Lúc đó anh đang chơi với bong bóng, tung lên rồi chạy theo đánh, vô cùng thích thú. Cậu xin chơi với anh, nhưng dành đánh một mình, anh không đụng được cái nào cả. Tức quá ! Anh đòi bong bóng lại, cậu không cho mà cứ tiếp tục chọc giận anh. Anh càng nổi điên ! Chừng một vài phút sau, cậu trả bong bóng lại cho anh thì anh ôm chặt vô bụng cho nó bể luôn. Mẹ hỏi sao con không giữ mà chơi lại làm bể, anh nói bong bóng của con mà cậu dành không cho con chơi, con tức quá !
Sau này khi nhà mình rời An lộc về Phan Thiết, cậu ăn ở trong nhà với mình và đi học trường Ngô đình Khôi (từ năm 1963 đổi tên thành trường Chính Tâm) thì anh mới đụng chạm với cậu nhiều hơn. Hình như sau khi đi lính một thời gian, cậu mới thấy bằng cấp là cần thiết nên trở lại đi học. Cậu học giỏi, phần thưởng đủ loại, nhưng cậu thi mãi mà không đậu được Tú Tài 2 để lên Đại Học nên đành phải đăng lính vô trường sĩ quan Thủ đức và gác bỏ mộng học hành lên cao hơn. Anh có đôi lần nghe cha mẹ nói về mấy chữ “học tài thi phận” để nói về trường hợp cậu. Anh đụng chạm trực tiếp với cậu là bắt đầu từ khi ở Đồng Hưu về, mẹ nói cậu dạy cho anh học, tập đọc tập viết và làm toán để đến trường vì lớn đầu rồi mà còn long nhong. Những la mắng gõ đầu, dùng thước kẻ đánh vô tay sưng vù hay đánh lên đầu ứ máu là điều xảy ra hàng ngày. Anh chỉ học với cậu vài tháng thôi, trong lúc chờ đi học lớp tư ở trường tiểu học trong Vinh Thủy. Và lúc đó, anh không có sự phản kháng hay chống đối gì, vì nghĩ đó là chuyện bình thường. Nhưng lớn hơn, bắt đầu có nhận thức, và cá tính phát triển thì anh cảm thấy bị xúc phạm và sỉ nhục vì những la mắng xối xả như vậy. Anh hoàn toàn không giận cậu khi bị đánh vì đã phá máy chụp hình, như anh đã tâm sự trong câu chuyện “Kỷ niệm không vui”, cũng không ghét cậu vì đã hung hăng đánh đập trong lúc dạy anh học khi còn nhỏ, mà sự phản kháng nó thành hình do cách đối xử của cậu đối với anh trong suốt thời gian bắt đầu hiểu biết cho đến tuổi trưởng thành.
Cậu là người sống có tình có nghĩa. Anh nhớ là vào khoảng năm 1966 – 1967, khi cậu đi tu nghiệp bên Mỹ, tuy không giàu có dư giả gì mà cậu vẫn mua quà cho từng đứa cháu một, không sót một ai, và mua cho cả cha và mẹ nữa, khệ nệ mang xách từ bên Mỹ về tới VN. Nhưng cậu cũng là tiêu biểu của một con người gia trưởng, áp đặt và độc đoán. Đối xử với người ngoài thì vô cùng lịch sự lễ phép nhã nhặn, nhưng về nhà thì quát tháo ầm ĩ với người thân. Rất quan tâm, rất thương yêu chăm sóc, nhưng vô cùng cứng nhắc và nóng nảy. Cho nên anh không thể không đồng ý với chị Tuyết hay với Phong và Trinh là cậu rất thương các cháu, nhưng anh phải nói thêm là cậu có những cách xử sự làm thương tổn anh rất nhiều.
Có một lần, khi đó cậu vừa đi tu nghiệp ở Mỹ về, từ Nha trang về thăm cha mẹ ở Phan thiết, rồi nói với cha mẹ là “anh chị cho cháu Sơn ra ở chơi với em ít hôm cho đỡ buồn”. Lúc đó đang là mùa hè. Cha mẹ nói anh đi ra sớm vài ngày rồi ghé ở với cậu trước khi vô chủng viện nhập học. Anh đi xe đò ra bến xe Phước Hải ở Nha trang rồi đi xích lô tới trại lính của cậu mà bây giờ anh không thể nhớ được nó nằm ở đâu. Một buổi sáng ngủ dậy, cậu đưa đi ăn phở. Trước khi đi cậu hỏi: “Sơn muốn ăn phở gà hay phở bò”. Anh lí nhí trả lời: “ăn chi cũng được”. Vậy là cậu hét cho một câu nghe giật bắn cả người luôn : “muốn ăn cái gì thì nói, chứ tại sao lại ăn chi cũng được là sao”. Anh hoàn toàn mất hứng. Anh rất nhạy cảm, anh thích sự nhẹ nhàng dịu dàng từ tốn, nên những cách cư xử như thế ảnh hưởng rất nhiều và rất lâu trong anh. Anh nghĩ nếu cậu không vừa ý về câu trả lời thì cứ nói là “cháu không nên trả lời như vậy vì lý do này …vì lý do kia…” thì anh sẽ nghe lọt lỗ tai mà sửa lại những lần sau.
Một lần khác vào mùa hè năm 1968. Khi ấy nhà mình đang tị nạn ở Vinh Phú trong căn nhà mình mua lại bên cạnh nhà chú Điều. Trong bữa cơm, có ai đó đang nói về nhà thương, anh mới phát biểu là “khi nghe 2 chữ nhà thương mình thấy nó có vẻ tầm thường mà khi nói bệnh viện thì mình có cảm tưởng là to lớn hiện đại”. Cậu mắng anh xối xả rằng “ngu mà cũng nói, không biết thì im mà nghe, nhà thương Chợ Rẫy có nhỏ không”. Anh cụt hứng, ngồi im re. Phản ứng tự nhiên ngay lúc đó là anh cảm thấy mình không ra gì, là ngu dốt khờ dại nhất thế gian và mất mặt vô cùng trước mặt các em. Xét cho cùng thì đó chỉ là cảm tưởng của anh, tại sao anh không được quyền nói lên điều mình cảm nhận. Cậu lấy cơ sở gì mà nói rằng điều anh nói là sai, và điều của cậu là đúng. Mà giả như không đồng ý thì cứ trình bày một cách bình thường việc gì phải nói người khác là ngu.
Rồi một lần khác nữa … khi mình đang tị nạn bên Vinh Phú, ở bên cạnh nhà chú Điều. Đó là một buổi xế trưa, cậu lái xe jeep về dừng lại trước nhà, trên xe có chú Điều. Chú Điều bước xuống xe và đi vòng ra sau xe lấy đồ. Khi xe jeep của cậu về tới, thì anh đang đứng chơi trước nhà với Thiện, Hà, Hải và một vài đứa khác mà anh không còn nhớ tên. Cậu ngước mặt lên nhìn thấy anh thì chỉ mặt hét tướng lên một cách hung dữ rằng: “thằng Sơn, đứng trợn mắt ra mà nhìn à, ra giúp chú Điều mang đồ vô”. Anh cụp mặt riu ríu đi ra giúp chú ấy mang cái gì đó vô nhà, nhưng chú ấy nói không cần và tự động xách vô. Anh mất mặt với Thiện và mấy đứa con chú Bích vì bị nạt nộ la lối vô cớ như thế. Lúc đó anh ấm ức vô cùng, vì nghĩ rằng việc giúp đỡ là việc tự nguyện, không bao giờ có thể là một sự bắt buộc, đàng này, anh đang bị bắt buộc làm một điều mà anh không chủ động làm vì không biết. Nếu anh biết chú Điều cần thì anh cũng chạy ra, nhưng anh đâu biết là chú ấy sắp mang cái gì nặng từ ngoài xe vào, nên làm sao anh có thể tự động lon ton chạy ra xe giúp chú ấy khi xe vừa tới nơi.
Những quát tháo hùng hổ, những lời nói nặng nề … cũng có tác dụng làm chảy máu tâm hồn như những vết thương do gươm đao gây ra trên thân thể vậy thôi. Sự chống đối và mất thiện cảm của anh đối với cậu khởi từ những cách thức như thế và từ trăm ngàn tình huống khác tương tự mà trong đó có nhiều hò hét chửi mắng hơn là những phân tách thâm trầm nhẹ nhàng để anh cảm thấy mình được lắng nghe và tôn trọng, tôn trọng với tư cách là một đứa trẻ. Anh cảm thấy mình bị xúc phạm và bị coi thường, và trong một chừng mực nào đó, nó làm cho anh có khuynh hướng e dè, khép kín và mất tự tin.
Nhìn lại chặng đời đã qua, anh cảm thấy mình thật may mắn và hạnh phúc khi có cha mẹ là những người rất hiểu biết và dịu dàng, vừa chỉ dạy nhắc nhở bằng những lời khéo lời hay mà còn dùng cả đời sống mà làm gương cho các con. Chính những ân cần dịu dàng này của cha mẹ đã phần nào hóa giải những hung hăng khe khắt mà cậu đã gieo vào lòng anh trong những năm đầu đời.
Đó là kinh nghiệm của anh về cậu, rất cá nhân và hoàn toàn chủ quan. Chị Tuyết, anh Thạch, anh Phong hay chị Vân, cũng như các em về sau này, mỗi người có thể có cái nhìn khác về cậu, anh hoàn toàn chấp nhận điều đó và không hề nghĩ rằng cái nhìn của anh là đúng nhất và của người khác là sai. Dầu khác nhau về cái nhìn, về kỷ niệm hay về nhận định, cuối cùng anh vẫn nghĩ rằng gia đình mình thật may mắn khi có một người ruột thịt gần gũi là cậu bên cạnh.
Viết về cậu
Không biết Cậu ở với cha mẹ mình từ lúc nào, mình chỉ nhớ lúc mình được 8, 9 tuổi, đang học tiểu học, thì Cậu đang ở trong nhà mình. Lúc đó Cậu là sĩ quan quân đội. Ban ngày Cậu đi làm, trưa, chiều Cậu về. Mỗi khi Cậu về bước vào nhà, mình là người phải ra chào Cậu bằng tư thế quân sự (đứng nghiêm, đưa tay phải lên trán). Cậu rất nghiêm khắc, có cái quắc mắt và lên giọng rất khủng khiếp. Trong nhà đứa nào cũng sợ Cậu mặc dù Cậu không đánh đập ai. Chỉ một lần Cậu bạt tai anh Sơn vì đã phá máy ảnh của cậu. Cha mẹ cũng biết điều đó, nên lúc Cậu chuẩn bị lấy vợ mẹ có nói đại ý là tụi con sắp được ’giải thoát’ rồi. Còn nhỏ mình chưa hiểu được những thay đổi về mặt tâm sinh lý khi người ta lấy vợ, nhưng quả thật, sau khi lấy vợ, tuy vẫn ở chung trong nhà nhưng Cậu đã khác hẳn, không còn hay cáu gắt, la lối mấy đứa cháu nữa. Lúc đó, mình và chị Vân đang học chung một lớp ở bậc tiểu học. Cậu treo thưởng bằng tiền mặt (hình như 1 hoặc 2 đồng gì đó) cho đứa nào đứng nhất lớp trong tháng. Mình với chị Vân cứ thay nhau lấy tiền thưởng của Cậu.
(Vân: Khi nói đến cậu hầu như không có chuyện gì để kể vì từ khi có trí khôn (cỡ 7, 8 tuổi) thì biết là nhà mình có một người cậu mà rất nóng nảy và nghiêm khắc. Rồi khi nhà dời lên BMT, có thời gian lên cậu ở để giữ em Lộc và làm việc trong nhà. Mỗi ngày cậu đi làm hai buổi, mợ cũng đi dạy hay đi làm gì đó hai buổi, nên mọi việc trong nhà đều phải chu tất, nào là nấu cơm, giặt đồ, chùi nhà, dọn giường, tắm rửa và cho em ăn. Chiều ăn cơm xong, cậu mợ lại chở nhau đi xem phim hay giải trí đâu đó, ở nhà chị em chơi với nhau rồi đi ngủ, sáng sớm 4h30 phải dậy học bài.)
2.Hè năm 1974, đang học trong trường thì có dịch sốt thương hàn. Nhà trường cho nghỉ hè sớm, ai về nhà nấy. Nhà mình lúc đó ở cây số 5 thị xã Ban mê Thuột bên cạnh nhà Cậu. Về nhà được một thời gian thì mình bị sốt. Mẹ cho uống thuốc nhưng không bớt mà ngày càng nặng thêm. Cả nhà lo đi làm ngoài rẫy, một mình mình nằm chèo queo trên gác với cơn sốt hành hạ. Mấy ngày sau mình không biết gì nữa. Sau này nghe kể lại mình đã lên cơn mê sảng, chui xuống gầm giường và nói năng lung tung. May thay, đến lúc đó cậu sang thăm và quyết định phải đưa mình đi bệnh viện gấp.Trong trí nhớ mình còn ghi lại đến tận bây giờ là lúc mình ngồi trên chiếc xe jeep để cậu chở từ nhà ở cây số 5 lên bệnh viện Ban Mê Thuột và sau đó thì không biết gì nữa. (Thạch: Phong nằm nhà thương vì thương hàn: cậu Trực vào nhà thương quát tháo là đúng nhưng cậu Phan mới là người đưa tới bệnh viện, bằng xe Honda. Cũng sẽ thuật lại dưới vai trò người chăm sóc.)
Lúc đó mình đang nằm mê man trên giường bệnh, nghe tiếng ồn ào thì tỉnh lại. Một cảnh tượng còn lưu lại đến bây giờ là cảnh cậu, mặc trên người bộ quân phục sĩ quan, đang quát tháo những cô y tá trong bệnh viện. Thì ra, sau khi được nhập viện, mình đã bị bỏ mặc cả một hai ngày, không được ai thăm khám. Sau khi bị la mắng và nhờ cái uy của một sĩ quan quân đội trong thời chiến, mình mới được nhân viên bệnh viện chữa trị và hai ngày sau thì tỉnh lại. Nếu không có cậu có lẽ bây giờ mình không còn được ngồi đây để viết lại những dòng này. (Trinh: Anh Phong ơi ! có lẽ phải vật lộn với bạo bệnh nên anh thấy thời gian một buổi dài như là một hai ngày vậy. Với cá tính của cậu thì chẳng có đứa cháu nào ưa cả nhưng cậu lại rất quan tâm và lo lắng cho các cháu. Em chắc là cậu không để anh nằm lâu hơn một buồi mà không tới thăm , một buổi cũng đủ để cậu tức giận rồi , chứ lâu hơn nữa thì không biết cơn thịnh nộ nó còn tới đâu)
3.Mình là đứa nhát gan, sợ bị đòn, nên hầu hết những lần bị đòn (từ khi có trí khôn) mình đều nhớ rất rõ. Ngay cả khi người khác bị đòn mình cũng không thể quên. Vào khoảng năm 1967, ở Việt Nam máy chụp hình (loại cơ chứ chưa có loại kỹ thuật số) là một vật dụng giá trị cao, rất hiếm, không phải ai thích cũng có thể dễ dàng mua được một chiếc như bây giờ. Cậu có một chiếc như vậy. Thỉnh thoảng, cậu lấy ra chụp một vài kiểu. Vào một buổi sáng, lúc đó ở nhà không có người lớn, chỉ có mấy anh chị em ở nhà, anh Sơn đã mở tủ, lấy máy ảnh của Cậu để chụp hình cho mấy đứa em. Anh Sơn lúc đó đã đi học ở Nha Trang nhưng đang trong kỳ nghỉ hè hay nghỉ tết gì đó. Mấy đứa em hồ hởi, đứng ngồi làm kiểu để anh Sơn nháy cho mỗi đứa một ‘pô’,vui vô cùng. Không ai ngờ rằng trò chơi này mang lại một ‘tai họa’. Sáng hôm ấy, ngày chúa nhật, sau khi đi lễ về, Cậu lấy máy chụp hình ra để chụp vài kiểu kỷ niệm cho cả nhà trước khi anh Sơn trở về lại chủng viện sau kỳ nghỉ. Mọi người đang đứng xếp hàng chuẩn bị cho Cậu chụp thì Cậu phát hiện ra có người đã lấy máy sử dụng trước đó. Cậu cho rằng ai đó đã làm cháy hết phim trong máy (không biết có thực như vậy không vì nếu anh Sơn không tháo máy ra thì không thể cháy phim được). Cậu nổi cơn thịnh nộ, quát lên. Đứa nào cũng đứng im phăng phắc nhưng Cậu biết chắc ai là ‘thủ phạm’. Thế là anh Sơn bị ăn bạt tai ngay tại chỗ, trước mặt mọi người. Cha mẹ có lẽ cũng đau lắm nhưng không thể nói câu nào để biện hộ cho lỗi của con mình. Mình không nằm trong hoàn cảnh của anh Sơn để hiểu hết được những lý do anh không thích Cậu nhưng sau đó khi anh Sơn về nhà trong các kỳ nghỉ mình nhận ra anh Sơn vẫn rất giận Cậu qua những câu trò chuyện với anh Thạch (vì lúc đó mình còn quá nhỏ để anh Sơn có thể chia sẻ những chuyện như vậy). Một cụm từ mà mình vẫn thường nghe anh Sơn nói lúc bấy giờ là :‘cóc cần của Cậu’ để thể hiện sự chống đối của mình.
Kho báu tìm được
“Gieo trồng trong nước mắt, gặt hái trong vui mừng !”(Tv.126,6)
Nếu đem so sánh con đường đời đã trải qua của các anh chị em trong gia đình thì có thể nói là Giang gặp lận đận duyên tình nhất nhà. Thế nhưng, nhờ ơn Chúa, Giang đã kinh qua cái quá khứ đau thương và thất bại của mình một cách tuyệt vời can đảm. Một kinh nghiệm, một ân huệ vô cùng đặc biệt và quý báu !!! mà ngay cả những nhà tu hành, chưa chắc gì mọi người đều gặp được kho báu ấy trên cuộc lữ hành trần gian này.
Thiếu gì người gặp ngang trái bất hạnh trong cuộc sống, nhưng thường khi họ bị sức mạnh của bão tố cuộc đời tàn phá, lôi cuốn vào dòng xoáy đau thương, có khi đưa đến tự huỷ hoại cuộc đời chính mình và người khác. Đau khổ chập chùng !! Còn Giang đã được ân sủng Chúa nâng đỡ và biết “biến sầu thương thành an ủi mừng vui” bằng chính đức tin của một người tin vào Chúa. Vì đầy quyền năng nên “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Roma 8,28). Quả thật, nếu ta dám tin vào Chúa thì Ngài có thể biến đổi mọi sự, cho dù là bất hạnh, nên ích lợi cho ta.
Chị cảm được Giang đang sống hạnh phúc với tất cả con tim và khối óc của mình. Sống triển nở, sống ích lợi, sống yêu thương. Không có nghĩa là Giang không còn gặp khó khăn, không còn phải phấn đấu. Nếu dùng một hình ảnh để mô tả thì có thể nói Giang là người đã khám phá ra kho tàng của đời mình : kho báu NƯỚC TRỜI. Giang đã nhận ra được khuôn mặt của tình yêu, khuôn mặt của hạnh phúc ; đã “ngộ” ra được chân lý vĩnh cửu. Kho tàng ấy, niềm hạnh phúc ấy bây giờ không ai có thể cướp mất được nữa.. Đó là Hạnh Phúc thật, là chính CHÚA chứ không phải là những ảo ảnh phù vân chóng qua mau tàn ở trần gian này. Từ đây “không chi có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa thể hiện nơi đức Kitô, Chúa chúng ta” (Rm.8,39).
Qua đau khổ và thử thách Giang đã nghiệm ra được lẽ mầu nhiệm của tình yêu, của sự sống thật. Đã hiểu được cái nghịch lý của “chết để được sống”, đã được biến đổi, được giải thoát, được đi trên con đường mới, con đường CHÂN LÝ. Từ đây cuộc sống của Giang, bất cứ ở đâu và làm việc gì, đều là đón nhận tình yêu và trao ban tình yêu, là “Tôi sống nhưng không phải tôi mà là chính đức Kitô sống trong tôi.” (Gl. 2, 20)
Theo chị thì sự việc xảy ra nơi Giang là do một sự phối hợp đồng bộ giữa ba yếu tố : hồng ân của Thiên Chúa, lời cầu nguyện tha thiết và sự hợp tác đầy thiện chí của chính bản thân. Chị muốn nói thêm ở đây vai trò của lời cầu nguyện trung thành và hi sinh âm thầm của cha mẹ cho Giang đặc biệt trong thời gian bão tố đã qua. Quả đúng thật lời Chúa hứa “hãy xin thì sẽ được”. Chắc chắn như Giang đã nói, hoa trái cuộc đời hôm nay của Giang hẳn là một phần công lao mà cha mẹ đã gieo vãi và âm thầm vun xới.
Chị hết lòng chia vui và tạ ơn Thiên Chúa với Giang. Niềm hạnh phúc của Giang cũng là để sẻ chia cho cả gia đình giòng tộc và mọi người thân quen. Lãnh nhận là để trao ban. Cầu mong cho ơn huệ cuộc đời Giang tiếp tục sinh trái đơm bông « để Thiên Chúa Cha được tôn vinh » (x.Ga15,8) và con người đươc hạnh phúc.
Tìm kiếm mình, tìm kiếm Chúa
Có người đồng tình thì khen sống như vậy là thăng bằng, là bình an. Nhưng với những ai có tính bộc trực và mạnh mẽ thì họ lại cho mình là người an phận, thiếu cầu tiến và không biết đấu tranh để mà vươn lên. Tất cả những nhận xét như thế đều đúng nhưng có lẽ đúng hơn nữa nếu gọi đó là sống theo con đường tìm kiếm mình. Với quan điểm là:Tôi biết những gì tôi làm là tốt, tôi muốn làm như thế và không cần biết người khác phản ứng như thế nào vì tôi biết tôi không làm hại ai cả. Trên con đường ấy, tôi thấy mình chẳng có tội tình gì, vả lại cũng đâu phải dễ để sống được như thế, tôi cũng phải nhịn nhục phải hy sinh biết bao nhiêu... Quả thật, sự lương thiện cũng có thể cám dỗ mình đến chỗ kiêu căng, đến nỗi cho rằng mình luôn đúng. Thà cô đơn im lặng với cách sống tốt đẹp của mình hơn là mất công mua lòng thiên hạ.
Nhưng đến một ngày em đã thất bại trên con đường đó khi chịu sự cọ xát giữa các giá trị trong một gia đình nhỏ, chỉ có hai người. Khi đã thất bại trong việc vận dụng hết khả năng mà mình từng xem là giá trị nhất, cuối cùng em phải đối diện với cuộc sống bế tắc và bị bắt buộc phải từ bỏ con đường cũ. Điều bất hạnh xảy đến, ban đầu nó làm cho mọi thứ trước mắt trở nên mờ mịt, khiến cho mình cảm thấy thua thiệt và mất mát. Nhưng với thời gian, nó cho mình thấy rằng chính mình đã sai từ lâu - khi mà mình luôn tự đề cao bản thân, muốn người kia phải hiểu mình. Nhưng may mắn thay, chính sự mất mát cho em hiểu được nghịch lý: “muốn sống thì phải chết đi”. Có một sức mạnh ở trên đã làm biến đổi, nó là kết quả của một quá trình dài, không biết từ bao giờ, liên đới giữa ân sủng mình được ban tặng và tội lỗi mà mình đã phạm. Nó chặn đứng và làm lệch con đường mình đang bước đi. Lúc ấy, một việc tự nhiên cần phải làm là DỪNG LẠI, dừng lại tất cả những hành động, những thói quen. Phải suy nghĩ lại, phải sống bằng một cách khác. Một lần ngã là một lần bớt dại. Nếu nhìn bằng con mắt đức tin thì sẽ thấy rằng Chúa cho phép những thất bại xảy đến cũng mong ích lợi lớn hơn cho con cái của Ngài. Trong một dòng tu nọ, người ta đã xác tín rằng: bất cứ lỗi lầm nào của mình, bất cứ khó khăn nào xảy đến, mỗi người trong anh em vẫn có thể đạt được điều mình tìm kiếm, miễn là anh em kiên nhẫn tìm kiếm và khám phá Thiên Chúa. Bất hạnh còn là cơ hội giúp mình hồi tâm và chiến thắng những ảo tưởng cho rằng có thể sống mà không cần sự trợ giúp của Chúa và tha nhân. Và thất bại cũng là dịp để mình thừa nhận tình cảnh đáng thương của mình.
Rồi cũng không phải đợi lâu, trong những ngày tháng mà rối ren nó vận vào mình thì em mới thấy câu Thánh Kinh mà cha hay đọc ngày xưa trở nên thực tế hơn bao giờ hết. “Vác thập giá” là một cuộc chiến đấu từng giây từng phút để tìm kiếm những giá trị và phải mang những giá trị ấy đến cho người khác một cách nghiêm túc, chứ không phải đơn giản như mình đã từng nghĩ, là im lặng và nhẫn nhục cho xong. (Sơn: cảm nghiệm đức tin và những ý niệm tôn giáo của mình biến đổi và lớn lên theo sự trưởng thành về nhận thức và kiến thức của mỗi người. Đọc những lời tâm tình này, anh nhận ra nơi Giang có một thao thức tìm kiếm liên lỉ, có một đời sống nội tâm sâu xa, và nhờ thế, qua những thăng trầm, em đã tìm ra ánh sáng cho nỗi niềm thao thức về “thập giá” của em lúc còn nhỏ. Anh rất thích cách em nhìn nhận và sống thập giá vào tuổi ngoài 30, vì nó có tính cách hiện sinh và vô cùng thực tế cho cuộc sống của em. Phải rồi ! Thánh giá là những mặt trái, là những khía cạnh gồ ghề thô nhám của thân phận người trên đường tìm đến Thiên Chúa. Bao lâu mình chưa về tới Quê Trời, thì thánh giá vẫn còn đeo đẳng trên vai, cho nên em xem nó như một “cuộc chiến đấu từng giây từng phút” thật là chí lý). Việc “tìm kiếm” và “mang lại” này lại được thực hiện với một bản tính người yếu đuối và ích kỷ, do đó, “bỏ mình” cũng lại là một cuộc chiến đấu thường xuyên.
Đây là khởi đầu cho nhiều thay đổi, từ chỗ bị thay đổi, em cảm thấy mình “được” thay đổi và “được” bước đi trên con đường mới: biết bỏ mình trước hết là biết cần người khác, cuộc đời chẳng hề thiếu cơ hội cho mình chia sẻ, đối thoại và liên đới với mọi người. Được bước đi trên con đường mới, thực ra là mới trong tâm trí, trong cách suy nghĩ, thì bất cứ ở nơi đâu, làm việc gì nó đều gắn chặt vào mối tương quan giữa Đấng tạo hóa và con người. Một động tác làm dấu đơn giản mà hàng ngày vẫn dùng để tuyên xưng mầu nhiệm nhập thể, nhân danh ba ngôi trên chính thân thể của mình cũng đã đem lại nhiều tâm tình khác. Tìm kiếm bao giờ cũng mang lại niềm vui, tìm kiếm sự sống gắn liền với tình yêu trong đó lại còn hấp dẫn hơn nhiều. Em cảm thấy mình may mắn vô cùng khi biết mình có bao nhiêu cơ hội để sống, để làm việc, để giúp đỡ và để hưởng mọi thứ bằng con người mình mà không chỉ cho mình. Đó là hạnh phúc rất lớn.
Như cách anh Sơn ví von, việc kể lại những kinh nghiệm cá nhân như thế này thì giống như mình đang dắt nhau đi vào những con đường mòn bé nhỏ đời mình, để mọi người biết thông cảm và yêu thương nhau hơn. Kinh nghiệm về sự thất bại chắc chắn nó không đẹp đẽ và thơ mộng như những kỷ niệm thời ấu thơ nhưng nó lại cho thấy niềm vui của sự cảm nghiệm về một tình yêu cao cả, bao trùm lên cuộc sống của chính mình, hoàn toàn miễn phí. Tình yêu đó phải được sử dụng thật hiệu quả để đem lại sự sống cho mình và mọi người. Ai sống trong tình yêu đó thì luôn thấy mình bé nhỏ, yếu đuối và đầy hạn chế nhưng cũng cảm thấy mình tự do và luôn đồng trách nhiệm với người khác trong mọi công việc.
Phải công nhận rằng, trải qua mỗi chặng đường mình đi, mỗi con người mình gặp gỡ, dù tốt hay xấu cuối cùng đều mang lại những ích lợi cho mình. Ích lợi to lớn nhất đối với em có lẽ là ... mối phúc số 3. Nghiệm lại bản thân em thấy cách sống của mình cũng có những nét tương đồng với nhận xét của anh Thạch khi đề cập đến việc các cháu được thừa hưởng cách cư xử rộng lượng, không tranh chấp, ganh tị nhau. Đó là một yếu tố thuận lợi để cho mình biết tự giải thoát mình, trước hết là thoát khỏi những ích kỷ nhỏ mọn, hơn nữa nó cũng giúp giải thoát mình khỏi những cám dỗ về những lợi danh tầm thường trước mắt.
Cha mẹ có lẽ không thể nhìn thấy hết những hoa trái đã nảy sinh trên thân cây mỗi đứa con mà Chúa đã giao phó cho cha mẹ vun trồng, nhưng qua đây, cha mẹ sẽ được chia sẻ cảm nghiệm bằng một hình ảnh khác, đó là công sức rao truyền tin mừng sự sống của mình hệt như những hạt cải được gieo vãi khắp nơi. Với cách giáo dục có phần nghiêm nhặt của cha, những thành viên trong gia đình ít nhiều đều bị tổn thương ở một khía cạnh nào đó, nhưng cũng không nên chắc chắn rằng nếu hoàn cảnh khác đi thì (mọi chuyện) đời mình sẽ tốt hơn. Cha mẹ đã làm mọi cách để hướng con cái về người Cha thật ở trên trời, đánh thức bản năng tôn giáo để tất cả đều được giải thoát nhờ biết vác thập giá theo Chúa, biết sống yêu thương và biết tìm kiếm những điều tốt đẹp.
13/4/10
Quá chén
(Trinh: Em nghĩ không phải chỉ có anh bị giới hạn mà chị Tuyết cũng vậy vì mới đây em có nghe mẹ phàn nàn cha về việc đó nhưng mà với chị Tuyết chứ không phải với anh. Khi em đã có trí khôn thì không còn thấy chuyện giới hạn ăn nữa mà em lại bị ngược lại đó là ăn không hết phần cơm mẹ đã lấy cho và bị gọi là hay bỏ mứa , em rất khổ sở vì chuyện này , có lần em định giải quyết cơm thừa bằng cách chôn dưới cát nhưng chị Vân nói không được làm vậy , chôn cơm là có tội. Thế là em lại phải rón rén mang chén cơm thừa vào nhà và hên lắm thì mới không bị la rầy. Em nhớ có lần anh Sơn dọa em là ăn không hết thì anh sẽ đè cổ ra tống vào miệng cho khi nào hết thì thôi , anh Sơn ngày xưa thích dọa con nít lắm. Em không đồng ý với anh là con nít thì tham ăn và không bao nhiêu là đủ vì một đứa trẻ bình thường (không bệnh tật ) khi đang muốn ăn tức là chưa đủ , khi đã đủ thì nó sẽ không ăn nữa).
Giấc ngủ bên nồi cơm khê...
Ở Vinh Thuỷ, lúc nhà mình còn đối diện với lao xá. Mẹ bận làm gì không biết, có lẽ mắc lo cho em hay bán cây …gì đó. Nên chị bắc nước nấu cơm. Nhà mình lúc ấy nấu cơm bằng lò than. Bắc nồi cơm lên đó rồi, không biết tại “lơ đễnh lơ đàng” mải lo chơi ở một góc nào đó quên đi mất, hay cơm cạn rồi để than nhiều quá, chị không nhớ nữa ! Nhưng khi cha biết được thì nồi cơm đã cháy khét cả rồi. Khét đến nỗi lớp khét dày lên đến bề mặt. Chị hoảng hồn hoảng vía ! Thế là chuẩn bị tâm hồn và thể xác để đón nhận “hình phạt”, không biết phải bao nhiêu roi đây !!!
Các em biết không, lần này có lẽ chị đã lớn hơn trước, hoặc vì cha cảm thấy bất lực không biết phải dùng lời lẽ nào để nói năng dạy dỗ con hay sao, mà cha cho chị một hình phạt “đặc biệt” nhớ đời ! Cha để nồi cơm khét dưới đất trong bếp và bảo chị : “nằm xuống đó, nhìn nồi cơm, ngửi mùi khê mà gẫm suy điều quấy đã làm !” Thế là chị vâng lời, nằm sấp xuống đất , ngóc đầu ngắm nồi cơm khê. . . ! Sau đó cha bận làm gì đó nên bỏ đi và quên khuấy đi mất ! Chị nằm đó, “suy gẫm” cái gì và được bao lâu thì không biết. Chỉ biết là hồi lâu, khi cha trở lại thì thấy chị ngủ ngon lành bên nồi cơm ! Sau đó tiếp diễn thế nào chị không nhớ nữa, chắc chắn là phải cạo và chùi nồi thôi. (Thạch : Em cũng nhớ chuyện này, lúc đó cha kéo xệch chị Tuyết bắt nằm trên cái lán trong căn nhà lá bán cây, nồi cơm khê ngay trước mặt)
Nhưng điều đáng nói hơn là sau khi chị đi tu rồi, có lần cha viết thư cho chị và nhắc lại câu chuyện ấy. Cha đã xin lỗi chị vì thấy cách cư xử đó hơi nghiêm khắc quá đối với chị.
Đúng là cha có hơi nghiêm khắc đối vối đứa con 8 - 9 tuổi gì đó còn ham chơi. Nhưng chính nhờ sự nghiêm khắc của cha mà sau này chị dễ dàng thích nghi với đời tu vốn có nhiều bó buộc. Nhờ đó chị quen với việc kềm chế bản thân. Tự nhiên ai cũng thích tự do thoải mái muốn làm gì thì làm, không ai thích bị ràng buộc vào kỷ luật. Thế nhưng chính kỷ luật rèn luyện con người, giúp kềm hãm những cái quá đáng như cái phanh (cái thắng) cần thiết cho một chiếc xe. Thử hỏi một chiếc xe Honda hay xe hơi mà không có thắng thì tai hại thế nào ?
Cám ơn cha đã giúp cho con nên người !
(Nguyên : Đọc câu chuyện và những suy nghĩ của chị , em thấy đúng vào hoàn cảnh của mình. Cũng bị đòn roi, sau khi suy nghĩ lại cha cũng xin lỗi khi nhận ra mình quá nghiêm khắc với con cái. Em cũng đồng ý với chị về những hiệu quả mà sự nghiêm khắc của cha đã mang lại cho bản thân mình. Thậm chí đối với con cái hiện nay em cũng rất nghiêm khắc. Song nhìn lại cuộc sống , em thấy có một điều gì đó không ổn và cần thay đổi. Nghiệm lại đời mình , em thấy tuổi thơ không trọn vẹn, lúc nào cũng sợ sệt lo lắng , thiếu tự tin mà lại nhiều mặc cảm về thiếu xót, tội lỗi. Sống cam chịu , rất ngại đấu tranh , va chạm. Những điều này theo em đi tu thì rất tốt chứ vào đời thì thiệt thòi quá , em đang muốn thay đổi với các con , chị thấy có nên không …? )
(Chị Tuyết đặc biệt trả lời Nguyên : Mỗi sự kiện có nhiều khía cạnh khác nhau. Chị viết bài này không nhằm mục đích bàn luận rộng rãi về vấn đề giáo dục, càng không có ý đề cao lối giáo dục của cha. Chị chỉ muốn nói lên một khía cạnh tốt mà chị cảm nhận nơi cha khi so sánh với những chủ gia đình khác, là cha luôn quan tâm làm gương sáng và dạy bảo con cái nên người ; nhất là về gương sáng đời sống đức tin của người làm con Chúa.
Thêm vào đó, cha biết mình giới hạn, khiêm tốn dám chấp nhận sự thật là mình có những sai sót, ngay cả với con của mình, dù là mình hành động vì thương nó nhưng cũng có nóng nảy ! Một điều mà chị nghĩ không phải ai cũng ý thức và làm được như vậy.
Ngoài ra cha có một lý tưởng sống mà cha nghĩ là tốt và cha muốn cho con cái cũng được tốt như vậy. Mặc dù trong thực tế nó có vẻ không phù hợp cho lắm với đại đa số người. Nhưng cha có cái lý của cha và bao lâu đứa con đang ở trong vòng ảnh hưởng gia đình thì cha đều áp dụng như vậy. Ngoài ra thì cha cũng có những khuyết điểm như bao con người khác, đó là chuyện bình thường.
Mỗi thời đại có những phương cách giáo dục khác nhau. Nó thay đổi tuỳ theo những biến đổi xã hội và cái nhìn về cuộc sống, về tâm lý của con người qua dòng thời gian. Mỗi phương pháp chắc chắn đều có những cái hay và cái dở của nó. Lại còn tuỳ theo cá tính của người giáo dục nữa. Do đó em đặt vấn đề về vấn đề thay đổi cách giáo dục là phải thôi
Kiểu giáo dục thời đại của cha là « Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi ». Có thể là cách giáo dục của cha có những điểm không phù hợp với tâm lý. Tuy nhiên, theo chị nghĩ, cảm nhận mà Nguyên đã trải qua như sợ sệt lo lắng thiếu tự tin, cam chịu, ngại đấu tranh, không hoàn toàn do hậu quả của một phương pháp giáo dục, mà có thể còn do bản chất riêng của mỗi người. (Có thể các anh sẽ soi sáng thêm về việc này nếu muốn bàn luận rộng hơn.) Nhưng phần chị, dù là bị « kềm kẹp » gò bó và phải vâng lời, chị vẫn cảm thấy tuổi thơ của mình rất hạnh phúc trong một gia đình đầm ấm yêu thương giữa cha mẹ và các em. Hơn nữa, một điều mà chị thấy rõ rệt đó là khi sống xa gia đình chị cảm nghiệm hơn tình yêu thương và sự hi sinh của cha mẹ đối với mình và thấy thương cha mẹ nhiều hơn !
Chị nghĩ rằng giáo dục là phải giáo dục mỗi con người riêng biệt, tuỳ theo cá tính và bản chất. Cũng như em không thể đối xử với những đứa con em hoàn toàn giống nhau vì mỗi đứa có một cá tính khác biệt. Có đứa cần phải cứng cỏi cương quyết nhưng ngược lại có đứa cần phải mềm dẻo mới thuyết phục được. Còn chuyện đi tu hay ở đời thì điều căn bản cũng là rèn luyện về nhân cách con người, cho nên chị thấy không có gì dính dáng đến hình thức giáo dục cả.
Trách nhiệm giáo dục con cái là một công việc hệ trọng và cao quý. Một công việc theo chị, đòi hỏi rất nhiều thời giờ và nỗ lực. Cần dành thời giờ để sống gần gũi, quan sát, tìm hiểu, đối thoại chơi đùa với con, để hiểu biết thông cảm và biết cách ứng xử thích hợp. Hơn nữa, trước khi giáo dục con cha mẹ cần phải rèn luyện con người mình tương đối là mẫu mực để nên gương sáng cho con.
Một điều cần thiết nữa là cần có ơn Chúa qua việc cầu nguyện và sống đời Kitô hữu. Chúa giao cho ta trách nhiệm sinh con và lo cho con nên người thì chắc chắn Chúa sẽ ban ơn để ta chu toàn bổn phận của mình.
Nhiều khi phải cân nhắc lợi hại hơn thiệt và phải biết giới hạn đến mức nào là vừa phải.. Chẳng hạn như ai cũng muốn lo lắng về vật chất để con mình không phải thiếu thốn không phải thua thiệt với người ta ; điều đó là tốt, nhưng không biết có phải là tốt nhất hay không, khi gánh nặng về vật chất có thể choán mất phần của tinh thần ?
Chị thấy có nhiều người thành công trong cuộc sống lại thường phát xuất từ những hoàn cảnh khó khăn !!! Nhiều khi « Cái khó ló cái khôn » là vậy và mọi sự trên đời này chỉ là tương đối mà thôi ! Duy có Chúa và tình yêu Chúa là sự thật tuyệt đối và giới răn Người là nơi mình phải dựa vào để làm tiêu chuẩn hành động thì mới không sợ bị sai lầm.
Nguyên ạ, với tư cách và kinh nghiệm của người tu trì, không có con cái, thì chị suy nghĩ và chia sẻ với em như vây. Có lẽ những anh chị em khác có kinh nghiệm trong đời sống gia đình sẽ có những ý kiến khác bổ ích hơn.)
(Quang: Em thấy tội nghiệp chị quá à! Sau này cha cũng nghiêm khắc nhưng không thường dùng những hình phạt nặng như vậy nữa. Có lần em cũng nấu cơm bị cháy đen luôn, em không nhớ rõ nguyên nhân nhưng hình như là em đang nấu cơm thì buồn ngủ quá nên nằm ngủ tại bếp luôn, đến khi mẹ hay ai phát hiện cơm cháy em không nhớ rõ, nhưng có điều cũng không có hình phạt hay la mắng gì trong trường hợp đó cả).
Tuổi thơ ở đồn điền Quản Lợi
Lúc ở Quản Lợi chị đã được đi học. Lúc đó cha dắt chị đến học trường các sơ dòng gì chị không biết. Khi đi học thì học trò tụ lại ở một điểm rồi xe lại rước từng nhóm. Chị nhớ lúc đó cái cặp của chị nó như cái hộp sắt có sơn màu. Không biết chị đi học được bao lâu nhưng chị nhớ cứ mỗi ngày thứ năm là phải xếp hàng uống thuốc Kí ninh để phòng ngừa sốt rét. Mỗi lần như vậy mẹ cho chị tiền để mua bánh hoắc kẹo ngậm sau khi uống thuốc cho bớt đắng miệng. Chị để dành tiền mua bánh quy đem về cho em (lúc này chỉ có một em là Sơn). (Sơn : em còn nhớ chuyện chị đi học mang bánh về cho em những ngày chị uống thuốc ký ninh. Những ngày đó em rất mong chị về sớm, nhưng khái niệm ngày thứ năm thì hoàn toàn không có, vì ngày nào cũng giống như ngày nào và đều rất dài).
Chị không nhớ mình học trong bao lâu và dường như không có bạn bè nào cả. Chỉ nhớ có lúc đi học vào mùa lạnh, mẹ cho chị mặc một cái áo viện trợ dày mà cái ve áo trên cổ được kết bằng một lớp gì có dạng xồm xồm như lông cừu vậy. Chị thấy mình không giống ai cả nên xấu hổ quá chừng, giờ chơi chui vào trong góc kẹt đứng. Thật là con nít !!!
Chị học trong trường các xơ. Trường và sân trường rất lớn? Có những học trò được cha mẹ đưa đón bằng xe hơi. Lúc nhỏ có lẽ vì bị cha giữ kín quá không có cơ hội tiếp xúc nên chị rất nhút nhát, ứng xử vụng về. Chị nhớ một lần học với một xơ, vào giờ toán, phải có đũa để đếm. Chị không biết tính hoặc nói gì sai nên xấu hổ để tay lên miệng. Bà xơ ấy nói là « có muốn bú mẹ thì về nhà mà bú ! » Ôi chị cảm thấy xấu hổ bối rối và mất tự tin quá chừng. Hình ảnh đầu tiên về bà sơ đối với chị không tốt đẹp gì cả. May mà sau này khi đi tu chị không nhớ gì đến chuyện ấy cả !
Ở trường thì khù khờ vậy nhưng về nhà thì không ! Trước khi đi làm nhà cha thường hay ra toán cho chị làm. Và hẳn cha phải hài lòng vì chị làm toán cong trừ nhân chia rất giỏi!
(Sơn : Chị rất giỏi, em nghĩ chị là người học giỏi nhất nhà. Không những giỏi toán mà chị còn vẽ đẹp nữa. Khi chị đi học lớp đệ thất ở trường Chính tâm, chị đã vẽ những con sư tử hay con cọp bằng phấn trên bảng một cách tài tình mà em không thể bắt chước được. Sau này, chị đã thi đậu Trung Học hay đậu Tú Tài hạng Ưu hay Tối Ưu gì đó, tức là đạt số điểm rất rất cao).
Ngoài ra cha cũng dạy mẹ học và tập xe đạp cho mẹ nữa.
Lúc Hùng mất mẹ khóc nhiều lắm vì Hùng rất khôn và ngoan. Cha phải dỗ mẹ mãi mẹ mới chịu nín ! (Sơn : Em là đứa trẻ phát triển chậm. Khi Hùng chết, dầu đã hơn 2 tuổi rồi mà em chưa biết buồn biết sợ gì cả, rất thoải mái đi theo cha và chú Điều vô nhà xác. Em nhớ cứ mỗi sáng thức dậy là mẹ vừa đọc kinh vừa khóc vì nhớ con, hình như buổi sáng là lúc Hùng dậy chơi với mẹ và bú, bây giờ cũng buổi sáng mà không còn Hùng nữa nên làm mẹ nhớ nhiều hơn. Lúc đó em vừa nằm ngủ, vừa nghe mẹ khóc ấm ức, vừa nghe cha nói mẹ « nín đi »).
Ngày em mất chị cũng thương nhớ em lắm nhưng xấu hổ không dám khóc « công khai » bèn chui vào cánh cửa mà khóc rồi chùi nước mắt ngay.
Không biết có phải vì Hùng mất cha mẹ buồn mà có ý định dời cư hay không ? Chị cũng như anh Sơn, tuy không nói ra nhưng trong lòng cảm thấy buồn vô cùng khi phải ra đi. Lúc đó chị suy tính là sẽ lượm những chiếc lá cây, rồi ngày ra đi sẽ rải nơi mỗi nhà một chiếc lá để làm kỷ niệm ! Sau này khi rời Vinh Thuỷ để lên sống ở Banmêthuột chị cũng có cảm giác buồn nhớ như vậy.
Chị cũng nhớ là lúc nhỏ mấy chị em cũng thường bị đánh đòn. Sơn thì thường bị rầy nhiều hơn. Nhiều khi có tội chọc chị. Có một lần ở Quản Lợi, Sơn kể chuyện cho chị nghe, kể chuyện đấm đá gì đó không biết mà Sơn hứng lên lấy tay lụi vào bụng chị. Chị ôm bụng khóc, thế là Sơn bị cha nạt cho ! Có những lúc cả hai chị em bị đòn. Chị không nhớ có tội gì cụ thể nữa nhưng cách chung là tội không vâng lời. Mỗi lần như thế cha bắt lên giường nằm xuống chờ cha đến kể tội … Kể một lát thì cha phán quyết rằng : cha đánh cho 3 (hoặc 5) roi mà chừa, nhớ không được phạm nữa nghe không ? Đánh xong thì quỳ lên vừa khóc vừa xin lỗi không dám phạm nữa. Những lần có tội gì đáng bị đòn thì điệp khúc thường nghe cha nói là : “Thật cha đã hết lời, không còn biết nói gì mà dạy dỗ các con nữa ..!”
Lúc còn nhỏ chị hay có tật mà cha mẹ thường gọi là “lơ đễnh lơ đàng”. Cái tật mà đáng lẽ chị cả trong nhà không nên có ! Chị nhớ có lần mẹ đưa vào Sài Gòn, ở nhà của Dượng Tuyết và o Thiệp ở Xóm Chiếu. Không nhớ là ở bao lâu nhưng chị lại được đi học. Hình như chỉ đi có mấy bữa thôi vậy mà bữa thì bỏ quên bình mực, khi thì cái mũ, bữa khác thì cây thước kẻ … Đúng là con gái mà lơ đễnh lơ đàng. May mà cái bệnh này đến sau này lớn lên nó biến mất hồi nào chẳng hay. Bây giờ muốn lơ đễnh lơ đàng mà không được !
Có nhiều chị cả trong nhà rất giỏi giang siêng năng và quán xuyến. Nhưng chị thì rất ham chơi. Khoảng từ lớp ba trở lên chị có một người bạn rất thân là chị Dần. Chị thì rất giỏi toán mà kém luận văn. Tả cảnh hay tả người, chỉ có một trang giấy mà không biết phải viết gì vào cho nó đầy ! Chị Dần thì ngược lại dở toán mà giỏi văn. Đi học trong trường Vinh Thuỷ, mong cho mau tới giờ ra chơi để chơi u chơi cò cò, búng dây thung, chơi ô chơi đũa và nhảy dây. Ở trường chơi chưa đã, về nhà vừa coi em vừa nhảy dây tiếp. Thời ấy nhà mình bán cây. Mẹ vừa lo cho con nhỏ vừa lo chợ búa nấu nướng, còn phải bán cây bán lá. Mẹ chịu không nổi phải cấm nhảy và nói rằng con gái phải thùy mị đoan trang không được nhảy như ngựa vậy. Ở nhà thì sợ mẹ không dám nhảy nữa nhưng đến trường thì vẫn cứ tha hồ mà làm ngựa
Có lẽ khoảng 6 hay 7 tuổi gì đó mà chị chưa biết nấu cơm để giúp me. Mẹ mới nói với chị là chị An con bà Thảo ở nhà bên cạnh cũng bằng tuổi con mà đã biết nấu cơm rồi. Nghe vậy chị nổi máu anh hùng lo tập nấu cơm ngay. Đến khi biết nấu tử tế rồi, hỏi lại thì chị An đâu đã biết nấu cơm đâu. Đúng là mẹ ta thật tâm lý ! Ngoài ra thỉnh thoảng, có lẽ lớn hơn một chút, chị cũng đi chợ giúp mẹ. Chị không nhớ từ nhà tới chợ Ba Làng là bao xa, nhưng thời đó đi bộ chị thấy rất xa. Có lúc mua cá, không biết lựa cá tươi, đi cà rịch cà tang về đến nhà thì cá vừa ươn hết !!!
Khi hơi lớn một chút thì cha bắt đầu tập xe đạp cho chị. Chị ngồi lên trên xe, ở phía dưới vì chưa lớn đủ để ngồi lên yên. Cha chạy theo phía sau kềm xe cho chị đạp. Khi cha vừa buông tay ra là chị té ngay hoặc lủi ngay vào bụi. Cha tập cho chị nhiều ngày, chạy theo hụt cả hơi mà chị vẫn chưa chạy được.
Sau đó cha tập cho Sơn. Sơn chưa từng tập gì cả thế mà chỉ trong có một ngày Sơn đã biết chạy và cả tập chở nữa ! Cha cột cho Sơn một cục đá to ở phía sau xe. Sơn chở tỉnh bơ ! Tức quá chị cũng nhào ra chạy và bỗng nhiên lấy được thăng bằng và biết chạy xe luôn.